Chương 1:TỎNG QUAN 1. MÔ TA THUC VAT"! s* Cây núc nác có tên khoa học là Oroxylum indicum L., thuộc họ Chim ớt (Bignoniaceae). s* Cây nhỡ, có kích cỡ từ nhỏ đến trung bình từ 5-13m. Thân hình trụ nhẫn.
ít phân nhánh, vo cây dày, màu xám tro và có nhiều sẹo to đo lá rụng dé lại, mặt trong có mảu vàng nhạt. Lá kép lông chim, mọc đôi, thường tập trung ở ngọn thân, phiến xẻ 2-3 lần lông chim. Lá chét hình bau dục, nguyên, dài 6-14em, rộng 3,5-§ cm, gốc tròn hơi lệch, đầu nhọn. Mặt trên lá sam bóng, mặt đưới nhẫn hoặc có ít lông, cuồng lá kép hình trụ, có các cham bì không.
Cụm hoa có cuống mập va thăng, mọc ở ngọn, thành chùm dai 40-80 cm, mang nhiều sẹo ở phía dưới, lá bắc nhỏ. Hoa to, mau nâu đỏ sam, đài hình chuông, lá đài dày và ngắn, dai 2,5 em, ống tràng hình phéu, dai 9 em, hơi phình ở họng, 5 cánh hoa chia thành 2 môi, cong gập xuống, mép nhãn nheo. Nhị 4 cái đều và 1 cai hơi ngắn hon, chỉ nhị có lông mịn ở gốc, bau thuôn dai. Hoa nở về đêm, thụ phan nhờ đơi và gió.
Mùa hoa: tháng 6-8.2: Qua cây núc nade Quả cong, thông du đưa từ nhánh như cái liém, qua nang, det và cong, dai 50-80 cm, day 8 mm, khi chin nứt làm hai mánh. Mùa quả: tháng 9-10. Các quả chín vẫn ở trên cây khá lâu vào mùa khô khi cây rụng hết lá. Hat núc nác hình bau dục, rat mỏng, det ba phía.
Vỏ ngoài phát triển thành mảng rất mỏng, màu trắng nâu nhạt với những đường gân tỏa ra từ hạt, trông như cánh bướm. Chiều dai cả hạt và cánh từ 4-7em, rộng 2,5-4em (nếu chỉ kẻ hat không thì chỉ dài 1,5-2,5em, rộng 1-2cm). Vỏ núc nác không mùi, vị đắng, hơi hắc. Vỏ cuộn lại thành hình ống hay hình cung, day 0,6 - 1,3 cm, dai ngắn không nhất định.
Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, nhãn nheo, có nhiều đường vân doc, ngang. Mat trong nhẫn, màu ngoài xám hay vàng lục. Mặt bẻ ngang có lớp ban mỏng, mô mềm, vỏ lồn nhén như có nhiều sạn, trong cùng có lớp sợi dé tach theo chiều đọc. s* Phân bo: Nuc nác có nguồn gốc từ tiêu lục địa Án Độ.
ở dưới chân núi Hymalaya. Trên thé giới, nde nác phân bỗ rộng rãi ở vùng nhiệt đới Châu A, bao gồm Srilanka, Án Độ, Mianma, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Tay, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hai Nam, Quảng Đông), Lao, Thái Lan, Campuchia, Philippin, đảo Selip va Timor của Indonesia. Ở nước ta cây mọc hoang và được trồng khắp noi, rai rác khắp các tỉnh miền núi và trung du như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Lai Châu, Diện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, An Giang. s* Các tên gọi khác: + Ở Việt Nam: Núc nác, nam hoàng bá, mộc ho điệp, may ca (Tay), co ca liên (Thai), p` sở lung (K*ho), ko lúc (K dong), póc ta lốp (Ba Na).
+ Ở An Độ: Syonaka + Ở Trung Quốc: Bạch ngọc nhi, thiên trương chi, triều gián. CÁC NGHIÊN CỨU VE DƯỢC TÍNH La núc nác có tác dụng giảm đau, kháng khuân, kháng sinh, dùng dé trị phù lá lách, đau bao tử. Quả chát, ngọt có tác dụng làm dé tiêu hóa, tăng cảm giác thèm ăn, trừ giun sin, bệnh tim, đau cô họng, bệnh trĩ, viêm phê quản, bạch bì. Hạt được sử dụng đề điều trị trong những trường hợp ho hen không ngừng, đau đạ dày, đau bụng, nhiễm trùng họng, viêm khí quản, tăng huyết áp, mụn nhọt và vết thương.
