Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giao dịch dân sự giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành các mối quan hệ pháp lý và xác lập liên hệ tài sản giữa các chủ thể trong đời sống xã hội. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và khắc phục các bất cập của Bộ luật Dân sự năm 2005 (như sự trùng lặp giữa quy định về chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng với quy định chung về giao dịch dân sự), Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung cụ thể. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, đặc biệt là tình trạng các bên xác lập giao dịch không có thật nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (bao gồm cả nghĩa vụ đối với Nhà nước). Việc giải quyết hậu quả pháp lý của các giao dịch này thường diễn biến phức tạp, đường lối xét xử của các cấp Tòa án chưa thực sự đồng nhất, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và người thứ ba ngay tình.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Nguyễn Minh Hà đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo và hậu quả pháp lý theo Bộ luật Dân sự năm 2015" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Thị Huệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa pháp lý).
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, hậu quả pháp lý, bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình và thời hiệu khởi kiện; qua đó chỉ ra các ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành.
  3. Khảo sát, phân tích thực tiễn xét xử thông qua các bản án cụ thể của Tòa án nhân dân các cấp, xác định nguyên nhân của những tồn tại và đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các điều khoản của pháp luật dân sự quy định về giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo; các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp thực tế tại Tòa án; các quan điểm khoa học và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo khung pháp lý của Bộ luật Dân sự năm 2015, dựa trên việc nghiên cứu một số bản án xét xử thực tế của Tòa án các cấp tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành:

  • Văn bản pháp luật nền tảng: Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 120, Điều 123, Điều 124, Điều 130, Điều 131, Điều 132, Điều 133, Điều 140, Điều 167, các điều từ 579 đến 583); Bộ luật Dân sự năm 2005 (dùng để so sánh, đối chiếu); Bộ luật Tố tụng Dân sự (khoản 2 Điều 308); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; cùng quy định so sánh trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản về ý chí giả tạo.
  • Nguồn tài liệu khoa học kế thừa: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1, NXB Công an Nhân dân) và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội; sách Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 do Nguyễn Minh Tuấn chủ biên (NXB Tư pháp, 2017); sách Nhập môn Luật Dân sự của Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh (NXB Lao Động, 2020); Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Nguyên (2021), Nguyễn Hải Yến (2021), Vũ Thị Thanh Nga (2011); Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường (2005); cùng các bài viết chuyên san của Bùi Đăng Hiếu trên Tạp chí Luật học (2001) và Tưởng Duy Lượng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (2018).

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa lý luận pháp lý và thực tiễn xét xử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy định pháp luật và quan điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015, tham chiếu pháp luật Nhật Bản).
  • Phương pháp lịch sử để theo dõi quá trình phát triển của chế định.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống/nghiên cứu thực chứng thông qua phân tích các bản án thực tế của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương I làm rõ các khái niệm và đặc điểm nền tảng của chế định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:

  • Khái quát chung về giao dịch dân sự: Căn cứ Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Bốn đặc điểm cơ bản gồm: luôn thể hiện ý chí của chủ thể; các bên tham gia phải hoàn toàn tự nguyện; làm phát sinh hậu quả pháp lý; nội dung và mục đích không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Giao dịch dân sự được phân loại theo chủ thể (hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương), theo tính đền bù (có đền bù và không có đền bù), và theo hình thức (lời nói, văn bản, hành vi).
  • Khái quát về giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch không đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ bị vô hiệu. Tác giả trình bày các tiêu chí phân loại giao dịch vô hiệu: căn cứ vào thủ tục xác nhận (vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối); căn cứ vào mức độ vô hiệu (vô hiệu từng phần theo Điều 130 và vô hiệu toàn bộ); căn cứ vào nguyên nhân vô hiệu (do không đủ năng lực chủ thể, thiếu tự nguyện, vi phạm điều cấm/trái đạo đức xã hội, hoặc vi phạm điều kiện về hình thức theo Điều 120).
  • Lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là giao dịch được xác lập không xuất phát từ ý chí tự nguyện thực sự của các bên, không nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý của chính giao dịch đó mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Bốn đặc điểm đặc thù gồm:
    1. Không phản ánh đúng ý chí đích thực bên trong của các bên xác lập.
    2. Các bên có sự thỏa thuận, thống nhất trước về sự giả tạo khi xác lập.
    3. Luôn tồn tại ít nhất hai giao dịch song song (trong trường hợp che giấu) hoặc tồn tại một giao dịch nhằm né tránh nghĩa vụ đã có.
    4. Thuộc loại giao dịch vô hiệu tuyệt đối, đương nhiên không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
  • Phân loại và ý nghĩa: Khóa luận phân loại giao dịch giả tạo theo mục đích xác lập (che giấu giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba); theo sự thể hiện ý chí (xuất phát từ một phía hoặc từ cả hai phía); theo mục đích tuyên bố (bảo vệ lợi ích Nhà nước/công cộng hoặc bảo vệ quyền lợi người thứ ba). Quy định này tạo khuôn khổ pháp lý định hướng hành vi của các chủ thể, bảo đảm sự minh bạch của thị trường và tạo cơ sở cho sự can thiệp, giám sát của cơ quan tài phán.

