Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giao dịch dân sự là phương thức pháp lý quan trọng và phổ biến để các cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng và kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân ngày càng đa dạng, phức tạp; kéo theo đó là sự gia tăng của các giao dịch dân sự bị vô hiệu do nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Chế định giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu đóng vai trò bảo đảm trật tự pháp lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia cũng như người thứ ba có liên quan.

Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã dành Phần thứ nhất, Chương VIII để quy định về giao dịch dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, khoảng trống pháp lý và sự thiếu đồng bộ trong áp dụng pháp luật, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại và bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận hướng tới làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; phân tích thực trạng quy định pháp luật trong BLDS 2015; khảo sát thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo 4 nhiệm vụ của tác giả):

  1. Phân tích, lý giải và làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật Dân sự Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu và đánh giá hiệu quả về những ưu điểm, hạn chế của những quy định pháp luật đó.
  3. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thông qua việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch bị vô hiệu trong một số vụ án do Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử.
  4. Nhận định một số tồn tại và đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong BLDS 2015.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật thực định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu (trọng tâm là BLDS 2015) và thực tiễn giải quyết loại việc này tại cơ quan xét xử.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội, thông qua thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội và Toà án nhân dân cấp huyện trực thuộc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các số liệu thụ lý, giải quyết án dân sự giai đoạn từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 9 năm 2023, kết hợp phân tích các bản án phúc thẩm điển hình năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Khái niệm và điều kiện có hiệu lực: Điều 116 (khái niệm giao dịch dân sự), Điều 117 (điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự), Điều 122 (giao dịch dân sự vô hiệu), Điều 124 (giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo) BLDS 2015.
  • Cơ chế xử lý hậu quả: Điều 131 (hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: không làm phát sinh quyền nghĩa vụ, khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả tài sản, bên ngay tình không phải hoàn trả hoa lợi/lợi tức, trách nhiệm bồi thường thiệt hại), Điều 133 (bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình), Điều 105 (quy định về tài sản), Điều 158 (quyền sở hữu), Điều 189 (quyền sử dụng), Điều 407 và Điều 408 (hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại).
  • Văn bản hướng dẫn và luật chuyên ngành: Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở); Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/04/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất); Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 04/04/2019 của TANDTC (giải đáp nghiệp vụ về chuyển giao cho người thứ ba ngay tình); Luật Công chứng năm 2014 (Điều 2, Điều 38).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng trong Chương 1 để làm sáng tỏ các khái niệm, đặc trưng pháp lý, cấu trúc hậu quả và ý nghĩa của chế định.
  • Phương pháp phân tích và so sánh luật học: Áp dụng trong Chương 2 để đối chiếu các quy định của BLDS 2015 với BLDS 2005, chỉ ra những bước tiến bộ cùng những bất cập, mâu thuẫn giữa BLDS với các luật chuyên ngành.
  • Phương pháp logic, thống kê và tổng kết thực tiễn: Áp dụng trong Chương 3 để xử lý số liệu xét xử thực tế của TAND TP Hà Nội, phân tích án lệ/bản án cụ thể và khái quát hóa thành các nhóm vướng mắc thực tế.

Nguồn dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam; giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; các công trình nghiên cứu, bài viết học thuật trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân; báo cáo tổng kết công tác thụ lý án của TAND Thành phố Hà Nội (10/2022 - 09/2023) và các bản án thực tế đã có hiệu lực pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho việc nhận thức chế định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:

