Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tài nguyên du lịch của tỉnh Cà Mau" được thực hiện bởi sinh viên Võ Thị Hồng Điệp dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Xuân Hậu tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ tháng 05/2003).
Về bối cảnh thực tiễn, du lịch thế giới và Việt Nam giai đoạn cuối thập niên 1990 - đầu những năm 2000 có sự phát triển rõ nét, đóng vai trò ngày càng lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội. Cà Mau là tỉnh địa đầu cực Nam Tổ quốc, sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với hệ sinh thái đất ngập nước, rừng ngập mặn lớn thứ hai thế giới (sau rừng cửa sông Amazon), hệ sinh thái rừng tràm U Minh, các sân chim nhiệt đới cùng bề dày 300 năm lịch sử khẩn hoang và hệ thống di tích cách mạng. Trong giai đoạn 1997–2002, hoạt động du lịch Cà Mau đã có sự tăng trưởng: lượng khách tăng từ 57.666 lượt lên 168.000 lượt, doanh thu tăng từ 46 tỷ đồng lên 103 tỷ đồng. Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên du lịch của tỉnh vẫn chưa được nghiên cứu, quy hoạch và khai thác tương xứng.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định gồm 3 nội dung:
- Củng cố và bổ sung những kiến thức đã học trong nhà trường, kết hợp vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội.
- Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch của tỉnh Cà Mau (bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn).
- Đưa ra một số phương hướng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch của tỉnh Cà Mau.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Xác định cơ sở khoa học của việc đánh giá tài nguyên du lịch.
- Khảo sát, đánh giá các loại tài nguyên du lịch của tỉnh.
- Định hướng khai thác các tài nguyên du lịch để phục vụ mục đích phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến năm 2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Cà Mau (gồm thành phố Cà Mau và 6 huyện: Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Đầm Dơi).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận sử dụng nguồn tài liệu thống kê giai đoạn 1997–2002; thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2003; định hướng quy hoạch đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống cơ sở lý luận địa lý du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch:
-
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999).
- Khái niệm du lịch và khách du lịch quốc tế theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), định nghĩa của Ủy ban Thống kê Hội Quốc Liên (1937), Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc (1963) và Hội nghị La Hay (1989).
- Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh (ngày 04/04/1984).
- Hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ du lịch: Điểm du lịch (phân loại 4 nhóm, căn cứ xác định, 5 nguyên tắc và quy trình quy hoạch 7 bước); Cụm du lịch; Tuyến du lịch (quan điểm và nguyên tắc thiết kế); Vùng du lịch theo quan niệm của L. Pirojnik (1985), Kotliarov (1978), N. Mironenko và I.T. Rodokhlebov (1981).
- Mô hình Hệ thống lãnh thổ du lịch của M. Buchvarov (1975) gồm 5 phân hệ liên kết (giao thông vận tải, khách du lịch, cán bộ phục vụ, tài nguyên du lịch, công trình kỹ thuật).
- Học thuyết thể tổng hợp lãnh thổ du lịch kế thừa từ học thuyết thể tổng hợp sản xuất - lãnh thổ của N. Koloxovxki với 3 giai đoạn hình thành.
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch của Đặng Duy Lợi (1992), Phạm Xuân Hậu, Trần Văn Thành, Trương Hoàng Phương (1995–1998).
-
Quan điểm nghiên cứu: Đề tài quán triệt 6 quan điểm địa lý học: (1) Quan điểm hệ thống - lãnh thổ; (2) Quan điểm tổng hợp; (3) Quan điểm môi trường sinh thái; (4) Quan điểm lịch sử viễn cảnh; (5) Quan điểm phát sinh; (6) Quan điểm phát triển du lịch bền vững.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra thực địa: Khảo sát thực tế hiện trạng tài nguyên tự nhiên, nhân văn và cơ sở hạ tầng tại Cà Mau; thu thập tài liệu tại các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp du lịch.
- Phương pháp phân tích tổng hợp - thống kê so sánh: Thu thập, phân loại, kế thừa chuỗi số liệu thống kê để đánh giá tiềm năng và hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch.
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Sử dụng và xây dựng các bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên, sơ đồ tuyến điểm du lịch và biểu đồ cơ cấu kinh tế.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Xuân Hậu và các chuyên gia quản lý du lịch tại địa phương.
-
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Sở Thương mại - Du lịch Cà Mau, Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, Sở Văn hóa - Thông tin, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Quản lý Di tích - Danh thắng, Trung tâm Xúc tiến Thương mại - Du lịch, Bảo tàng tỉnh Cà Mau, Thư viện tỉnh Cà Mau, Công ty Du lịch Cà Mau và Công ty Du lịch Công Đoàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Các cơ sở lý luận để tiến hành nghiên cứu đánh giá định hướng khai thác tài nguyên
Chương I hệ thống hóa khung lý thuyết nền tảng phục vụ công tác đánh giá và quy hoạch tài nguyên du lịch:
- Trình bày định nghĩa, vai trò, đặc điểm (tính bất biến về lãnh thổ, khả năng khai thác tại chỗ, tính mùa vụ) và phân loại tài nguyên du lịch thành 2 nhóm chính: Tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, nước, sinh vật) và Tài nguyên du lịch nhân văn (di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, lễ hội, yếu tố dân tộc học, đối tượng văn hóa - khoa học).
