Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong hệ thống bộ máy nhà nước Việt Nam được ghi nhận lần đầu tiên tại Hiến pháp năm 1959 và được cụ thể hóa bằng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 (ban hành theo Lệnh số 20-L/CTN ngày 26/7/1960 của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Trải qua tiến trình cải cách tư pháp, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tiếp tục được khẳng định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, giữ vai trò là phương thức giám sát nhánh quyền lực tư pháp nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, khách quan.

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ban hành đã mở rộng phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của VKSND (khoản 2 Điều 21) và đổi mới căn bản việc phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên (Điều 262). Tại địa bàn huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, dù VKSND cấp huyện đã có nhiều nỗ lực triển khai các quy định mới, thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự (VADS) theo thủ tục sơ thẩm vẫn gặp phải những bất cập, hạn chế nhất định. Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả Tạ Thị Tuyết Nhung thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm của VKSND.
  2. Nghiên cứu, phân tích những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành; chỉ ra các vướng mắc, sai sót trong thực tiễn kiểm sát giải quyết VADS tại TAND và VKSND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
  3. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm nói chung và tại VKSND huyện Trấn Yên nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm của VKSND.
  2. Nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm và nhận diện những hạn chế, bất cập.
  3. Khảo sát thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết VADS tại Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái; nhận diện các tồn tại trong áp dụng pháp luật.
  4. Xác định các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kiểm sát giải quyết VADS của VKSND.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm, các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật của VKSND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (trọng tâm là hoạt động phối hợp và kiểm sát giữa VKSND huyện Trấn Yên và TAND huyện Trấn Yên).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm, từ năm 2019 đến hết năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm thông thường theo quy định của BLTTDS năm 2015 và LTCVKSND năm 2014 dưới góc độ hoạt động; không nghiên cứu thủ tục rút gọn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Hệ thống văn bản pháp lý và tài liệu chuyên môn làm nền tảng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 2013;
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và năm 2014;
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013;
  • Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC;
  • Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1999).

Khóa luận kế thừa và tham khảo các công trình khoa học tiêu biểu:

  • Công trình tập thể do TS. Khuất Văn Nga chủ biên: Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp (NXB Tư pháp, 2008);
  • Sách chuyên khảo: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (TS. Bùi Thị Huyền chủ biên, 2016) và Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (PGS.TS. Trần Anh Tuấn chủ biên, 2017);
  • Các luận văn Thạc sĩ Luật học của Lê Thùy Linh (Hà Nội, 2017), Phạm Thị Hoa (Quảng Ninh, 2019), Vũ Thị Thanh Dung (Nam Định, 2022);
  • Các bài báo khoa học trên Tạp chí Kiểm sát của Nguyễn Thanh Duy (2018), Hồng Hải và Cầm Thị (2020), cùng bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học (2016).

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống, gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê số liệu thực tiễn và phương pháp liệt kê.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ hệ thống sổ thụ lý, hồ sơ kiểm sát thực tế, các thông báo thụ lý, thông báo trả lại đơn, quyết định tố tụng, bản án dân sự sơ thẩm và các văn bản kiến nghị nghiệp vụ của VKSND huyện Trấn Yên từ năm 2019 đến năm 2023.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và rà soát hệ thống quy định pháp luật thực định của Việt Nam về hoạt động kiểm sát việc giải quyết VADS sơ thẩm:

1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa lý luận:

  • Khái niệm: Kiểm sát giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm là hoạt động do VKSND thực hiện nhằm giám sát các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm; bảo đảm việc giải quyết tuân thủ đúng quy định pháp luật, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và lợi ích của Nhà nước, xã hội.
  • Đặc điểm: Là hoạt động thuộc chức năng hiến định độc quyền của VKSND; hướng tới mục đích tối thượng là bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất; mang tính nhân đạo trong bảo vệ các chủ thể yếu thế; đồng thời phải tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục luật định.
  • Ý nghĩa: Góp phần bảo vệ pháp luật, là phương thức kiểm soát quyền lực tư pháp của Tòa án, hạn chế tiêu cực và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
  • Cơ sở quy định: Bắt nguồn từ vị trí của VKS trong bộ máy nhà nước, nguyên tắc hiến định về tuân thủ pháp luật (kế thừa học thuyết của V.I. Lênin) và tính chất phức tạp của các quan hệ tranh chấp dân sự.