  • Khái niệm: Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không thỏa mãn một hoặc nhiều điều kiện luật định tại Điều 117 BLDS 2015. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là toàn bộ những hệ quả pháp lý mà Nhà nước buộc các bên phải gánh chịu và thực hiện do hành vi tham gia vào giao dịch bị vô hiệu.
  • Đặc điểm: Tác giả phân tích 5 đặc điểm pháp lý cốt lõi:
    1. Tính mặc nhiên: Hậu quả xảy ra tự động ngay từ thời điểm giao dịch được xác lập đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay việc yêu cầu Tòa án tuyên bố.
    2. Tính pháp lý: Do các quy phạm pháp luật dân sự quy định cụ thể, bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ khuôn khổ BLDS 2015.
    3. Tính đối lập: Giao dịch vô hiệu làm triệt tiêu mục đích của các bên; về mặt thực tế có bên được hưởng lợi, có bên chịu thiệt hại.
    4. Tính bắt buộc thực hiện: Mang bản chất trách nhiệm tài sản nhằm khắc phục tổn thất, buộc các bên hoàn trả cho nhau hoặc bồi thường.
    5. Tính liên quan: Gắn liền với pháp luật hợp đồng (Điều 407 BLDS 2015) và các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bảo vệ bên thứ ba.
  • Phân loại hậu quả pháp lý:
Tiêu chí phân loại Phân nhóm cụ thể Nội dung/Bản chất
Căn cứ vào bản chất hậu quả Hệ quả bất lợi Bên có lỗi phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chịu tịch thu tài sản nếu vi phạm điều cấm.
Hệ quả có lợi Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả (khoản 3 Điều 131 BLDS 2015).
Căn cứ vào ý chí các bên Hậu quả mong muốn Các bên tự thỏa thuận giải quyết hậu quả phù hợp với quy định pháp luật mà không cần can thiệp tố tụng.
Hậu quả không mong muốn Phát sinh theo sự điều chỉnh bắt buộc của pháp luật khi các bên không thể tự thỏa thuận.
Căn cứ vào sự tác động Tác động đến các bên giao dịch Không làm phát sinh quyền/nghĩa vụ từ đầu, khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại.
Tác động đến người thứ ba Bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng hoặc bồi thường cho người thứ ba ngay tình (Điều 133 BLDS 2015).
  • Ý nghĩa pháp lý: Xác định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên, ngăn chặn việc lợi dụng giao dịch vô hiệu để lừa dối; bảo vệ bên thứ ba ngay tình; tạo công cụ pháp lý chuẩn mực để cơ quan xét xử ra phán quyết công bằng, duy trì sự ổn định trong lưu thông dân sự.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Tác giả đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định trong BLDS 2015 và chỉ ra các khoảng cách giữa quy định luật với thực tế:

  • Nội dung điều chỉnh của BLDS 2015:
    • Thời điểm xác định hậu quả: Phân biệt thời điểm giao kết đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối và thời điểm Tòa án ra bản án/quyết định tuyên bố đối với giao dịch vô hiệu tương đối.
    • Vô hiệu hóa ý chí: Quy định tại khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 làm vô hiệu các thỏa thuận cam kết kể từ thời điểm xác lập.
    • Khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả tài sản: Phân biệt đối với động sản, bất động sản (QSDĐ, nhà ở) và công việc đã thực hiện/chưa thực hiện. Áp dụng 3 phương thức: hoàn trả song phương, hoàn trả đơn phương, tịch thu toàn bộ.
    • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Nguyên tắc "bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường" (khoản 4 Điều 131). Xác định thiệt hại dựa trên Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP (chi phí khôi phục hư hỏng, chi phí làm tăng giá trị tài sản, chênh lệch giá thị trường).
    • Bảo vệ người thứ ba ngay tình: Quy định tại Điều 133 BLDS 2015 đối với tài sản không phải đăng ký và tài sản phải đăng ký quyền sở hữu; mở rộng theo Công văn số 64/TANDTC-PC đối với các giao dịch mang tính chất bảo đảm hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất.
  • Những ưu điểm nổi bật: Khắc phục hạn chế của BLDS 2005 bằng cách công nhận quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức cho bên ngay tình; không buộc người thứ ba ngay tình phải trả lại tài sản đã đăng ký trong một số trường hợp luật định; bổ sung quyền cho chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu bên có lỗi hoàn trả chi phí và bồi thường thiệt hại.
  • Bất cập, hạn chế cần khắc phục:
    1. Vấn đề khôi phục tình trạng ban đầu: Khó xử lý khi bên nhận tài sản (đặc biệt là QSDĐ) đã xây dựng công trình kiên cố, sửa chữa làm tăng giá trị tài sản với chi phí lớn (nguy cơ gây lãng phí nếu buộc tháo dỡ); bất khả thi trong việc khôi phục đối với đối tượng hợp đồng là "công việc đã thực hiện" (dịch vụ pháp lý, vận chuyển).
    2. Quy định hoàn trả những gì đã nhận: Chưa có hướng dẫn xác định giá trị khi "không thể hoàn trả bằng hiện vật"; biến động giá bất động sản khiến bên trả lại đất chịu thiệt hại lớn; chưa quy định rõ thời điểm, thời hạn các bên phải hoàn trả tài sản, tạo kẽ hở cho bên có nghĩa vụ trì hoãn.
    3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Khái niệm "bên có lỗi" chưa bao quát được lỗi của bên thứ ba tham gia quy trình xác lập giao dịch (như mâu thuẫn giữa Điều 131 BLDS với Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 về trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng); thiếu tiêu chí phân định lỗi cụ thể trong các trường hợp vô hiệu do nhầm lẫn hoặc chủ thể không có quyền định đoạt.
    4. Bảo vệ người thứ ba ngay tình: Khoản 2 Điều 133 chưa nêu rõ "bản án, quyết định" là bản án có hiệu lực pháp luật hay cả bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực; khoản 3 Điều 133 chưa quy định căn cứ xác định và thời điểm tính "chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại"; chưa luật hóa việc bảo vệ người thứ ba ngay tình nhận chuyển giao các quyền khác đối với tài sản (quyền bề mặt, quyền hưởng dụng, quyền đối với bất động sản liền kề).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu tại Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện

  • Thực trạng giải quyết tranh chấp tại TAND TP Hà Nội:
    • Số liệu thống kê: Từ tháng 10/2022 đến tháng 9/2023, TAND TP Hà Nội đã thụ lý giải quyết 1.988 vụ việc dân sự cấp sơ thẩm và 520 vụ việc dân sự cấp phúc thẩm.
    • Đặc điểm tranh chấp: Số lượng yêu cầu tuyên bố vô hiệu và xử lý hậu quả chiếm tỷ lệ lớn; tập trung chủ yếu vào hai nhóm: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tín dụng. Thường xuyên xuất hiện dạng tranh chấp chuyển nhượng QSDĐ giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền/thế chấp tài sản. Hai hậu quả phát sinh tranh chấp gay gắt nhất là hoàn trả tài sản và xác định thiệt hại để bồi thường.
  • Phân tích án lệ thực tế:
    • Vụ án thứ nhất (Bản án số 125/2023/DS-PT ngày xét xử phúc thẩm tại TAND TP Hà Nội):
      • Nội dung: Anh Đỗ V.H vay của anh Nguyễn B.H2 số tiền 2.000.000.000 đồng (lãi thỏa thuận 40.000.000 đồng/tháng = 24%/năm), lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thửa đất số 30 (334,4m2) sang tên ông Nguyễn B.V và bà Tạ T.N làm tài sản thế chấp. Ông V, bà N sau đó chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Trần H.Q và chị Đoàn T.T với giá 3.000.000.000 đồng. Biên bản định giá xác định tổng giá trị nhà đất theo thị trường là trên 5 tỷ đồng.
      • Phán quyết của Tòa án: Tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H với ông V, bà N vô hiệu do giả tạo (Điều 124 BLDS); buộc anh H trả nợ gốc 2 tỷ đồng và lãi suất tính theo trần luật định 20%/năm (từ 04/01/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 20/09/2022 là hơn 1 tỷ đồng). Hợp đồng giữa ông V, bà N với anh Q, chị T bị tuyên vô hiệu do anh Q, chị T biết tài sản có nguồn gốc "nhận đặt của chủ cũ" (đang thế chấp) nên không phải người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS. Tòa buộc hoàn trả thửa đất cho anh H, buộc ông V và bà N hoàn trả tiền và bồi thường thiệt hại cho anh Q, chị T.
    • Vụ án thứ hai (Bản án số 426/2023/DS-PT tại TAND TP Hà Nội):
      • Nội dung: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ số 2641 thuộc Dự án phức hợp G tại Thành phố Đ giữa ông Đàm T.T và Công ty TNHH H (tổng giá trị thanh toán 2.735.855.000 đồng). Hai bên thỏa thuận mua bán "căn hộ chung cư" để ở và kinh doanh kết hợp cho thuê lại, nhưng thực tế dự án là "căn hộ du lịch" (condotel) chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh đầy đủ, phát sinh tranh chấp về hiệu lực và xử lý hậu quả hợp đồng.
  • Hệ thống kiến nghị và giải pháp của tác giả:
    • Hoàn thiện quy định pháp luật: Hướng dẫn cụ thể phương thức định giá tài sản khi không thể hoàn trả bằng hiện vật; bổ sung quy định xử lý tài sản gia tăng do cải tạo, xây dựng khi khôi phục tình trạng ban đầu; phân định rõ trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng khi chứng nhận giao dịch vô hiệu; bổ sung quy định rõ "bản án, quyết định" tại khoản 2 Điều 133 phải là bản án đã có hiệu lực pháp luật; luật hóa cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình xác lập các quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với BĐS liền kề.
    • Nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TANDTC; nâng cao năng lực nghiệp vụ cho Thẩm phán; hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và báo cáo thống kê số liệu xét xử về giao dịch dân sự vô hiệu tại TAND các cấp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực tiễn:

