CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE CƠ SỞ LÍ THUYET CUA DE TAI 1. GIỚI THIEU VE NANO 1. Hat nano, vật liệu nano và công nghệ nano Ngày nay, ta có thẻ tình cờ nghe được một vài vấn đề nào đó hoặc một sản phẩm nao đó có liên quan đến hai chữ “nano”.
Chữ nano, gốc Hi Lap, được gắn vào trước các đơn vị đo dé tạo ra đơn vị ước giảm đi 1 tỉ lần (10°). Ví dụ: nanogam = 1 phan ti của gam, nanomet = 1 phan tỉ mét. Nanomet là điểm kì diệu trong kich thước chiều đài, là điểm mà tại đó những vật liệu sáng chế nhỏ nhất do con người chế tạo ra ở cấp độ nguyên tứ và phân tử của thé giới tự nhiên. Công nghệ nano (nanotechnology) là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dang, kích thước trên quy mô nanomet (từ | đến 100 nm).
Khoa học nano (nanoscience) là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng va sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu tại các quy mô nguyên tử, phân tử va đại phân tử. Tại các quy mô đó, tính chất của vật liệu khác hãn với tính chất của chúng tại các quy mô lớn hơn. Ranh giới giữa công nghệ nano và khoa học nano đôi khi không rõ rang, tuy nhiên chúng đều có chung đối tượng là vật liệu nano. Vật liệu nano (nanomaterials) là các tô chức, cầu trúc, thiết bị.
có kích thước nano (khoảng từ 1 đến vài trăm nanomet, tức cỡ nguyên tử, phân tử, hay đại phân tử - macromolecule). Các vật liệu với kích thước như vậy có những tính chất hóa hoc, nhiệt, điện, từ. rất đặc biệt. khác han các vật liệu có kích thước lớn.
Có rất nhiều cách phân loại vật liệu nano. mỗi cách phân loại cho ra rất nhiều loại nhỏ nên thường hay làm lẫn lộn các khái niệm. Sau đây là một vài cách phân loại thường dùng: > Phân loại theo hình dang của vật liệu (hình 1.1): người ta đặt tên số chiêu không bị giới hạn ở kích thước nano: - Fat liệu nano khong chiều là hạt có cả ba chiều đều có kích thước nano, thường là hạt hình cầu, được tạo thành đo quá trình polyme hóa nhũ tương hay polyme hóa mixen, các quá trình sol-gel. Vi dụ: các hạt chất phát quang kích thước nano (Oxonica) dùng cho màn hình điện tử, xúc tác, được phẩm, chấm lượng tử, các hạt từ, TiO>, Fe;O¿.
- Vật liệu nano một chiêu là vật liệu trong đó hai chiêu có kích thước nano, chiều thứ ba đải hơn. Ví dụ: dây nano, ống nano, sợi nano nitrua bo (BN), C. - Vật liệu nano hai chiêu là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiêu kia đài hơn, thường có đạng tắm. Ví dụ: mảng mỏng.
Ngoài ra còn có vật liệu có cau trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phan của vật liệu có kích thước nanomet, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiêu, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. Cũng theo cách phân loại theo hình dáng của vật liệu, một số tác giả đặt tên số chiêu bị giới hạn ở kích thước nano, Nếu như thé thì hạt nano là vật liệu nano ba chiêu, day nano là vật liệu nano hai chiều và mang mong là vật liệu nano một chiều. Cách phân loại này ít phô biến hơn. octy ress «cán auó a " ” — the xóc rand $% Ống rarô +ướnðnnạ39h‹.
bác thang rand +} tiết re) k nảng tog chế we Điệp Đuôc " ® Hình 1. Phan loại vật liệu nano theo hình đáng >» Phân loại theo tính chất vật liệu thé hiện sự khác biệt ở kích thước nano: ~ Vật liệu nano kim loại - Vật liệu nano bán dan - Vat liệu nano từ tính - Vật liệu nano sinh học,. Đôi khi người ta phối hợp hai cách phân loại với nhau, hoặc phối hợp hai khái niệm nhỏ dé tạo ra các khái niệm mới. Ví dụ: khái niệm “hat nano kim loại" trong đó “hat” được phân loại theo hình dáng, “kim loại được phân loại theo tính chất hoặc “vat liệu nano từ tính sinh hoc” trong đó cả "từ tinh” và “sinh hoc” đều là khái niệm có được khi phân loại theo tính chất.
Phương pháp điều chế vật liệu nano”! Dù điều chế vật liệu nano bằng phương pháp nào thi cũng đi theo một trong hai hướng: phương thức tir trên xuống dưới (top-down) nghĩa là chia nhỏ một hệ thong lớn để cudi cùng tạo ra được đơn vị có kích thước nano và phương thức từ đưới lên (bottom-up) nghĩa là lắp những hạt cỡ phân tử, nguyên tử hay ion lại đề thu kích thước nano. Có 4 nhóm phương pháp chính dé điều chế vật liệu nano. mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng, có phương pháp chỉ có thê áp dụng để điều chế một số vật liệu nhất định. Phương pháp hóa wot (wet chemical) Phương pháp này bao gồm các phương pháp chế tao vật liệu dùng trong hóa keo (colloidal chemistry) như phương pháp thủy nhiệt, sol-gel và kết tủa.
Theo phương pháp nay, các dung dịch chứa ion khác nhau được trộn với nhau theo một thành phan thích hợp, dưới tác động của nhiệt độ. áp suất mà các vật liệu nano được kết tủa từ dung địch. Sau các quá trình lọc, say khô, ta thu được các vật liệu nano. Ưu điểm của phương pháp hóa ướt là có thể chế tạo các vật liệu khác nhau như vật liệu vô cơ, hữu co, kim loại.