Thân núc nác còn được dùng dé trị dị ứng, ran cắn. bọ cạp chích. Vỏ thân là thuốc lợi tiêu, trị bao tử, tiêu chảy và ly Rễ dùng dé trị bệnh tiêu chảy và ly, chong viêm, long dom, chống giun, trị đau ngực và đầu. Vỏ rễ núc nác hãng, chát, cay, ding, có tác dụng làm se ruột, làm mát, hạ sốt, trị kiết, bạch bi, hen suyén, tiêu chảy, thấp khớp, viêm phế quan, sưng tay 1.
Hoạt tinh chống viêm “***! Chiết xuất dung dich nước từ lá Oroxylum indicum cô kha nang chống viêm. Hoạt tính chống viêm đã được nghiên cứu trên mô hình cơ thể chuột phù chân. Dung dịch nước chiết xuất từ lá Oroxyim indicum có hoạt tinh chéng viêm đáng kê ở liều lượng 150 mg/kg và 300 mg/kg trọng lượng cơ thẻ. Với liều lượng 300 mg/kg trọng lượng cơ thé cho thấy hoạt động chống viêm là ti đa.
Thông qua những nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylum indicum có thê hữu ich trong điều trị bệnh viêm mạn tính như chứng viêm khớp. Hoạt tính chống độc ở gan”! Trong y học An Độ, lá @roxylưm indicum được sử dụng rộng rãi như cách phòng các rối loạn gan. Các địch trích khác nhau của Oroxylum indicum đều có hoạt tính chong độc gan. Các dịch trích petroleum ether, chloroform, ethanol và dung dịch nước được tiêm vào chuột nhiễm bệnh với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thé.
Thử nghiệm cho thay chuột được điều trị va dịch trích ethanol có hiệu quả dang kê nhất, 1. Hoạt tinh tay giun sán Năm 2000, Downing JE “” đánh giá hoạt tính tay giun san của Oroxylum indicum chỗng trứng giun lươn của ngựa trong ống nghiệm và so sánh nó với Ivermectin - một trong những thuốc tây giun hiệu quả. Sử dụng Orexylum indicum với nông độ 2x10” g/mL hoặc lớn hơn ngăn chặn được quá trình nở trứng của giun lươn. Với nông độ Oroxylum indicum 2x10"! g/mL thi qua trinh no dat 0%.
Tai nông độ 2xI0Ÿ g/mL hoặc lớn hơn thì kha năng sống của trứng và ấu trùng giun lươn là 0%. Kết quả của nghiên cứu cho rằng Oroxylum indicum có thé là một chat tây giun thích hợp chống lại giun lươn của ngựa. Hoạt tính chong ung thư Năm 1992, Tepsuwan A cùng các cộng su"! céng bố hoạt tinh gây độc gen và hoạt tính phát triển tế bào niêm mạc dạ dày của chuột đực F344 bằng phương pháp ngắn hạn trong cơ thé sau khi uống một phan nhỏ nitroso hóa của Oroxylum indicum Vent. Kết quả cho thay nitroso hóa của Oroxylum indicum có tính gây độc gen và phát triển tế bào ở niêm mạc da day trong cơ thẻ chuột.
Năm 2001, Nakahara K cùng các cộng sự (22 Ì đã báo cáo rằng chiết xuất methanol của Oroxylum indicum ức chế mạnh mẽ sự đột biến của TRP-P-1 trong một thử nghiệm Ames. Thanh phan chính kháng đột biến được xác định là baicalcin với giá trị ICs là 2,78 + 0,15 microM. Sự kháng đột biến mạnh của chiết xuất với hàm lượng cao baicalein (3,95 + 0,43%, trọng lượng khô). Baicalein có tác dụng như chất giảm đột biến vì nó ức chế N-hydroxyl của TRP-P-2.
Năm 2006, Narisa K cùng các cộng sự '** đã thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên chiết xuất ethanol 95% của Oroxylum indicum. Các hoạt động gây độc tế bào xác định bởi tác dụng chong tăng sinh dòng tế bào Hep-2. Kết quả chiết xuất ethanol biêu hiện hoạt tính động gây độc tế bào chống lại dòng tế bào Hep-2 ở nồng độ 2. Năm 2007, Roy MK cùng các cộng sự 7"! chỉ ra rằng baicalein có tác dụng chong khối u trên các tế bao ung thư ở người và chiết xuất Oroxylen indicum có thê được sử dụng trong điều trị ung thư bỗ sung.