  • Làm rõ cấu trúc lý luận 5 đặc tính, 3 tiêu chí phân loại và 7 nhóm nội dung điều chỉnh của chế định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo BLDS 2015.
  • Tổng kết bức tranh xét xử thực tế tại TAND TP Hà Nội giai đoạn 10/2022 - 09/2023 với 1.988 vụ việc sơ thẩm và 520 vụ việc phúc thẩm; chỉ ra phần lớn tranh chấp vô hiệu tập trung ở hợp đồng tín dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  • Chứng minh tính phức tạp của việc xác định yếu tố "ngay tình" qua Bản án số 125/2023/DS-PT (loại trừ tư cách người thứ ba ngay tình do đương sự biết tài sản thuộc diện "nhận đặt của chủ cũ") và việc kiểm soát trần lãi suất 20%/năm trong hợp đồng vay tài sản bị che giấu.

Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:

  • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung và ban hành Nghị quyết hướng dẫn Điều 131 và Điều 133 BLDS 2015:
    • Xác định thời điểm và cơ chế tính giá trị tài sản khi quy đổi từ hiện vật sang tiền.
    • Bổ sung nguyên tắc xử lý phần giá trị tăng thêm do người nhận tài sản đầu tư xây dựng hợp pháp/ngay tình.
    • Làm rõ tính hiệu lực của bản án, quyết định làm căn cứ xác lập giao dịch với người thứ ba ngay tình.
    • Thống nhất cơ chế phối hợp xử lý trách nhiệm bồi thường giữa các bên giao dịch với tổ chức công chứng có lỗi.

Đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện lý luận và phân tích sâu sắc các hạn chế thực định của BLDS 2015 từ góc độ ứng dụng xét xử.
  • Khác biệt với các công trình nghiên cứu khái quát trước đây, đề tài gắn trực tiếp cơ sở lý luận với thực tiễn xét xử cụ thể tại TAND TP Hà Nội thông qua các số liệu thống kê mới và các bản án phúc thẩm điển hình năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học và nguồn dữ liệu thống kê chuyên sâu về các vụ án giao dịch dân sự vô hiệu tại TAND TP Hà Nội chưa thực sự đầy đủ, toàn diện, tác giả chỉ tập trung khảo sát các dạng tranh chấp phổ biến (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán căn hộ).
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Mở rộng khảo sát thực tiễn xét xử trên phạm vi TAND nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; nghiên cứu chuyên sâu về hậu quả pháp lý của các giao dịch vô hiệu đối với các loại hình tài sản mới (như căn hộ du lịch condotel, tài sản số) và quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường dân sự với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Công chứng viên và những người thực hành quyền tư pháp.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần phân tích các điều kiện bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS 2015 kết hợp giải thích nghiệp vụ tại Công văn số 64/TANDTC-PC.
    • Phương pháp giải quyết quan hệ giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản và cách tính toán nghĩa vụ tài sản, bồi thường thiệt hại được minh họa chi tiết qua Bản án số 125/2023/DS-PT.
    • Hệ thống các bất cập pháp lý tại Chương 2 làm nguồn tham khảo giá trị cho việc xây dựng luận văn, công trình bình luận pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLDS 2015, bên ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu có phải trả lại hoa lợi, lợi tức đã thu được không?
Trả lời: Căn cứ khoản 3 Điều 131 BLDS 2015, bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Đây là điểm tiến bộ mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể chiếm hữu ngay tình.

2. Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối khác nhau như thế nào về thời điểm phát sinh hậu quả pháp lý?
Trả lời: Giao dịch vô hiệu tuyệt đối (do vi phạm điều cấm, trái đạo đức, giả tạo, vi phạm hình thức nghiêm trọng) mặc nhiên vô hiệu và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ kể từ thời điểm giao dịch được xác lập mà không cần Tòa án tuyên bố. Ngược lại, giao dịch vô hiệu tương đối (do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người chưa thành niên...) chỉ phát sinh hậu quả vô hiệu khi có yêu cầu của đương sự trong thời hiệu luật định và được ghi nhận bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.

3. Trong Bản án số 125/2023/DS-PT của TAND TP Hà Nội, vì sao bên thứ ba (anh Q, chị T) không được Tòa án công nhận là người thứ ba ngay tình?
Trả lời: Vì trong quá trình nhận chuyển nhượng thửa đất số 30, anh Q và chị T đã biết rõ thửa đất này là do bên bán (ông V, bà N) "nhận đặt của chủ cũ" (tức nhận thế chấp cho khoản vay của anh H nhưng quá hạn chuộc lại). Do có căn cứ để biết tài sản đang có tranh chấp và giao dịch nguồn có vi phạm, vợ chồng anh Q, chị T không đáp ứng điều kiện "không biết và không thể biết" nên không được bảo vệ theo Điều 133 BLDS 2015.

4. Mức lãi suất trong hợp đồng vay tài sản bị che giấu đằng sau hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giả tạo được TAND TP Hà Nội xử lý ra sao trong Bản án số 125/2023/DS-PT?
Trả lời: Mặc dù các bên thỏa thuận miệng mức lãi suất 40.000.000 đồng/tháng cho khoản vay 2 tỷ đồng (tương đương 24%/năm), TAND cấp phúc thẩm đã giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm buộc áp dụng mức trần lãi suất theo quy định pháp luật dân sự là 20%/năm, tính từ ngày 04/01/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/09/2022).

5. Điểm mâu thuẫn giữa BLDS 2015 và Luật Công chứng năm 2014 về trách nhiệm bồi thường khi giao dịch bị vô hiệu là gì?
Trả lời: Khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 chỉ quy định chung "bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường", về nguyên tắc chỉ áp dụng cho các bên tham gia giao dịch. Trong khi đó, khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 lại quy định tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên gây ra cho người yêu cầu công chứng khi chứng nhận giao dịch vô hiệu, tạo nên sự thiếu đồng bộ trong việc xác định tư cách chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh chế định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo BLDS 2015. Thông qua việc phân tích số liệu xét xử thực tế và các bản án điển hình tại TAND Thành phố Hà Nội giai đoạn 2022 - 2023, công trình đã làm nổi bật những vướng mắc điển hình trong xử lý giao dịch giả tạo, hoàn trả tài sản và bảo vệ người thứ ba ngay tình. Các đề xuất, giải pháp hoàn thiện được tác giả đúc kết có tính thực tiễn và giá trị tham khảo khoa học rõ rệt cho việc hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam.