mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, có nghĩa là khách hàng không cần phải đến ngân hàng rút tiền ra để mang đi chi trả cho đối tác mà khách hàng chỉ cần đến ngân hàng viết giấy thông báo cho ngân hàng là sẽ thanh toán số tiền cho đối tác này hoặc khách hàng có thể viết giấy cho đối tác của họ để họ mang giấy tới ngân hàng nhận tiền. Các tiện ích của không dùng tiền mặt đã và đang là ưu thế và là xu hướng của các quốc gia đang phát triển mà có thói quen dùng tiền mặt. Đặc biệt khi ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng càng được mở rộng, càng tạo được nhiều tiện ích hơn, điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin mà hiện nay có rất nhiều hình thức thanh toán tiện ích và thích hợp với mọi đối tượng khách hàng tiêu biểu như là: Thanh toán trả ngay: séc, thư tín dụng, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu.
Thanh toán trả chậm: hối phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, trái phiếu. Hoạt động khác: 5 Mua bán ngoại tệ: Là hoạt động ngân hàng mua ngoại tệ này bằng ngoại tệ khác nhằm ăn chênh lệch giá. Đây là một trong những nghiệp vụ đầu tiên ngân hàng được thực hiện. Bảo quản tài sản hộ: Là việc các ngân hàng thực hiện lưu trữ và bảo vệ các vật có giá trị như vàng, GTCG,… và các tài sản khác cho khách hàng trong két để đảm bảo an toàn, bí mật, thuận tiện.
Trong đó khách hàng phải trả các khoản phí cho ngân hàng để đảm bảo cho dịch vụ. Quản lý ngân quỹ: Nhờ tính chuyên môn hóa trong quản lý ngân quỹ mà ngân hàng còn mở thêm dịch vụ quản lý ngân quỹ cho các khách hàng có mối liên hệ với ngân hàng, do nhu cầu thanh toán lớn tại các doanh nghiệp mà các doanh nghiệp thường có tài khoản thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền mặt vào đó, trong thời gian chưa thanh toán tài khoản của doanh nghiệp còn thặng dư quỹ tiền mặt ngân hàng sẽ thực hiện kinh doanh các chứng khoán, giấy tờ có giá ngắn hạn sinh lời cho khách hàng cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Bảo lãnh: Là việc ngân hàng dùng uy tín của mình để đảm bảo cho khách hàng thực hiện được yêu cầu của mình như bảo lãnh mua chịu hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn,… và khách hàng được bảo lãnh phải trả cho ngân hàng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh. Trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng phát triển và được chú trọng hơn bởi phí bảo lãnh khá lớn và nhu cầu bảo lãnh cũng ngày càng tăng lên, đây là một nguồn thu lớn cho ngân hàng.
Uỷ thác và tƣ vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên các ngân hàng có rất nhiều những chuyên gia về quản lý tài chính, do đó phát sinh nhiều doanh nghiệp muốn nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác còn phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư,… Môi giới và đầu tƣ chứng khoán: Các ngân hàng luôn nỗ lực hết mình cung cấp đầy đủ các dịch vụ để thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng, đó chính là lý do khiến các 6 ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác, trong nhiều trường hợp các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. Bảo hiểm: Dịch vụ bảo hiểm chính là việc đảm bảo hoàn trả trong trường hợp khách hàng xảy ra rủi ro mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh, liên kết với các công ty bảo hiểm để đảm bảo thực hiện nghiệp vụ này một cách chuyên nghiệp.2 Huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại.1 Nguồn vốn và nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thƣơng mại.
Vốn là lượng tiền được dùng để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với hàng hóa thông thường được lưu thông trên thị trường, người sở hữu hàng hóa bán quyền sở hữu hàng hóa của mình, còn “hàng hóa” vốn thì được lưu thông, mua bán trên thị trường vốn và người sở hữu vốn không bán quyền sở hữu mà bán quyền sử dụng vốn. Sau một thời gian nhất định, người mua quyền sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn một khoản tiền nhất định. Đối với ngân hàng, vốn là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tự tạo lập hoặc từ đi vay, từ huy động,.
được dùng vào họat động cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.2 Vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu được hình thành bằng nhiều cách khác nhau, để phân biệt với các khoản tiền của chủ thể khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ), chủ ngân hàng còn gọi vốn mình ứng ra trong kinh doanh là vốn tự có. Với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng không ngừng huy động tiền của chủ thể khác để đầu tư, do vậy dần dần vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng vốn. Một số ngân hàng trung ương qui định giới hạn tỷ lệ vốn chủ trên tổng tiền gửi nhằm tăng đảm bảo an toàn cho người gửi tiền.
Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, song vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng, góp phần xác 7 định qui mô và cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là trung và dài hạn cũng như tạo ra trang thiết bị và công nghệ hiện đại. Các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu ban đầu: Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành vốn ban đầu khác nhau: Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thì ngân sách Nhà nước cấp; ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu; ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp; ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân. Vốn chủ sở hữu ban đầu phải tuân thủ các qui định của nhà nước. Các qui định thường nêu rõ số vốn tối thiểu – vốn pháp định mà chủ ngân hàng cần phải có khi bắt đầu hoạt động.
Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu VCSH, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận. Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể: - Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuân sẽ cao so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ đi thua lỗ năm trước và các chi phí đặc biệt, được trích bổ sung VCSH theo qui định của nhà nước. Nhiều ngân hàng trong điều lệ hoạt động của mình đều qui định mức vốn điều lệ (tối thiểu là bằng vốn pháp định), và thường xuyên bổ sung vốn điều lệ bằng trích lợi nhuận - Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng VCSH do NHNN quy định… Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn tăng cường năng lực tài chính vào lúc cần thiết. Trong những trường hợp cần duy trì thị giá cổ phiếu, hoặc duy trì quyền lãnh đạo của những cổ đông quan trọng, ngân hàng có 8 thể mua lại một số cổ phiếu đã phát hành hoặc tăng tỷ lệ lợi nhuận chia cho cổ phiếu. - Các quĩ: ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ đều có mục đích riêng để sử dụng như quỹ dự phòng tổn thất, thặng dư vốn cổ phần, quỹ đánh giá lại, quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi, quĩ đào tạo, quĩ nghiên cứu và phát triển sản phẩm… Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu cũng thuộc VCSH mặc dù chúng mang một số tính chất của một khoản nợ, tuy nhiên phần này thường bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ.
Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như không làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức… 1.3 Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi chưa đến hạn. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau: Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền gửi không kỳ hạn của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả cho hoạt động hàng hóa dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Lãi suất của khoản tiền này rất thấp (hoặc bằng không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.