- Phân tích các cấp phân vị tổ chức lãnh thổ du lịch: Điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch và vùng du lịch; làm rõ cấu trúc 5 phân hệ trong mô hình hệ thống lãnh thổ du lịch của M. Buchvarov (1975) và cơ chế hình thành thể tổng hợp lãnh thổ du lịch theo học thuyết của N. Koloxovxki.
- Khái quát tình hình du lịch thế giới: Giai đoạn 1995–1999 doanh thu tăng bình quân 16%/năm; năm 2000 đạt 698 triệu lượt khách quốc tế và 476 tỷ USD doanh thu; phân tích biến động sụt giảm do sự kiện 11/9/2001 (khách quốc tế giảm 1,3%), ảnh hưởng của dịch SARS đầu năm 2003 và dự báo của WTO về triển vọng đạt 1 tỷ lượt khách năm 2010.
- Khái quát du lịch Việt Nam: Năm 2000 đón hơn 2 triệu lượt khách quốc tế, 11 triệu khách nội địa với 30.000 phòng lưu trú đạt chuẩn quốc tế; quý I/2003 đón trên 642.000 lượt khách quốc tế (chủ yếu từ Trung Quốc 26,3%, Mỹ 11,2%, Nhật Bản 9,6%) và 3 triệu lượt khách nội địa, đạt doanh thu 2.950 tỷ đồng. Tác giả cũng chỉ ra điểm hạn chế khi đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP quốc gia năm 2000 chỉ đạt khoảng 2,8% (tổng thể đạt khoảng 6%) và lao động trực tiếp chỉ chiếm khoảng 40.000 người (lao động gián tiếp 170.000 người), từ đó nêu mục tiêu phát triển ngành đến năm 2010 đón 5,5–6,0 triệu khách quốc tế và 25 triệu khách nội địa.
Chương II: Tài nguyên du lịch tỉnh Cà Mau
Chương II tập trung khảo sát, phân tích chi tiết các nguồn lực tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên địa bàn tỉnh Cà Mau:
- Vị trí và địa hình: Tỉnh nằm ở tọa độ 8°30'B – 9°33'B và 104°43'Đ – 105°24'Đ; diện tích tự nhiên đất liền là 5.211 km² cùng vùng biển chủ quyền gần 100.000 km²; đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 6 huyện (82 xã, phường, thị trấn tính đến đầu năm 2001). Địa hình đồng bằng tích tụ thấp phẳng cao từ 0,5m đến 1,5m (cục bộ từ 0,5m đến 3m). Quá trình bồi tụ phù sa diễn ra mạnh ở dải bờ biển Tây Nam từ Đất Mũi đến Bảy Háp mở rộng thêm 40–50 m/năm tạo nên hàng chục ngàn hecta bãi bồi; đồng thời hiện tượng xói lở nghiêm trọng diễn ra tại dải bờ biển Đông từ Gành Hào đến Hố Gùi (33,4 m/năm) và Nam Hố Gùi đến Bắc Vàm Xoáy (22,6 m/năm), gây mất trung bình 100 ha đất/năm. Đảo Hòn Buông (đỉnh cao 50m) có cấu tạo địa chất cổ từ kỷ Jura giữa (>180 triệu năm).
- Đặc trưng khí hậu: Mang tính chất cận xích đạo gió mùa; mặt trời qua thiên đỉnh 2 lần/năm (14/4 và 30/8); tổng bức xạ thực tế trung bình 120,3 kcal/cm²/năm; số giờ nắng thực tế khoảng 2.000–2.200 giờ/năm (mùa khô đạt 7,6 giờ/ngày, mùa mưa đạt 5,1 giờ/ngày). Nhiệt độ trung bình năm từ 26°C đến 27°C (tháng 4 nóng nhất 27,8°C, tháng 1 lạnh nhất 25°C; nhiệt độ cực đại 38,3°C ghi nhận tháng 4/1941, cực tiểu 15,3°C tháng 1/1963); tổng nhiệt độ hoạt động là 9.800°C. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.390–2.400 mm (trong đó 90%–93% tập trung từ tháng 5 đến tháng 11); độ ẩm tương đối trung bình 84,4%; lượng bốc hơi khoảng 1.000 mm/năm.