Nghiên cứu 11 cây thuốc được dùng trị bệnh trong dân gian ở Bangladesh, kết quả cho thay dich núc nác cho hoạt tính độc tế bào mạnh nhất với tất cả tế bào khối u. Giá trị IC; là 19,6 mg mL" với CEM, 14,2 mg mL” với HL-60, 17,2 mg mL" với B-16 và với HCT-8 là 32. Hoạt tinh bao vệ dạ day Nam 2007, Zaveri M cùng các cộng su SS) báo cáo hoạt tính bảo vệ da day của chiết xuất còn 50% từ vỏ, rễ cây Oroxylum indicum và các phân đoạn khác: petroleum ether, chloroform, ethyl acetate va n-butanol. Trong đó, phân đoạn n- butanol cho sự ức chế hiệu quả tối đa đối với ton thương da day.
Năm 2010, Hari Babu T cùng các cộng sự !"*! đã công bố các flavonoid trong Oroxylum indicum Vent. đã được cô lập như chrysin, baicalein, oroxylin có nhiệm vụ bảo vệ dạ dày. Hoạt tính kháng khuẩn Năm 1998, Ali R. cùng các cộng sự 5Ì đã nghiên cứu tác dụng của chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum chéng lại các các loại nam da và nam thôi gỗ và báo cáo hoạt tính động kháng nắm mạnh mẽ trong chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum.
Năm 2003, Kawsar U cùng các cộng sự “` đã công bố hoạt tính động chẳng vi khuân của các chiết xuất khác nhau của Oroxylum indicum đã được sàng lọc chống lại 14 loại vi khuẩn gây bệnh (5 ví khuẩn gram dương và 9 vi khuẩn gram âm) và 7 loại nam gây bệnh bang cách sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa. Nông độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid được cô lập từ Orexylum indicum được xác định chong lại vi khuẩn hình que, tụ cầu khuẩn. Escherichia coli và vi khuẩn bệnh li Shigella có giá trị khoảng 64-128 g/ml. Dến năm 2008, một nghiên cứu của Thatoi HN cùng cộng sự Bl tiếp tục khang định hoạt tinh kháng khuẩn của cây núc nác bằng cách sử dụng các chủng vi khuẩn khác nhau.7 Úc chế tăng sinh tế bào !'*Ì Dịch ethanol của vỏ thân núc nác cho hoạt tính ức chế tăng sinh với một số tế bào như erythleukemic K 562 (ICs) = 30.
CAC NGHIEN CUU VE THANH PHAN HOA HOC Các nghiên cứu trên cây núc nác cho thay trong cây có sự phong phú về thành phan hóa học của các loại hợp chất hữu cơ như các flavonoid, steroid, acid, ancol, pterocarpan, triterpenoid. Cho tới nay có rất nhiều hợp chất được cô lập tir cây núc nác và được thống ké sơ bộ thành các nhóm chính như sau: 13.1 Flavonoid: Ih'?»% 1Š, 17,30, 21, 26, 21, 28, 34) Tetuin (1), chrysin (2), oroxylin A (3), baicalein (4), scutellarein (5), baicalein-7-O-glucuronide (6), scutellarein-7-O-rutinoside (7), baicalein-6-Ó- glucuronide (8), scutellarein-7-O-glucuronide (9), prunetin (10), oroxindin (11), baicalcin-7-O-glucoside (12), baicalein-7-O-diglucoside (oroxylin B) (13), chrysin- 7-O-diglucoside (14), 2,5-dihydroxy-6. Acid:'! Oleic acid, palmitic acid, stearic acid, lignoceric acid (50), ellagic acid (51). Ngoài ra còn một số chất khác: !® ?81 Aloe emodin (55), echinulin (56), adenosine (57), dimethylsulfone (58).
Công thức hóa học của các hợp chất có trong cây núc nác: Flavonoid: HO, me Hồ on 9 | o HO" Ho H r4 Tetuin (1) Baiclen-7Odgucosie(13) Chrysin-7-O-diglucoside (14) H/©O we HY “4 2,5-Dihydroxy-6,7-dimethoxyflavone (15) 3,7,3° 5°-Tetramethoxy- 4-hydroxyflavone (16) Chrysin-7-O-glucuronide (22) CH Hờ oO HO. Ỗ Chrysin-diglucoside (23) ©ooœ HO. DD H;CO H;CO H Dihydrooroxylin A (29) 3,5,7,4°-Tetrahydroxyflavone (33) 5.7,4’-Trihydrox yflavone (34) Chrysin-6-C-ƒ)-D-glucopyranosyl-7-Ó-f-D-glucuronopyranoside (35) OH HO ° HO lo) HOOC HO. Benzoic acid (54) Ngoài ra còn có các chất khác như: le) Kenta, ú Adenosine (57) Dimethylsulfone (58) Chương 2:THỰC NGHIỆM 2.
NGUYEN LIEU, HOA CHAT THIẾT BỊ 2.