Chương I TONG QUAN 1. MÔ TẢ THỰC VAT"! - Cây núc nác có tên khoa học là Orexylum indicum L., thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae). - Cây to cao 7-12m, có thé cao tới 20-25m, thân nhẫn, ít phân nhánh. Vo cây mau xám tro, mặt trong mau vàng.
Lá xẻ 2-3 lần lông chim. Lá chét hình bầu dục, nguyên, dau nhọn, dai 7,5-15cm, rộng Š-6,5cm. Hoa mau nâu đỏ sam moc thành chùm đài ở đầu cành, dài khoảng 10 cm, 5 nhị trong có có một nhị nhỏ hơn. Quả nang to, đài tới 50-80cm, rộng 5-7cm, bên trong chứa hạt.
Bao quanh Hình 1.1: Cây núc née hạt có một màng mong, bóng và trong, hình chữ nhật. - Phân bỗ: Cây mọc hoang va được trông ở khắp nơi nước ta, ở miễn Bắc cũng như ở miền Nam. Cây còn mọc ở Trung Quốc. Malaysia, Án Độ, Lào, Campuchia.
- Các tên gọi khác: + Ở Việt Nam: Nic nác, nam hoàng bá, mộc hô điệp, may ca (Tay), co ca liên (Thái), p`sở lụng (K`ho). + Ở Án Độ: Syonaka + O Trung Quốc: Bạch ngọc nhi, thiên trương chi, triều giản, 1. CAC NGHIÊN CUU VE DƯỢC TÍNH Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylưm indicum chứa nhiều chất chống oxy hóa, chống ung thư, bảo vệ gan. Các tác dụng khác như tính chống viêm, kháng khuân, giảm dau và bảo vệ da day của Orexylum indicum cũng đã được báo cáo.
Hoạt tính kháng khuẩn Năm 1998, Ali R. cùng các cộng sự “! đã nghiên cứu tác dụng của chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum chống lại các các loại nắm da và nắm thối gỗ và báo cáo hoạt tính động kháng nam mạnh mẽ trong chiết xuất dichloromethane Oroxyliun indicum. Năm 2003, Kawsar U cùng các cộng sự |”! đã công bố hoạt tính động chống vi khuân của các chiết xuất khác nhau của Oroxylum indicum đã được sàng lọc chống lại 14 loại vi khuẩn gây bệnh (5 vi khuẩn gram đương và 9 vi khuẩn gram âm) và 7 loại nam gây bệnh bằng cách sử dụng phương pháp khuếch tán dia. Nong độ ức chế tôi thiểu của hai hợp chất flavonoid được cô lập từ Oroxylum indicum được xác định chồng lại vi khuẩn hình que, tụ cầu khuẩn, Escherichia coli và vi khuẩn bệnh lị Shigella cô giá trị khoảng 64-128 pg/ml.
Đến năm 2008, một nghiên cứu của Thatoi HN cùng cộng sự !'“ tiếp tục khăng định hoạt tinh kháng khuẩn bằng cách sử dung các chủng vi khuân khác nhau. Hoạt tinh chong độc ở gan! Trong y học Án D6, lá Oroxylum indicum được sử dung rộng rãi như cách phòng các rồi loạn gan. Các dịch trích khác nhau của Oroxylum indicum đều có hoạt tính chống độc gan. Các dịch trích petroleum ether, chloroform, ethanol và dung dịch nước được tiêm vào chuột nhiễm bệnh với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thê.
Thử nghiệm cho thấy chuột được điều trị và dich trích ethanol có hiệu quả đáng kẻ nhất. Hoạt tinh chong viêm °** Chiết xuất dung dịch nước từ lá Øroxylum indicum có khả năng chống viêm. Hoạt tính chống viêm đã được nghiên cứu trên mô hình cơ thé chuột phù chân. Dung địch nước chiết xuất từ lá Øroxylưm indicum cô hoạt tính chống viêm đáng kể ở liều lượng 150 mg/kg và 300 mg/kg trọng lượng cơ thé.
Với liều lượng 300 mg/kg trọng lượng cơ thẻ cho thấy hoạt động chống viêm là tối đa. Thông qua những nghiên cứu chi ra rằng Oroxylum indicum cô thé hữu ích trong điều trị bệnh viêm mãn tính như chứng viêm khớp. Hoạt tính chong ung thir Năm 1992, Tepsuwan A cùng các cộng sự ‘ céng bố hoạt tính gây độ c gen và hoạt tính phát triển tế bảo niêm mac da day của chuột đực F344 bằng phương pháp ngắn hạn trong cơ thé sau khi uống một phần nhỏ nitroso hóa của Oroxylum indicum Vent. Kết quả cho thay nitroso hóa của Oroxylum indicum có tính gây độc gen và phát triển té bao ở niêm mac da dày trong cơ thê chuột.