Ngoài ra phương pháp này rẻ tiền và có thé chế tạo được một khối lượng lớn vật liệu. Nhược điểm chính là các hợp chất có thê liên kết bên với phân tử nước gây khó khăn trong việc nhiệt phân chúng. Bên cạnh đó phương pháp sol-gel có hiệu suất không cao. Phương pháp cơ học (mechanical) Bao gôm các phương pháp tán, nghiên, hợp kim cơ học.
Theo phương pháp này, vật liệu ở dang bột được nghiên đến kích thước nhỏ hơn. Ngày nay, các máy nghiền thường dùng là máy nghiên kiểu hành tinh hay máy nghiền quay. Phương pháp cơ học có ưu điểm là đơn giản, dụng cụ chế tạo không đắt tiền và có thé chế tao với một lượng lớn vật liệu. Tuy nhiên nó lại có nhược điêm là các hạt bị kết tụ với nhau, phân bố kích thước hạt không đồng nhất, dễ bị nhiễm ban từ các dụng cụ chế tạo và thường khó có thê đạt được hạt có kích thước nhỏ.
Phương pháp này thường được dùng dé chế tạo vật liệu không phải là hữu cơ như là kim loại. Phương pháp bắc bay Gồm các phương pháp quang khắc (lithography), bốc bay trong chân không (vacuum deposition) vật lí, hóa học. Các phương pháp nay áp dụng hiệu quả đề chế tạo mang mỏng hoặc lớp bao phủ bè mặt nhưng người ta cũng có thé dùng nó đẻ chế tạo hạt nano bằng cách cạo vật liệu từ dé. Tuy nhiên phương pháp này không cho hiệu quả ở quy mô thương mại.
Phương pháp hình thành từ pha khí (gas-phase) Gồm các phương pháp nhiệt phan (flame pyrolysis), nô điện (clcctro-explosion), đốt laser (laser ablation), bốc bay nhiệt độ cao, plasma. Nguyên tắc của các phương pháp này là hình thành vật liệu nano từ pha khí. Nhiệt phân la phương pháp có từ rất lau, được dùng dé tạo các vật liệu đơn giản như cacbon, silicon. Phương pháp đốt laser có thé tạo được nhieu loại vật liệu nhưng lại chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm vì hiệu suất của chúng thấp.
Phương pháp plasma một chiều và xoay chiều có thê dùng dé tạo rất nhiều vật liệu khác nhau nhưng lại không thích hợp dé tạo vật liệu hữu cơ vì nhiệt độ của nó có thê đến 9000°C. Phương pháp hình thành từ pha khí dùng chủ yếu dé tạo lồng cacbon (fullerene) hoặc ống cacbon, rất nhiều các công ty dùng phương pháp này dé chế tạo mang tính thương mại. Ứng dụng của công nghệ nano Công nghệ nano được nghiên cứu lan dau tiên trên thé giới vao năm 1959 bởi nhà vật lí học người Mĩ Richard Feynman, song chỉ bắt đầu thu được thành quả trong vòng hai thập ki trở lại đây nhưng đã tạo ra một cuộc cách mạng đối với khoa học nhân loại. Những hạt phân tử nano với kích thước bé nhỏ đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực và công nghệ nano được báo trước sẽ là công nghệ của một vài thập kỉ tới.
Công nghệ nano trong y học Tại rất nhiều quốc gia đang phát triển, việc thiểu các trang thiết bị xét nghiệm. chan đoán và điều trị bệnh gây nhiều khó khăn cho các bệnh viện. Tập đoàn Micronics của Mi đã ứng dụng công nghệ nano phát triển một bộ test có tên gọi DxBox, có tác dụng như một thiết bị kiểm tra, chỉ có kích cỡ lớn hơn kích cỡ của một tâm card. Trên bẻ mặt của DxBox có chứa thuốc thử ở dang khô và một hệ thông các ống dân nhỏ tạo từ các phân tử nano.
Các bác sĩ có thê tiễn hành một thử nghiệm mau đơn giản bằng thiết bị này mà không cần tới hệ thống giữ lạnh để bảo quản thuốc thứ mà có thể phát hiện dịch bệnh sốt rét và dich tả một cách nhanh chóng, để dàng: từ đó các bác sĩ có thé đưa ra pháp đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao và hạn chế được nguy cơ tử vong cao cho bệnh nhân. Công nghệ nano hứa hẹn sẽ mang lại cho y học một bước tiễn vượt bậc. Đó là sự ra đời của những rôbốt siêu nhỏ có thé đi sâu vào trong cơ thé, đến từng tế bào dé hàn găn, chữa bệnh cho các mô xương bị gãy và thậm chí là tiêu diệt những virut gây bệnh đang ở trong cơ thé. Với công nghệ phân tử nano, các bác sĩ tin răng họ có thê kiêm soát quá trình điều trị ung thư, sử dụng các rôbốt nano mang thuốc đến từng tế bào ung thư trong cơ thể, giúp tiêu diệt chính xác công nghệ nano trong việc điều trị bệnh các khối u này mà không gây hại cho tế bào lành (hình 1.
Công nghệ nano và triển vọng mang lại nguồn năng lượng sạch Các nhà khoa học Mĩ đã đưa ra ý tưởng về việc ứng dụng công nghệ nano làm thay đổi vật liệu bằng cách tác động vào nồng độ nguyên tử của chúng. Cách làm này giúp các nhà khoa hoc tạo ra các pin mặt trời với hiệu quả khai thác năng lượng lớn gấp 5 lần so với loại pin mặt trời truyền thống làm từ silicon hiện nay. Trong khi pin mặt trời truyền thống chỉ thu được khoảng 6% năng lượng mặt trời, thì công nghệ mới cho phép pin mặt trời có thé thu được 30% năng lượng mặt trời.