Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, các quan hệ giao lưu dân sự ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp. Giao dịch dân sự đóng vai trò là phương tiện pháp lý quan trọng để các chủ thể thiết lập quyền, nghĩa vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất và kinh doanh. Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đã hoàn thiện đáng kể hành lang pháp lý điều chỉnh các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng như cơ chế giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu so với các bộ luật trước đây.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân cho thấy việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu vẫn nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập. Nhiều vụ án sau khi Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì việc xác định và xử lý hậu quả pháp lý chưa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, dẫn đến tình trạng khiếu nại, kháng cáo kéo dài qua nhiều cấp xét xử (bao gồm cả Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Một số quy định của BLDS 2015 vẫn còn khoảng trống hoặc chưa bao quát hết các tình huống thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu và hướng dẫn áp dụng cụ thể.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan (Mã số sinh viên: 450128, Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phùng Trung Tập, năm 2023) xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu (khái niệm, đặc điểm, căn cứ xác định), phân tích nội dung giải quyết hậu quả pháp lý theo quy định của BLDS 2015 qua từng trường hợp cụ thể, đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, lý giải và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam.
- Tìm hiểu quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
- Nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật thực định Việt Nam hiện hành về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
- Chỉ ra những bất cập thực tiễn và đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo pháp luật Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định liên quan đến hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong BLDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định và các công trình khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Hệ thống văn bản pháp luật sử dụng:
- Trọng tâm là BLDS 2015 (các Điều 3, 16, 19, 116, 117, 122, 123, 124, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133, 167, 385, 620).
- So sánh với BLDS 2005 (Điều 131, Điều 134) và Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (Điều 305).
- Pháp luật so sánh quốc tế: BLDS Cộng hòa Pháp (Điều 1178, 1179), BLDS CHLB Đức (Điều 104 đến 144), BLDS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020 (Điều 133, 143, 144, 146, 153 đến 157), BLDS Nhật Bản (Điều 92 đến 96, 119, 121) và BLDS & Thương mại Thái Lan (Điều 113).
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu kế thừa: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường (2005); luận văn thạc sĩ của Lê Minh Tuân (2018), Nguyễn Vũ Hường (2016), Đỗ Minh Thị Hoa (2017), Nguyễn Bùi Yến (2021), Nguyễn Trung Kiên (2022); bài viết nghiên cứu của Tưởng Duy Lượng (2018), Nguyễn Văn Điền (2017, 2019), Bùi Đăng Hiếu (2001), Bùi Minh Hồng, Đoàn Thị Phương Diệp (2019), Nguyễn Minh Oanh, Dương Anh Sơn (2017); giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh và đối chiếu pháp luật, phương pháp nghiên cứu tình huống và phân tích bản án thực tiễn.
- Nguồn dữ liệu thực tiễn: Khóa luận trích dẫn và phân tích các bản án thực tế: Bản án phúc thẩm số 190/2017/DS-PT ngày 08/9/2017 của TAND TP. Hà Nội; Bản án sơ thẩm số 02/2021/DS-ST ngày 04/02/2021 của TAND huyện H (bị cấp phúc thẩm sửa án theo kháng nghị của VKSND tỉnh B); Bản án sơ thẩm số 507/2019/DS-ST ngày 07/11/2019 của TAND quận Gò Vấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái niệm giao dịch, giao dịch dân sự vô hiệu và khái niệm hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng của chế định giao dịch dân sự vô hiệu:
- Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự (GDDS): Căn cứ Điều 116 BLDS 2015, GDDS bao gồm hợp đồng (Điều 385) và hành vi pháp lý đơn phương. GDDS có 4 đặc điểm: thể hiện ý chí của chủ thể; chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện; làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự; nội dung không trái luật và đạo đức xã hội.
- Điều kiện có hiệu lực của GDDS: Phân tích 4 điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015 gồm năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp), sự tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, điều kiện về hình thức trong trường hợp luật định.
- Khái niệm và phân loại GDDS vô hiệu: GDDS vô hiệu là giao dịch vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực tại Điều 117 theo quy định tại Điều 122 BLDS 2015. Tác giả phân loại GDDS vô hiệu theo các tiêu chí:
- Theo tính chất và trình tự: Giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch vô hiệu tương đối.
- Theo mức độ: Giao dịch vô hiệu toàn bộ và giao dịch vô hiệu từng phần (Điều 130 BLDS 2015).
- Theo nguyên nhân vi phạm: Vi phạm nội dung/mục đích; vi phạm tính tự nguyện; vi phạm năng lực nhận thức; vi phạm hình thức bắt buộc.
| Tiêu chí so sánh |
Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối |
Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối |
| Trình tự vô hiệu |
Mặc nhiên vô hiệu, không phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự hay phán quyết của Tòa án. |
Chỉ bị vô hiệu khi có yêu cầu của chủ thể có quyền và Tòa án ra quyết định tuyên bố vô hiệu. |
| Thời hiệu khởi kiện |
Không bị hạn chế thời gian yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu. |
Thời hiệu là 02 năm kể từ ngày xác lập giao dịch theo quy định tại Điều 132 BLDS 2015. |
| Ý nghĩa phán quyết của Tòa án |
Mang tính chất thông báo, xác nhận sự vô hiệu đã tồn tại từ trước. |
Mang tính chất phán xử, quyết định của Tòa án là cơ sở làm cho giao dịch trở nên vô hiệu. |
| Mục đích xác định |
Bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước và toàn xã hội. |
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính chủ thể tham gia giao dịch. |
- Khái niệm và đặc điểm hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu: Hậu quả pháp lý là những kết quả bất lợi mà các bên tham gia xác lập phải gánh chịu. Theo Điều 131 BLDS 2015, hậu quả pháp lý bao gồm: không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ từ thời điểm xác lập; khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (bằng hiện vật hoặc bằng tiền); bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
- Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
- Pháp: BLDS Pháp phân biệt rõ vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối tại Điều 1179; hợp đồng nhầm lẫn không mặc nhiên vô hiệu mà là căn cứ để yêu cầu hủy bỏ.
- CHLB Đức: Quy định tại Điều 104 đến 144; ghi nhận chế định vô hiệu một phần (Điều 139) và xác nhận giao dịch vô hiệu (Điều 141); giới hạn bồi thường thiệt hại tin tưởng không vượt quá giá trị lợi ích có được nếu giao dịch có hiệu lực.
- Trung Quốc: Điều 143 đến 157 BLDS 2020 quy định về hành vi pháp lý dân sự vô hiệu, nguyên tắc hoàn trả tài sản và bồi thường theo mức độ lỗi của mỗi bên.
- Nhật Bản: Tiếp cận dưới dạng hành vi pháp lý (Điều 92-96, 119, 121); hành vi vô hiệu không có giá trị ngay từ đầu trừ khi được thừa nhận lại.
Chương 2: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo pháp luật hiện hành
Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý trong từng trường hợp cụ thể:
- Thời điểm vô hiệu của giao dịch: Thời điểm vô hiệu được tính từ lúc giao dịch được xác lập, chứ không phải thời điểm Tòa án ra phán quyết. Các cam kết không có giá trị bắt buộc, nếu chưa thực hiện thì không được thực hiện, nếu đang thực hiện thì phải chấm dứt ngay.
- Hậu quả pháp lý trong các trường hợp cụ thể:
- Vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123): Thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối. Tác giả phân tích tính phức tạp khi xác định yếu tố "đạo đức xã hội" do sự thay đổi theo không gian, thời gian và phong tục tập quán.
- Giao dịch dân sự giả tạo (Điều 124): Giao dịch giả tạo mặc nhiên vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định. Đối với giao dịch giả tạo trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc Nhà nước, thời hiệu yêu cầu không bị hạn chế. Tác giả phân tích Bản án sơ thẩm số 02/2021/DS-ST (TAND huyện H) bị cấp phúc thẩm sửa án, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất $353\text{ m}^2$ vô hiệu do bản chất chỉ là biện pháp làm tin cho hợp đồng vay 30 triệu đồng.
