Chương I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của dé tài 1. Phương pháp dạy học theo dự án !. Khái niệm Theo tiếng Latinh “dy án” là Proicere có nghĩa là dự tính, dự định.
Theo nghĩa thông thường nhất, dự án được hiểu là một kế hoạch hoạt động được thực hiện bởi một nhóm người. Hiện nay, khái niệm dự án theo nghĩa chung nhất là tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trên địa ban cụ thé, trong khoảng thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định. Dự án không phải là khái niệm riêng của khoa học giáo dục. Khái niệm dự án được đề cập đến trong các lĩnh vực khác nhau như trong nghiên cứu, trong xây dựng cơ sở hạ tang, trong xây dựng luật.
Tuy nhiên, khi đưa dự án vào trong giáo dục thì những thuộc tính cơ bản nhất của khái niệm vẫn không mắt đi vi nó hướng tới mục tiêu cụ thể, được thực hiện trong khoảng thời gian nhất định và bằng “nguồn lực” nhất định (tài liệu, tri thức đã có). Day học theo dự án được dịch ra từ cụm từ tiếng anh: “Project — based — learing”, nó là một trong những phần cốt lõi của chương trình Intel teach to the Future: chương trình dạy học cho tương lai của Intel. Dy án dạy học là quá trình được tổ chức sao cho người học có khả năng giải quyết tổng thể các nhiệm vụ liên quan đến kiến thức, kỹ năng va đời sống thực tiễn phù hợp với trình độ của người học. Day học theo dự án là một hình thức dạy hoc, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
có tạo ra các sản phẩm có thé giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ qua trình học Kip, từ việc xác định mục đích, lập kế họach. đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quả Trang 14 Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án (PBL) vào việc day các vùng Kinh tế trong chương trình Địa lý lớp 12 — trình và kết qua thực hiện Lam việc nhóm là hình thức cơ ban của day học theo due an. PBL không phải là PPDH mới xuất hiện.
PBL được các nha tâm lý học. giáo dục học như Lev Vygotsky. Jerome Bruner, Jean Piaget và John Dewey xây dựng từ thể ky 19 và thuộc trường phái của thuyết học tập kiến tạo (Constructivism Learning). Một thuyết học tập nhắn mạnh đến việc tự xây dựng kiến thức của người học.
PBL là một mô hình học tập nhấn mạnh đến các hoạt động học tập mang tính lâu dai, liên môn, lấy học sinh làm trung tâm và hỏa nhập với những van dé của thực tiễn cuộc sống. PPDH này lính động hơn các phương pháp "truyền thông”. Trong một lớp học theo PBL, học sinh phải tự tô chức cỏng việc và tự quản lý thời gian. học sinh phải chủ động lam việc theo nhóm dé quyết định xem cân phải làm gi và như thé nào.
PPDH nay khác với hoạt động học tập theo câu hỏi ở chỗ nó nhắn mạnh đến tính hợp tác. Ngoài ra, nó cũng khác với dạy học hỏi đáp thông thường khác vì học sinh phải chủ động thiết kế những sản phẩm cụ thé dé thé hiện rõ họ đã và đang học được gì. Mục tiêu của một dự án là để học nhiều hơn vẻ một chủ đẻ chứ không phải là tìm ra câu trả loi đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra.§ Nguyễn Văn Hiền, để định nghĩa về PPDH nay can dựa trên 3 yếu tổ của phương pháp, đó là: người dạy, người học và phương tiện. Theo đỏ, PBL là: - Học sinh: được đóng vai thuộc những ngành nghé khác nhau; hoàn thành vai trỏ đó dựa trên kiến thức.
kĩ năng nhất định (đã có và sẽ có). - Giáo viễn: tạo vai trò cho học sinh sao cho gắn với nội dung chủ dé học; hỗ trợ học sinh hoàn thành vai trò đó. - Phương tiện: SGK, máy tính, Internet, chuyẻn gia, tài liệu tham khảo khác. Dé hỗ trợ học sinh, hướng học sinh đến với kiến thức chuẩn và đảm bảo tinh giáo đục.
giáo viên cẩn xây dựng Bộ câu hỏi định hướng gồm có: » Câu hỏi khái quát Trang 15 Vận dụng phương pháp day học theo dự án (PBL) vào việc dạy các vùng Kinh tế trong chương trình Địa lý lớp 12 * Câu hỏi bai học * Cau hỏi nội dung. Đề hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức và giải quyết được van dé, giáo viên cần đưa ra những dự án. Dự án này phải gắn liền với nội dung bài học và đặc biệt là gắn với thực tế địa phương. Học sinh phải đóng vai nhất định, có thể là một nhà nghiên cứu, quản lý, một vai trò nao đó dé các em có thể nghiên cứu, giải quyết vấn dé mà giáo viên đưa ra.
Dé hoàn thành dy án học sinh phải tham kháo nhiều tài liệu liên quan từ sách giáo khoa, báo chí, sách tham khảo các loại, đặc biệt nguồn tư liệu hết sức phong phú từ Internet. Những nội dung, kiến thức và phương pháp giải quyết các dự án trên của học sinh sẽ được thẻ hiện thông qua 3 bài tập: Bai tập 1: thiết kế 1 bài trình diễn đa phương tiện bằng MS.Powerpoint dé trình bảy kiến thức đã thu nhận được từ sách giáo khoa va các loại tải liệu, qua đó trả lời được các câu hỏi nội dung, câu hỏi bai học và phần nào hướng đến giải quyết câu hỏi khái quát. Bài tap 2: thiết kế một ấn phẩm bang MS.Publisher dé giới thiệu với mọi người trong cộng đồng hay cho xã hội những thông tin ma mình thu thập được, hoặc để quảng cáo, tuyên truyền, cổ động. cho một vấn dé đang được quan tâm hoặc một vin dé nóng bỏng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới dé tài.
Bài tập 3: thiết kế một trang Web bằng MS.Publisher để công bố các kết qua nghiên cứu, những thông tin, những giải pháp, nhằm phỏ biến thông tin và có thể thường xuyên trao đổi, thu thập kiến thức thông qua trao đổi với các bạn trong trường và những người có quan tâm đến van đẻ này. Đặc điểm phương pháp dạy học theo dự án Tir khái niệm trên có thé thấy PBL có những ưu điểm va hạn chế đối với việc tô chức quá trình đạy học. Những ưu điểm của PBL a) Dinh hướng vao học sinh: Trang 16 Vận dụng phương pháp day học theo dự án (PBL) vào việc day các vùng Kinh tế trong chương trình Địa lý lớp 12 ~ Tỉnh thách thức: PBL khuyến khích học sinh giải quyết những van dé phức tạp mang tinh hiện thực. Các em khám pha, đảnh giá, giải thích và tông hợp thông tin một cách chủ động.
Vi dụ như dé xuất các giải pháp bảo vệ môi trường. giải pháp chống ùn tắc giao thông hay đưa ra kế hoạch cho trường học xanh-sạch-đẹp hoặc bảy tỏ quan điểm của minh vẻ tinh bạn khác giới tuôi học trò. Tắt cả những hoạt động nảy đòi hỏi học sinh phải tư duy sâu sắc và nghiêm túc về nhiệm vụ của mình. Gây hứng thú: PBL.
ghi nhận rằng phương pháp học có ý nghĩa thúc đây mong muốn học tập của học sinh, tăng cường nang lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá. Khi học sinh có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học đối với các em cũng ting lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với bạn cùng lớp cũng lảm tảng hứng thú học tập của các em. Khi học sinh tham gia một cách nghiêm túc vào một dự án thì việc tiếp thu các kiến thức SẼ có sự gắn kết hơn.
~ Tính công tác: PBL thúc đấy sự cộng tác giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên. Cũng có khi sự hợp tác còn mở rộng ra đến cộng đồng. Ví dụ, học sinh có thể hỏi thêm, diéu tra thêm quan điểm của các chuyên gia hay của người din vé một vấn để mà nhóm đang quan tâm, ~ §w_ ví nhộn: Học sinh rất thích phương pháp học dựa trên dự án. Nhiều giáo viên sử dụng PBL cho biết các em rất mong muốn được đến trường học tập.
—_ Tinh sang tạo và khả năng làm việc nhóm: Trong các lớp học PBL, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm nhỏ học sinh trong lớp, đôi khi là cả lớp và đôi khí bởi cá nhân một học sinh. Mục tiêu chính của dự án lả dé tìm ra câu trả lời vẻ chủ dé do học sinh, giáo viên. hoặc giáo viên cùng học sinh dat ra, Khi học sinh nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, các em sẽ quyết định các cách thức giải quyết những vấn đẻ được đưa ra. Thường thì học sinh sẽ được yêu cầu đóng vai một nhà Trang L7 Vận dụng phương pháp day học theo dự án (PBL) vào việc day các vùng Kính tế trong chương trình Địa lý lớp 12 khoa học thực sự, một nhả kinh doanh.
một nhà thảm hiểm, một viên chức nhà nước, một nha lịch sử, nha nghiên cứu môi trường. Vi dụ, một nhóm học sinh có thé phải đóng vai ủy viên của Ủy ban Tư van Môi Trường Quốc lẻ với nhiệm vụ phải đưa ra những đẻ xuất đối với van dé môi trường. Tắt nhiên, giáo viên sé cung cấp những thông tin nên và những chi din, nhưng học sinh phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng vả cách thức giải quyết van dé trong phạm vi những tiêu chi do giáo viên dat ra: « Xác định một van dé phú hợp với học sinh. * Liên kết van đề với thé giới của các em học sinh.
* Tổ chức chủ dé xung quanh vấn dé/ dự án chứ không phải môn học. * Tạo cho học sinh cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học dé giải quyết vấn đẻ. * Khuyến khích sự cộng tác bang cách tạo ra các nhóm học tập. * Yêu cau tất cả học sinh trình bày kết quả học tập đưới hình thức một đự án hoặc một chương trình.
b) Định hướng vào thực tiển: ~ Tính liên quan: PBL tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút học sinh vào những dy án phức tạp trong thế giới thực, và học sinh sẽ dựa vào đó đẻ phát triển vả ứng dụng các kĩ năng và kiến thức của mình. Nội dung khóa học ý nghĩa hơn nhiễu vi nỏ dựa trên việc học hỏi từ thế giới thực va học sinh có thẻ tim thấy hứng thú trong việc học.