Chương II: Quy định pháp luật của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương II phân tích chi tiết nội dung quy định hiện hành, so sánh với Bộ luật Dân sự năm 2005 và chỉ ra các ưu, nhược điểm trong kỹ thuật lập pháp:

  • Các trường hợp vô hiệu do giả tạo (Điều 124):
    • Giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác (Khoản 1 Điều 124): Giao dịch giả tạo bị vô hiệu, giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc "luật khác có liên quan". Điểm bổ sung cụm từ "luật khác có liên quan" trong Bộ luật Dân sự năm 2015 giúp bao quát và viện dẫn trực tiếp đến các luật chuyên ngành.
    • Giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (Khoản 2 Điều 124): Giao dịch giả tạo nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đã xác lập trước đó hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế, phí đối với Nhà nước sẽ bị vô hiệu toàn bộ.
  • Hậu quả pháp lý (Điều 131): Giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập; các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì "trị giá thành tiền để hoàn trả" (Khoản 2). Bên ngay tình thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả (Khoản 3). Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (Khoản 4). Hậu quả liên quan đến quyền nhân thân do luật chuyên ngành quy định (Khoản 5).
  • Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình (Điều 133): Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, giao dịch có đền bù với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực (trừ trường hợp quy định tại Điều 167). Đối với bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký, nếu tài sản đã được đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền rồi mới chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba không bị vô hiệu; chủ sở hữu ban đầu không được đòi lại tài sản mà chỉ có quyền yêu cầu chủ thể có lỗi bồi thường.
  • Thời hiệu khởi kiện (Khoản 3 Điều 132): Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo không bị hạn chế.
Tiêu chí so sánh Bộ luật Dân sự năm 2005 Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ xác định giao dịch bị che giấu Chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc "luật khác có liên quan" (Khoản 1 Điều 124)
Phương thức hoàn trả khi không còn hiện vật Buộc "phải hoàn trả bằng tiền" Quy định "trị giá thành tiền để hoàn trả" (Khoản 2 Điều 131)
Xử lý hoa lợi, lợi tức Hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả (Khoản 3 Điều 131)
Hậu quả liên quan đến quyền nhân thân Chưa có quy định điều chỉnh riêng biệt Bổ sung quy định giải quyết theo Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan (Khoản 5 Điều 131)
Thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu Không hạn chế thời hiệu đối với giao dịch giả tạo Tiếp tục duy trì quy định không bị hạn chế thời hiệu (Khoản 3 Điều 132)
  • Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
    • Ưu điểm: Quy định rõ ràng cơ chế hoàn trả giá trị, bảo vệ người ngay tình thu hoa lợi/lợi tức, mở rộng dẫn chiếu luật chuyên ngành và bảo đảm quyền nhân thân.
    • Hạn chế: Thiếu định nghĩa pháp lý trực tiếp về "giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo"; chưa có tiêu chuẩn định lượng để phân định rõ giữa hai yếu tố "giả tạo" và "trốn tránh" tại Khoản 2 Điều 124; chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc bồi thường thiệt hại do trượt giá tài sản và xác định chủ thể có lỗi; cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình tại Khoản 2 Điều 133 tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để hợp pháp hóa tài sản chiếm hữu bất hợp pháp; quy định thời hiệu không hạn chế gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ khi thời gian kéo dài.