- Do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mất năng lực nhận thức (Điều 126, 127, 128): Thuộc nhóm vô hiệu tương đối, cần có đơn yêu cầu trong thời hiệu luật định. Áp dụng hoàn trả song phương đối với nhầm lẫn hoặc người mất năng lực; áp dụng hoàn trả đơn phương (hoặc tịch thu sung công tài sản của bên vi phạm) đối với lừa dối, đe dọa.
- Vấn đề bất cập về lỗi trong nhầm lẫn: Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa Điều 126 và khoản 4 Điều 131 BLDS 2015. BLDS 2015 đã bỏ yếu tố "lỗi vô ý của bên không nhầm lẫn" trong định nghĩa nhầm lẫn, dẫn đến việc khi tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn, Tòa án gặp khó khăn trong việc xác định lỗi để buộc bồi thường thiệt hại theo Điều 131.
- Vi phạm điều kiện về hình thức bắt buộc (Điều 129, 132): Phân tích các trường hợp ngoại lệ công nhận hiệu lực khi một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ, hoặc khi hết thời hiệu khởi kiện 02 năm. Tác giả phân tích Bản án số 507/2019/DS-ST của TAND quận Gò Vấp (chuyển nhượng đất bằng giấy tay năm 2002, bên mua trả đủ tiền và nhận đất năm 2009) để chỉ ra sai sót của Tòa sơ thẩm khi không áp dụng quy định công nhận hiệu lực tại Điều 129 và thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015.
- Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình (Điều 133, Điều 167): Đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, giao dịch với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực (Điều 133 khoản 1). Ngoại lệ: chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản nếu người thứ ba có được thông qua hợp đồng không có đền bù (tặng cho, thừa kế) hoặc tài sản bị lấy cắp, bị mất (Điều 167).
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Dựa trên việc nhận diện các khoảng trống và điểm nghẽn thực tiễn ở Chương 2, tác giả đề xuất các giải pháp:
- Hoàn thiện quy định về xác định lỗi và bồi thường thiệt hại trong giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn: Đề nghị bổ sung quy định cụ thể phân định trách nhiệm bồi thường tại Điều 126 và khoản 4 Điều 131 BLDS 2015, xác lập rõ cơ chế xử lý khi nhầm lẫn xảy ra do lỗi của một bên, do lỗi của cả hai bên hoặc do yếu tố khách quan ngoài ý muốn.
- Hướng dẫn thống nhất tiêu chí xác định "thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ" tại Điều 129: Cần có văn bản giải thích áp dụng đối với các trường hợp nghĩa vụ phức tạp (vật đặc định, vật đồng bộ, chuyển giao quyền hoặc thực hiện công việc), tránh việc áp dụng tùy nghi giữa các cấp Tòa án.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình: Làm rõ trách nhiệm hoàn trả chi phí hợp lý và cơ chế bồi hoàn thiệt hại khi chủ sở hữu đòi lại động sản không phải đăng ký theo quy định tại Điều 133 và Điều 167 BLDS 2015.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo chuẩn mực pháp lý dân sự Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản).
- Làm rõ tính chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ giao dịch vô hiệu (là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 131 BLDS 2015).
- Đánh giá thực trạng áp dụng luật qua các vụ án cụ thể, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc xét xử không đồng nhất của Tòa án nhân dân các cấp đối với giao dịch giả tạo (Bản án 02/2021/DS-ST) và giao dịch vi phạm hình thức (Bản án 507/2019/DS-ST).
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Đưa ra định hướng sửa đổi, bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại do nhầm lẫn tại Điều 126, hoàn thiện tiêu chí áp dụng ngoại lệ hình thức tại Điều 129 và cơ chế xử lý quyền lợi người thứ ba ngay tình tại Điều 133 BLDS 2015.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các công trình trước đây (như luận án của Nguyễn Văn Cường năm 2005 hay bài viết của Tưởng Duy Lượng năm 2018) phần lớn tiếp cận giao dịch dân sự vô hiệu trên diện rộng. Khóa luận này tập trung nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống trực diện vào khía cạnh "hậu quả pháp lý" dưới góc độ quy định mới của BLDS 2015 và thực tiễn xét xử đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi của khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, công trình tập trung chủ yếu vào các quy định chung của BLDS 2015 và thực tiễn giải quyết thông qua một số bản án điển hình, chưa thể bao quát hết các giao dịch chuyên ngành đặc thù (như giao dịch thương mại quốc tế, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài hoặc dự án đầu tư lớn).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại gắn với các án lệ đã được Tòa án nhân dân tối cao công bố; nghiên cứu chuyên sâu việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong các giao dịch bất động sản đã qua nhiều lần chuyển nhượng biến động.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu chế định giao dịch dân sự, hợp đồng và bồi thường thiệt hại.
- Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư) trong việc đối chiếu, đánh giá các điều kiện áp dụng Điều 124, 126, 129, 131 và 133 BLDS 2015 khi giải quyết tranh chấp.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng đối chiếu so sánh giao dịch vô hiệu tuyệt đối và tương đối; phân tích xung đột pháp lý giữa Điều 126 và Điều 131 về xác định lỗi trong nhầm lẫn; phân tích các sai sót thực tế trong Bản án số 507/2019/DS-ST về áp dụng ngoại lệ hình thức theo Điều 129 BLDS 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Thời điểm vô hiệu của giao dịch dân sự được BLDS 2015 xác định là khi nào?
Thời điểm vô hiệu của giao dịch dân sự được tính từ thời điểm giao dịch được xác lập, chứ không phải thời điểm Tòa án ra bản án hoặc quyết định tuyên bố vô hiệu. Khi giao dịch vô hiệu, coi như chưa từng có giao dịch được xác lập, các bên không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự từ thời điểm xác lập.
2. Giao dịch dân sự vi phạm điều kiện hình thức bắt buộc có bắt buộc bị vô hiệu trong mọi trường hợp không?
Không. Theo Điều 129 BLDS 2015, giao dịch vi phạm hình thức bắt buộc vẫn được Tòa án công nhận hiệu lực nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch và có yêu cầu Tòa án công nhận. Ngoài ra, nếu hết thời hiệu yêu cầu 02 năm theo Điều 132 BLDS 2015 mà các bên không yêu cầu thì giao dịch đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập gì về quy định bồi thường thiệt hại do nhầm lẫn giữa Điều 126 và Điều 131 BLDS 2015?
Khoản 4 Điều 131 quy định bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Tuy nhiên, Điều 126 BLDS 2015 về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn đã bỏ quy định về yếu tố lỗi (khác với Điều 131 BLDS 2005 trước đây coi nhầm lẫn là do lỗi vô ý của bên kia). Do đó, khi tuyên bố giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, Tòa án không có căn cứ pháp lý rõ ràng để xác định bên nào có lỗi nhằm áp dụng khoản 4 Điều 131.
4. Khi nào chủ sở hữu được quyền đòi lại động sản không phải đăng ký từ người thứ ba ngay tình?
Theo Điều 133 và Điều 167 BLDS 2015, chủ sở hữu chỉ có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người thứ ba ngay tình trong hai trường hợp: (i) Người thứ ba có được tài sản thông qua hợp đồng không có đền bù (như được tặng cho, thừa kế) từ người không có quyền định đoạt; (ii) Tài sản bị lấy cắp, bị mất hoặc các trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
5. Bản án số 02/2021/DS-ST được tác giả phân tích để minh họa cho trường hợp giao dịch vô hiệu nào?
Bản án số 02/2021/DS-ST của TAND huyện H được dùng để minh chứng cho trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124 BLDS 2015). Trong vụ án này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các bên ký kết công chứng chỉ nhằm mục đích "làm tin" cho hợp đồng vay tài sản 30 triệu đồng, do đó cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo BLDS 2015. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu án thực tế và luật học so sánh quốc tế, tác giả đã làm rõ các nguyên tắc xử lý tài sản, trách nhiệm bồi thường và cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình. Công trình đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp tại các Điều 126, 129, 131 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật và xét xử thực tiễn.