2. Nội dung các quy định pháp luật tố tụng dân sự:

  • Kiểm sát việc thụ lý và trả lại đơn khởi kiện: Kiểm sát thời hạn Tòa án ra thông báo thụ lý trong 03 ngày làm việc (Điều 196 BLTTDS), thời hạn xem xét đơn khởi kiện 05 ngày (khoản 3 Điều 191), thẩm quyền thụ lý (Điều 35 đến 40) và kiểm sát căn cứ trả lại đơn (Điều 192). Kiểm sát thủ tục khiếu nại, kiến nghị việc trả lại đơn theo Điều 194 với thời hạn 10 ngày làm việc.
  • Kiểm sát hồ sơ vụ án dân sự: Quy định tại Điều 58, 59 BLTTDS; Kiểm sát viên (KSV) kiểm sát toàn diện việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự (Điều 68), việc giao nộp và thu thập chứng cứ (Điều 96). Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS là 15 ngày theo Điều 220.
  • Kiểm sát các quyết định tố tụng của Tòa án:
    • Quyết định chuyển vụ án (Điều 41): VKS có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc.
    • Quyết định nhập, tách vụ án (Điều 42 kế thừa Điều 38 BLTTDS cũ): Tòa án phải gửi ngay cho VKS cùng cấp.
    • Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT - Điều 112, 139, 140): VKS kiểm sát căn cứ, thẩm quyền và có quyền kiến nghị Chánh án trong thời hạn 03 ngày làm việc.
    • Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (CNSTT - Điều 212, 246): Tòa án gửi cho VKS trong 05 ngày làm việc.
    • Quyết định tạm đình chỉ (Điều 214) và quyết định tiếp tục giải quyết vụ án (Điều 216): Thời hạn gửi cho VKS được rút ngắn từ 05 ngày xuống còn 03 ngày làm việc.
    • Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 217): Bổ sung trường hợp đương sự không nộp tạm ứng chi phí định giá, tố tụng khác hoặc yêu cầu áp dụng thời hiệu; thời hạn gửi cho VKS là 03 ngày làm việc.
    • Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220): Tòa án gửi cho VKS trong thời hạn 03 ngày làm việc.
  • Kiểm sát phiên tòa sơ thẩm:
    • Quy định 5 trường hợp VKS tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 BLTTDS và Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC: (1) Vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; (2) Tranh chấp tài sản công, lợi ích công cộng; (3) Tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (7 nhóm trường hợp cụ thể); (4) Đương sự là người chưa thành niên, mất/hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (5) Tòa án không được từ chối giải quyết vì lý do chưa có điều luật áp dụng (khoản 2 Điều 4).
    • Hoạt động của KSV tại phiên tòa: Tham gia hỏi đương sự sau cùng (Điều 240); kiểm sát việc hoãn phiên tòa (Điều 233, thời hạn không quá 01 tháng, thủ tục rút gọn không quá 15 ngày); phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án (Điều 262); kiểm tra biên bản phiên tòa (Điều 236) và kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên và kiến nghị

Chương 2 phản ánh chi tiết thực trạng công tác kiểm sát tại địa phương trên cơ sở điều kiện thực tế của địa bàn và tổ chức bộ máy:

1. Đặc điểm địa bàn và cơ cấu tổ chức VKSND huyện Trấn Yên:

  • Huyện Trấn Yên nằm ở phía Nam tỉnh Yên Bái (diện tích 629,14 km², dân số trên 84.000 người năm 2023), gồm 21 đơn vị hành chính (01 thị trấn Cổ Phúc và 20 xã theo Nghị quyết số 871/NQ-UBTVQH14 năm 2020).
  • VKSND huyện Trấn Yên có tổng số 13 cán bộ, công chức và người lao động, gồm 10 biên chế (01 Viện trưởng, 02 Phó Viện trưởng, 05 Kiểm sát viên, 01 Kiểm tra viên, 01 Kế toán) và 03 hợp đồng lao động. Đơn vị tổ chức thành Văn phòng và 3 bộ phận nghiệp vụ (hình sự; dân sự và thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại tố cáo).