Chương III: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương III minh họa và đánh giá thực tiễn xét xử thông qua 3 vụ việc cụ thể:

  1. Vụ việc 1 (Bản án số 214/2020/DS-PT ngày 23/06/2020 của TAND TP. Hà Nội): Ông H và bà N vay chị L số tiền 1.000 đồng trong 36 tháng nhưng lập hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất số 873 (Giấy chứng nhận số AB 677064 cấp ngày 29/12/2005) với giá 4.000 đồng, sau đó ký hợp đồng chuyển nhượng công chứng. Chị L tự ý sang tên và chuyển nhượng cho anh A (được cấp Giấy chứng nhận ngày 30/09/2012). TAND TP. Hà Nội xét xử phúc thẩm đã tuyên: hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa nguyên đơn và chị L do giả tạo che giấu giao dịch vay nợ; xác định các bên cùng có lỗi (ông H, bà N chịu 20% mức độ lỗi, phải bồi thường cho chị L 610.631 đồng); hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa chị L và anh A cùng Giấy chứng nhận của anh A do chị L vi phạm cam kết không bán nhà trong 36 tháng và anh A không chứng minh được việc thanh toán thực tế; bác yêu cầu của anh A đòi giao nhà do nguyên đơn vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng.
  2. Vụ việc 2 (Bản án số 02/2021/DS-ST của TAND huyện Hàm Thuận Bắc và xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Bình Thuận): Ông Châu Tấn V khởi kiện đòi vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Thu H giao 353 m² đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/09/2013 với giá 30.000 đồng (đăng ký biến động ngày 19/09/2013). Bị đơn phản tố, khẳng định hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo nhằm làm tin cho khoản vay 30.000 đồng. TAND cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. TAND tỉnh Bình Thuận chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị đơn, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, sửa bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo dựa trên các căn cứ: giá chuyển nhượng thấp hơn nhiều so với giá thị trường; có người làm chứng xác nhận môi giới vay tiền; ông V không có tài liệu chứng minh đã giao tiền và không nhận bàn giao tài sản trên thực tế.
  3. Vụ việc 3 (Bản án số 47/2021/DS-PT ngày 08/02/2021): Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa số 143. Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp nợ vay giữa ông Th và ông E, vợ chồng ông E đã lập hợp đồng tặng cho thửa đất 143 cho con trai là ông Tr (ông Tr đã được cấp Giấy chứng nhận), làm cho ông E không còn tài sản để thi hành nghĩa vụ trả nợ. Tòa án xác định đây là hành vi tẩu tán tài sản, xác lập giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.

Từ phân tích thực tiễn, tác giả chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế bắt nguồn từ sự bất cập, chưa rõ ràng của các điều luật và kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện của một bộ phận Thẩm phán. Khóa luận đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:

  • Bổ sung định nghĩa pháp lý cụ thể về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo vào văn bản luật.
  • Ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành Điều 124, cụ thể hóa các tiêu chí xác định hành vi trốn tránh nghĩa vụ tại Khoản 2 Điều 124.
  • Làm rõ nguyên tắc bồi thường thiệt hại do trượt giá tài sản và quy định cụ thể tư cách "bên có lỗi" tại Điều 131.
  • Bổ sung quy định bắt buộc chủ sở hữu phải chứng minh tư cách sở hữu tài sản và quy định cụ thể tiêu chí xác định "người thứ ba ngay tình" tại Điều 133 nhằm ngăn chặn hành vi trục lợi.
  • Quy định thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu ở mức hợp lý đối với một số loại giao dịch giả tạo nhằm tránh ách tắc trong thu thập chứng cứ.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn của Thẩm phán trong việc đánh giá toàn diện các chứng cứ gián tiếp (giá giao dịch so với thị trường, việc bàn giao tài sản, lời khai người làm chứng).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và chỉ ra bản chất pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là sự sai lệch có chủ ý giữa ý chí nội tại và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài. Nghiên cứu đã chứng minh rằng các tranh chấp giả tạo trong thực tế chủ yếu phát sinh dưới hai dạng: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất che giấu hợp đồng vay tài sản (như Vụ việc 1 và Vụ việc 2) và hợp đồng tặng cho tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án (như Vụ việc 3).
  • Hệ thống kiến nghị lập pháp: Khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: chuẩn hóa khái niệm; ban hành văn bản hướng dẫn nhận diện hành vi trốn tránh nghĩa vụ; xác lập cơ chế tính toán bồi thường thiệt hại do trượt giá tài sản; thiết lập cơ chế kiểm soát việc chuyển nhượng quyền sở hữu để bảo vệ bên thứ ba ngay tình nhưng không phương hại đến chủ sở hữu thực sự; và hoàn thiện quy tắc đánh giá chứng cứ thực tế tại Tòa án.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Tác giả đã tiếp thu và phát triển kết quả nghiên cứu từ các luận văn của Trần Thị Nguyên (2021) và Nguyễn Hải Yến (2021). Đồng thời, khóa luận khắc phục hạn chế của các công trình đi trước bằng cách đưa ra các giải pháp có tính tương thích cao với những bất cập lập pháp được chỉ ra, kết hợp kiểm chứng trực tiếp qua các bản án xét xử theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản; nguồn tư liệu bản án được thu thập từ một số địa phương cụ thể (Hà Nội, Bình Thuận), chưa bao quát toàn diện các dạng giao dịch giả tạo trong lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp hoặc tài sản vô hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giao dịch dân sự giả tạo có yếu tố nước ngoài, giao dịch giả tạo trên môi trường số/giao dịch điện tử, và khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc để xây dựng bộ tiêu chí án lệ chuẩn mực cho Tòa án các cấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Tố tụng Dân sự; cung cấp góc nhìn thực tiễn cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và chuyên viên pháp lý tham gia giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần phân tích kỹ thuật lập pháp và so sánh đối chiếu giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015 tại Chương II.
    • Phương pháp phân tích chứng cứ gián tiếp (chênh lệch giá trị chuyển nhượng, tình trạng quản lý sử dụng tài sản, tài liệu giao nhận tiền) để bóc tách giao dịch giả tạo che giấu giao dịch vay nợ qua các bản án tại Chương III.

Câu hỏi thường gặp

1. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo có điểm gì khác biệt về bản chất ý chí so với các giao dịch vô hiệu do lừa dối hoặc cưỡng ép?
Trong giao dịch vô hiệu do lừa dối hoặc cưỡng ép, sự sai lệch ý chí xuất phát từ tác động ngoại cảnh bất hợp pháp khiến một bên bị khiếm khuyết ý chí. Ngược lại, trong giao dịch giả tạo, các bên hoàn toàn tự nguyện cùng nhau xác lập giao dịch nhưng đã thỏa thuận trước việc cố ý bày tỏ ý chí ra bên ngoài không đúng với ý chí đích thực bên trong nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc né tránh nghĩa vụ.

2. Khi một giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, hiệu lực của giao dịch bị che giấu được xử lý như thế nào theo Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015?
Giao dịch giả tạo sẽ bị tuyên bố vô hiệu, trong khi giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp chính giao dịch bị che giấu đó cũng bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc quy định của luật khác có liên quan (ví dụ: giao dịch bị che giấu vi phạm điều cấm của luật chuyên ngành hoặc không tuân thủ quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực).

3. Trong Bản án số 214/2020/DS-PT của TAND TP. Hà Nội, Tòa án căn cứ vào đâu để xác định nguyên đơn có 20% mức độ lỗi và phải bồi thường thiệt hại?
Tòa án xác định bản chất giao dịch giữa nguyên đơn (ông H, bà N) và bị đơn (chị L) là giao dịch vay nợ, việc ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 873 chỉ là giả tạo. Do nguyên đơn biết rõ tính chất giả tạo nhưng vẫn tự nguyện ký kết hợp đồng chuyển nhượng công chứng, tạo điều kiện cho các phát sinh pháp lý phức tạp tiếp theo, nên nguyên đơn được xác định là cùng có lỗi với mức độ 20% và phải chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng số tiền 610.631 đồng cho bị đơn khi hủy hợp đồng.

4. Vì sao quy định không hạn chế thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo tại Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 vừa có ưu điểm vừa có nhược điểm?
Ưu điểm của quy định này là bảo vệ triệt để trật tự công cộng, lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của người thứ ba bị xâm hại mà không bị giới hạn thời gian. Tuy nhiên, nhược điểm trong thực tiễn là nếu tranh chấp xảy ra sau một thời gian quá dài, các bên và Tòa án sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác minh, thu thập chứng cứ và tài liệu để chứng minh ý chí đích thực của các bên tại thời điểm giao kết.

5. Cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình đối với tài sản đã đăng ký quyền sở hữu tại Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 bộc lộ kẽ hở nào theo phân tích của tác giả?
Quy định này xác định giao dịch với người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu nếu người này căn cứ vào việc tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, luật chưa quy định cụ thể nghĩa vụ chứng minh tư cách sở hữu ban đầu và thiếu định nghĩa chi tiết về "người thứ ba ngay tình", dẫn đến nguy cơ các chủ thể xấu lợi dụng việc sang tên đăng ký tài sản từ một giao dịch vô hiệu rồi nhanh chóng chuyển nhượng cho bên thứ ba nhằm hợp pháp hóa tài sản chiếm hữu bất hợp pháp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Hà đã làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng và đánh giá toàn diện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Thông qua việc phân tích sâu sắc các bản án xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp, công trình đã chỉ ra những điểm nghẽn trong kỹ thuật lập pháp và thực tiễn đánh giá chứng cứ. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử các tranh chấp dân sự tại Việt Nam.