Năm 2001, Nakahara K cùng các cộng sự * đã báo cáo rằng chiết xuất methanol của Oroxylum indicum ức chế mạnh mẽ sự đột biến của TRP-P-] trong một thử nghiệm Ames. Thành phần chính kháng đột biến được xác định là baicalein với giá trị ICs; là 2. Sự kháng đột biến mạnh của chiết xuất với ham lượng cao Baicalein (3,95 + 0,43%, trọng lượng khô). Baicalein có tác dụng như chất giảm đột biến vì nó ức chế N-hydroxyl của TRP-P-2.
Năm 2006, Narisa K cùng các cộng sự *! đã thử nghiệm hoạt tinh gây độc tế bào trên chiết xuất ethanol 95% của Oroxylum indicum. Các hoạt động gây độc tế bào xác định bởi tác dụng chéng tăng sinh dòng tế bảo Hep-2. Kết quả chiết xuất ethanol biểu hiện hoạt tính động gây độc tế bào chong lại đồng tế bảo Hep-2 ở nồng độ 2,5 ug/ml. Năm 2007, Roy MK cùng các cộng sự '*! chi ra rằng baicalein có tác dung chống khối u trên các tế bào ung thư ở người và chiết xuất Oroxylum indicum có thé được sử dụng trong điều trị ung thư bồ sung.
Hoạt tinh tay giun sán Năm 2000, Downing JE (2) đánh giá hoạt tính tây giun sin của Orexylum indicum chong trứng giun lươn của ngựa trong ống nghiệm và so sánh nó với Ivermectin — một trong những thuốc tây giun hiệu quả. Sử dụng Oroxylum indicum với nồng độ 2x10` g/mL hoặc lớn hơn ngăn chặn được quá trình nở trứng của giun lươn. Với nông độ Oroxylum indicum 2x10"! g/mL thi quá trình nở dat 0%. Tại nông độ 2x10 * gimL hoặc lớn hơn thì kha nang sống của trứng và ấu trùng giun lươn là 0%.
Kết quả của nghiên cứu cho rằng Oroxylum indicum có thé là một chất tay giun thích hợp chống lại giun lươn của ngựa. Hoạt tính bao vệ da day Năm 2007, Zaveri M cùng các cộng sự PŸ báo cáo hoạt tinh bảo vệ da day của chiết xuất cồn 50% từ vỏ, rễ cây Oroxylum indicum và các phân đoạn khác: petroleum ether, chloroform, ethyl acetate và n-butanol. Trong đó, phân đoạn n- butanol cho sự ức chế hiệu quả tối đa đối với tôn thương dạ dày. Năm 2010, Hari Babu T cùng các cộng sự ''# đã công bố các flavonoid trong Oroxylum indicum Vent.
đã được cô lập như chrysin, baicalein, oroxylin có nhiệm vụ bảo vệ dạ dày. MOT SO DON THUOC DÂN GIAN CÓ VỊ NÚC NAC f!*®#I > Chữa dau da day: - V6 núc nác, sây khô, tán thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần từ 2 — 3g. > Hội chứng ly (dau bụng di ngoài nhiều lần, phân có lẫn máu mũi, mùi tanh): - Nam hoàng bá 20g, hoàng liên 12g, khô sâm 16g, có sữa 20g, lá nhót 20g, hoài sơn lóg, liên nhục lóg, bạch truật 12g, chích thảo 12g, có mực (sao den) 20g. Sắc udng ngày 1 thang.
- Nam hoàng bá 16g, búp ôi 12g, khô sâm 16g, đỉnh lăng 20g, rau sam 20g, cỏ sửa 20, hoa hòe (sao den) 16g, bạch truật (sao hoàng thô) 12g, cây cứt lợn 16g, ngũ gia bì 16g, hoàng ding 12g, chích thao 12g. Sắc uéng ngày | thang. Kiêng chất tanh, dầu mỡ. > Chữa lở loét do sơn ăn: vò núc nic tươi (số lượng tùy theo vết loét) giã nát, thêm rượu 30-40” vào, cứ 1 phan vỏ, 3 phan rượu, ngâm khoảng 2-3giờ.
Dùng rượu này bôi vào nơi lở sơn. Ngày bôi 3-4 lần. Chỉ 2-3 ngày là khỏi. > Chữa viêm phế quản, ho lâu ngày: mộc hồ điệp 10g, đường phèn hay kẹo mạch nha 30g, nước 300ml.