2. Phân tích kết quả thực tiễn qua các bảng thống kê (2019 - 2023):

Trong giai đoạn 2019 - 2023, VKSND huyện Trấn Yên đã kiểm sát tổng cộng 427 vụ án, vụ việc dân sự sơ thẩm do TAND huyện Trấn Yên thụ lý.

Bảng 1: Thống kê kết quả kiểm sát trả lại đơn khởi kiện và thông báo thụ lý tại VKSND huyện Trấn Yên

Năm Số thông báo trả lại đơn khởi kiện đã kiểm sát Số thông báo thụ lý VKS đã kiểm sát Số thông báo thụ lý gửi quá hạn
2019 0 61 0
2020 2 84 3
2021 2 87 1
2022 5 92 3
2023 6 103 4
Tổng cộng 15 427 11

Bảng 2: Thống kê kiểm sát các quyết định, bản án của Tòa án tại VKSND huyện Trấn Yên

Năm QĐ chuyển vụ án QĐ đình chỉ vụ án QĐ công nhận sự thỏa thuận (CNSTT) QĐ tạm đình chỉ vụ án QĐ đưa vụ án ra xét xử QĐ hoãn phiên tòa Bản án sơ thẩm
2019 2 1 33 2 21 6 18
2020 2 0 30 5 35 6 22
2021 0 1 28 3 20 8 33
2022 0 1 35 2 26 6 25
2023 1 1 44 3 36 11 31
Tổng cộng 5 4 170 15 138 37 129

3. Các vi phạm, tồn tại thực tế được phát hiện qua hồ sơ kiểm sát:

  • Vi phạm về thời hạn gửi thông báo thụ lý: Có 11/427 thông báo vi phạm khoản 1 Điều 196 BLTTDS (chiếm 2,58%), điển hình như Thông báo thụ lý số 21/TB-TLVA (VKS nhận ngày 04/06/2022) và Thông báo số 37/TB-TLVA (VKS nhận ngày 24/08/2023).
  • Vi phạm về nội dung thông báo thụ lý: Thông báo số 07/TB-TLVA (nhận ngày 12/06/2020) thiếu danh mục chứng cứ kèm theo đơn quy định tại điểm e khoản 2 Điều 196 BLTTDS. VKSND huyện Trấn Yên đã ban hành Kiến nghị số 01/KN-VKS-DS ngày 13/06/2020 yêu cầu khắc phục.
  • Tòa án trả lại đơn sai thẩm quyền: Ngày 16/04/2022, TAND huyện ra Thông báo số 03/TB-TA trả lại đơn của ông Nguyễn Văn C tranh chấp đất đai với bà Đoàn Nhật H vì cho rằng thuộc thẩm quyền của UBND huyện. VKS xác định đất có giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai 2013 và đã qua hòa giải cơ sở không thành, căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013 vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án; việc trả lại đơn là vi phạm pháp luật.
  • Xác định sai tư cách tham gia tố tụng: Tại Thông báo thụ lý số 14/TB-TLVA ngày 09/11/2023 về vụ án "Tranh chấp di sản thừa kế" giữa ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T, Tòa án xác định bà Trần Ngọc M (vợ ông H) là người thừa kế thế vị là sai Điều 652 BLDS (đúng luật bà M phải là người làm chứng).
  • Chưa thu thập đầy đủ chứng cứ: Vụ án "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất" giữa ông Hà Quang H và ông Hà Văn C tại xã Hồng Ca (Thông báo số 30/TB-TLVA ngày 14/9/2020), Tòa án chưa lấy lời khai người làm chứng về bức tường rào ngăn ranh giới giữa thửa 422 và 423 đã đưa vụ án ra xét xử.
  • Vi phạm hình thức thu thập chứng cứ: Vụ án "Tranh chấp đòi lại tài sản" tại xã Minh Quân (Thông báo số 12/TB-TLVA ngày 02/05/2021), bản tự khai của bà Đoàn Thị T không phải do chính bà viết và Thẩm phán không tiến hành lấy lời khai, vi phạm trực tiếp Điều 98 BLTTDS.
  • Kiểm sát biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT): Giai đoạn 2019 - 2023, TAND huyện Trấn Yên ban hành 0 quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT. Tác giả chỉ ra quy định thời hạn kiểm sát 03 ngày làm việc theo Điều 140 BLTTDS là quá ngắn và VKS không được nghiên cứu hồ sơ gốc nên quyền kiến nghị rất khó khả thi.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng và phát hiện chính

  • Khóa luận tổng kết toàn bộ 427 thông báo thụ lý VADS trong 5 năm (2019 - 2023); chỉ ra 11 trường hợp Tòa án gửi thông báo thụ lý quá hạn (2,58%) và 15 trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện (3,51%).
  • Tổng hợp và phân loại cụ thể 498 quyết định tố tụng và bản án sơ thẩm do TAND huyện Trấn Yên ban hành (gồm 170 quyết định CNSTT, 138 quyết định đưa vụ án ra xét xử, 129 bản án sơ thẩm, 37 quyết định hoãn phiên tòa, 15 quyết định tạm đình chỉ, 5 quyết định chuyển vụ án, 4 quyết định đình chỉ và 0 quyết định BPKCTT).

Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện của tác giả

  1. Bổ sung quy định về trách nhiệm phản hồi kiến nghị: Pháp luật tố tụng dân sự cần quy định rõ thời hạn bắt buộc và chế tài cụ thể khi Tòa án nhận được văn bản kiến nghị của VKS về vi phạm trong việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện hoặc vi phạm tố tụng trong bản án.
  2. Mở rộng quyền tiếp cận hồ sơ khi kiểm sát trả lại đơn và BPKCTT: Cần sửa đổi quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC để VKS được quyền yêu cầu sao chụp hồ sơ, chứng cứ trong mọi trường hợp trả lại đơn khởi kiện (thay vì chỉ khi có khiếu nại, kiến nghị); kéo dài thời hạn VKS xem xét kiến nghị đối với quyết định BPKCTT (hiện tại 03 ngày làm việc là quá ngắn).
  3. Quy định thời hạn chuyển quyết định nhập, tách vụ án: Điều 42 BLTTDS năm 2015 cần bổ sung thời hạn cụ thể (như 03 ngày làm việc) để Tòa án gửi quyết định nhập hoặc tách vụ án cho VKS cùng cấp.
  4. Bổ sung quy định gửi biên bản hòa giải thành: Điều 212 BLTTDS cần bổ sung nghĩa vụ của Tòa án phải gửi kèm biên bản hòa giải thành cùng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự để VKS kiểm tra tính hợp pháp của nội dung thỏa thuận.
  5. Hướng dẫn cụ thể tiêu chí phân biệt kiến nghị và kháng nghị phúc thẩm: Cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết căn cứ phát hành kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng và căn cứ kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án.
  6. Quy định thời gian gửi bản phát biểu sau phiên tòa: Sửa đổi quy định KSV phải nộp ngay bản phát biểu ý kiến tại phiên tòa sang thời hạn hợp lý sau khi kết thúc phiên tòa nhằm giúp KSV có điều kiện bổ sung, hoàn thiện văn bản phát biểu sát với diễn biến tranh tụng thực tế.

Đóng góp khoa học của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên đánh giá thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm tại địa bàn huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái dưới góc độ hoạt động thực tiễn theo BLTTDS năm 2015, bổ sung cơ sở thực tiễn cho khoa học luật tố tụng dân sự tại địa bàn miền núi.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn tại một đơn vị hành chính cấp huyện (huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái) với số lượng thụ lý án hàng năm ở mức trung bình (dao động từ 61 đến 103 vụ/năm), tính chất tranh chấp chủ yếu là quy mô nhỏ; chỉ nghiên cứu thủ tục sơ thẩm thông thường mà chưa bao quát thủ tục rút gọn.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cấp xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, khảo sát liên huyện hoặc so sánh với các địa bàn đô thị; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục rút gọn khi quy định này được áp dụng phổ biến hơn trong thực tiễn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên đại học luật, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự và Tư pháp hình sự; người nghiên cứu các đề tài về chức năng, thẩm quyền của VKSND trong tố tụng dân sự.
  • Phần nội dung giá trị nhất:
    • Hệ thống các tiêu chí và thủ tục kiểm sát 5 trường hợp VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm tại Chương 1.
    • Các vụ việc thực tế tại Chương 2 kèm phân tích lỗi nghiệp vụ cụ thể của Tòa án (lỗi xác định sai quan hệ tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai 2013, lỗi xác định sai tư cách thừa kế thế vị theo BLDS 2015, lỗi vi phạm quy định lấy lời khai theo Điều 98 BLTTDS).
    • Chuỗi số liệu thống kê 5 năm liên tục (2019 - 2023) về toàn bộ các quyết định tố tụng sơ thẩm của Tòa án cấp huyện.