Chia 3 lần uéng trong ngảy. > Viêm da ngứa lở, các ton thương bị tiết dịch có biểu hiện bội nhiễm: - Thuốc uống: nam hoàng bá (sao qua) 16g, kim ngân 16g, kinh giới 16g, phòng phong 10g, chi tử 10g, đỉnh ling 16g, sai hồ lóg, xuyên khung 10g, bach chi 10g, sài đất 20g, lá bưởi bung 16g, uất kim 10g, cam thao 10g. Cho các vị vào 4m, dé L lít nước sắc còn 400ml, chia 2 - 3 lần uống trong ngảy. - Thuốc rửa tại chỗ: nam hoàng bá 50g, lá kinh giới 30g, lá đính lăng 30g.
Các thứ trên cho vào 4m, đồ nước nấu sôi, nhắc khỏi bếp cho nguội. Dùng nước này rửa các chỗ bị tôn thương, ngày 2 lần. > Trị bệnh sởi (bài thuốc dùng cho trẻ em): nam hoàng bá 6g, kinh giới 6g, ngân hoa 4g, lá dap cá 5g, mã dé thảo 4g, sài đất Sg, liên kiều 4g, hoa hông bạch 4g, sài hồ 4g, đương quy 4g, cam thảo 4g, huyền sâm 4g. Cho các vị vào am, đồ 2 bát nước sắc còn | bát, chia 3 - 4 lần uống trong ngày.
Nên kiêng gió, kiêng nước lạnh cho trẻ. CÁC NGHIÊN CỨU VẺ THÀNH PHẢN HÓA HỌC Năm 1953, Mehta CR va Mehta TP Í*” đã tách từ hạt núc nác | chat glucoside : Tetuin (1) Năm 1972, Subramanian SS và Nair AGR P† đã cô lập tử vỏ thân cây núc nác các hợp chất: > Chrysin (2) > Oroxylin A (3) >» Baicalein (4) > Scutellarein (5) >» Baicalein-7-O-glucuronide (6) > Scutellarein-7-O-rutinoside (7) Cũng nim 1972, trong nghiên cứu tiếp theo, Subramanian SS and Nair AGR “"! đã cô lập được các hợp chất sau từ lá núc nác: > Baicalein-6-O-glucuronide (8) > Scutellarein-7-O-glucuronide (9) Năm 1977, Joshi K C, Prakash A va Shah R K '""*! đã cô lập từ gỗ cây núc nác 2 hợp chất: > Prunetin (10) >» -Sitosterol (11) Năm 1978, Dey AK, Mukherjee A, Das PC va Chatterjee A PÍ đã cô lập từ lá hop chat: Aloe emodin (12) Năm 1979, Nair AGR cùng Joshi BS #” đã cô lập được hợp chat: Oroxindin (13) Năm 1980, Grover G S cùng Rao J Tirumala 03) cũng cô lập được từ hạt hợp chất Baicalein-6-O-glucoside lả tên gọi của Tetuin (1). Năm 1991, Vasanth S, Natarajan M, Sundaresan R, Rao R B và Kundu AB 136] đã tách được hai hợp chat: » Oroxylin A (3) > Ellagic acid (14) Năm 1999, Ali M. Ramachandram “! công bố các pterocarpan có trong vỏ than cây: z Metyloroxylopterocarpan (15) > Hexyloroxylopterocarpan (16) > Heptyloroxylopterocarpan (17) > Dodecanyloroxylopterocarpan (18) Năm 2003, Chen LJ, Games DE cùng Jones J 01 đã 66 lap được các flavonoid từ hạt: > Baicalein-7-O-glucoside (19) > Baicalein-7-O-diglucoside (Oroxylin B) (20) > Chrysin-7-O-diglucoside (21) Cũng năm 2003, Kawsar Uddin cùng các cộng sự °°! đã tách được 2 flavonoid: » 2,5-Dihydroxy-6,7-dimethoxyflavone (22) > 3,7.3',5'-Tctưamecthoxy-4-hydroxyflavonc (23) Năm 2007, Lê Thị Anh Đào, Lê Thị Thu Hương, Trần Thị Linh Ha”! đã cô lập từ lá cây các hợp chất: > j-Siosterol (11) » Isokaemferide (24) > Oroxylin A (3) Cũng trong năm 2007, Biswanah Dinda cùng với Bikas Chandra Mohanta, Shio Arima, Nariko Sato va Yoshihiro Harigaya '”! đã cô lập từ vỏ cây các hợp chat: > 8,8'-bisbaicalein (25) > 6-Hydroxyluteolin (26) > 6-Methoxyluteolin (27) > Baicalein-7-O-caffeate (28) Nam 2008, Yuan Yuan, Wenli Hou, Minhai Tang, Houding Luo, Li-Juan Chen, Y Hugh Guan va Ian A.