Câu hỏi thường gặp

1. VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự trong những trường hợp cụ thể nào theo quy định pháp luật hiện hành? Theo khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm trong 5 trường hợp: (1) Vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; (2) Vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng; (3) Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (thuộc 7 dạng quy định tại khoản 3 Điều 27 Thông tư liên tịch 02/2016); (4) Vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất/hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (5) Trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (theo khoản 2 Điều 4 BLTTDS).

2. Tỷ lệ thông báo thụ lý vụ án dân sự gửi quá hạn tại TAND huyện Trấn Yên giai đoạn 2019 - 2023 là bao nhiêu? Trong tổng số 427 thông báo thụ lý do TAND huyện Trấn Yên chuyển đến VKSND huyện Trấn Yên từ năm 2019 đến năm 2023, có 11 thông báo gửi quá thời hạn 03 ngày làm việc quy định tại khoản 1 Điều 196 BLTTDS, chiếm tỷ lệ 2,58%.

3. TAND huyện Trấn Yên đã mắc sai phạm gì trong việc xác định tư cách đương sự tại vụ án tranh chấp di sản thừa kế năm 2023? Tại Thông báo thụ lý số 14/TB-TLVA ngày 09/11/2023, Tòa án đã xác định bà Trần Ngọc M (vợ của ông Nguyễn Văn H - người con đã chết của người để lại di sản) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người thừa kế thế vị. VKSND huyện Trấn Yên xác định việc này vi phạm Điều 652 BLDS; đúng quy định pháp luật thì con của ông H mới là người thừa kế thế vị, còn bà M chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.

4. Tại sao TAND huyện Trấn Yên bị xác định là trả lại đơn khởi kiện trái luật trong vụ tranh chấp đất đai ngày 16/04/2022? Tại Thông báo số 03/TB-TA ngày 16/04/2022, Tòa án trả lại đơn của ông Nguyễn Văn C vì cho rằng tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Trấn Yên. VKS kiểm sát và chỉ rõ: thửa đất tranh chấp đã có giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và đã được UBND cấp xã tiến hành hòa giải không thành, do đó theo khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, vụ việc bắt buộc thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân.

5. Vướng mắc lớn nhất trong công tác kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là gì? Thời hạn để VKS thực hiện quyền kiến nghị đối với quyết định BPKCTT theo Điều 140 BLTTDS năm 2015 chỉ có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định. Thời hạn này quá ngắn trong khi VKS không được tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ tài liệu chứng cứ gốc mà chỉ nhận văn bản quyết định, dẫn đến việc phát hiện sai phạm để thực hiện quyền kiến nghị trên thực tế gặp nhiều khó khăn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tạ Thị Tuyết Nhung đã làm sáng tỏ khung lý luận và các quy định pháp luật tố tụng dân sự về hoạt động kiểm sát giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Thông qua việc phân tích thực tiễn 427 vụ việc và 498 quyết định tố tụng, bản án tại VKSND huyện Trấn Yên (giai đoạn 2019 - 2023), tác giả đã chỉ rõ những sai sót nghiệp vụ điển hình trong công tác thụ lý, thu thập chứng cứ và áp dụng pháp luật của Tòa án. Các nhóm kiến nghị sửa đổi quy định tố tụng và giải pháp nghiệp vụ được đề xuất trong công trình có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.