| Yếu tố khí hậu |
Giá trị đặc trưng tại Cà Mau |
| Tọa độ địa lý |
8°30'B – 9°33'B; 104°43'Đ – 105°24'Đ |
| Tổng bức xạ thực tế |
120,3 kcal/cm²/năm |
| Tổng nhiệt độ hoạt động |
9.800°C |
| Nhiệt độ trung bình năm |
26°C – 27°C (Biên độ nhiệt năm: 2,8°C) |
| Nhiệt độ cực trị |
Cao nhất: 38,3°C (4/1941); Thấp nhất: 15,3°C (1/1963) |
| Lượng mưa trung bình |
2.390 – 2.400 mm/năm (90%–93% vào mùa mưa) |
| Số giờ nắng thực tế |
~2.000 – 2.200 giờ/năm (Mùa khô: 7,6 h/ngày; Mùa mưa: 5,1 h/ngày) |
| Độ ẩm tương đối trung bình |
84,4% |
| Hướng gió chính |
Mùa hạ: Tây/Tây Nam (70–90%); Mùa đông: Đông (42%) |
- Thủy văn và tài nguyên sinh thái: Mật độ kênh rạch dày đặc với các trục sông lớn như Cái Tàu, Sông Đốc, Bảy Háp và kênh đào Cà Mau - Bạc Liêu, Cà Mau - Phụng Hiệp. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (cây đước) tập trung tại Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước; hệ sinh thái rừng ngập ngọt/lợ (cây tràm) phân bố tại U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời (tiêu biểu là khu rừng tràm Vồ Dơi). Diện tích rừng tự nhiên từ hơn 300.000 ha (năm 1930) nay còn gần 200.000 ha; các sân chim tự nhiên và vườn chim tại Lâm Viên 19/5 ngay trong trung tâm đô thị.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ghi dấu quá trình khai phá và kháng chiến như Chứng tích tội ác Bình Hưng, Di tích Đình Tân Hưng, Hồng Anh Thư Quán, Sắc tứ Quán Âm Cổ Tự, di tích Lung Lá - Nhà Thể, Chùa Cao Dân (Cao Vân); kết hợp các tuyến điểm du lịch sinh thái và văn hóa nội tỉnh, liên vùng.
Chương III: Hiện trạng và định hướng khai thác tài nguyên phát triển du lịch của tỉnh Cà Mau đến năm 2010
Chương III đánh giá tình hình hoạt động thực tế và đề xuất định hướng phát triển ngành:
- Đánh giá hiện trạng du lịch: Khách du lịch đến tỉnh tăng đều qua các năm (năm 1997 đón 57.666 lượt khách, năm 2002 đạt 168.000 lượt khách); doanh thu du lịch tăng trưởng tương ứng từ 46 tỷ đồng (1997) lên 103 tỷ đồng (2002). Tác giả phân tích cơ cấu GDP ngành du lịch - dịch vụ Cà Mau giai đoạn 1997–2001, thực trạng lực lượng lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, kết nối giao thông đường bộ còn cách trở.
- Căn cứ và mục tiêu định hướng đến năm 2010: Thiết lập các bảng dự báo khoa học về chỉ tiêu khách du lịch quốc tế và nội địa (Bảng 11), dự kiến tỷ lệ chi phí của khách (Bảng 12), dự báo doanh thu du lịch 2001–2010 (Bảng 13), dự báo giá trị tăng thêm (Bảng 14), nhu cầu phòng khách sạn (Bảng 15) và nhu cầu đào tạo lao động chuyên ngành (Bảng 16).
- Định hướng quy hoạch và dự án đầu tư: Đưa ra phương án tổ chức không gian tuyến điểm du lịch; phân tích các dự án trọng điểm đang và sẽ triển khai tại địa phương gồm:
- Dự án Công viên văn hóa - du lịch Mũi Cà Mau (quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 giai đoạn 1, quy mô 150 ha).
- Dự án Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Năm Căn (nằm trong khuôn khổ dự án "Bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển miền Nam Việt Nam").
- Dự án mở rộng, kéo dài Quốc lộ 1A từ thị trấn Năm Căn đến Đất Mũi.
- Dự án xây dựng bờ kè, chỉnh trang đô thị ven sông và dự án thu gom rác thải đô thị, rác thải trên sông tại TP. Cà Mau, thị trấn Năm Căn và thị trấn Sông Đốc.
- Giải pháp thực hiện: Đề xuất nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông - lưu trú, liên kết tuyến tour liên tỉnh (ĐBSCL và TP. Hồ Chí Minh), xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt là các giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái để đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch bền vững.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết các thông số địa lý tự nhiên của Cà Mau (tổng bức xạ thực tế 120,3 kcal/cm²/năm, nhiệt độ trung bình 26–27°C, tổng nhiệt độ hoạt động 9.800°C, lượng mưa 2.390–2.400 mm, tốc độ bồi tụ bờ Tây 40–50 m/năm và xói lở bờ Đông từ 22,6–33,4 m/năm). Đồng thời, văn bản phản ánh sát thực sự phát triển của du lịch địa phương giai đoạn 1997–2002 (doanh thu tăng từ 46 tỷ lên 103 tỷ đồng, lượng khách tăng từ 57.666 lên 168.000 lượt).
- Giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất định hướng phát triển không gian du lịch Cà Mau dựa trên thế mạnh cốt lõi là du lịch sinh thái rừng ngập mặn kết hợp du lịch tham quan di tích lịch sử - văn hóa; kiến nghị ưu tiên triển khai các dự án hạ tầng giao thông (Quốc lộ 1A đoạn Năm Căn - Đất Mũi), công viên văn hóa Mũi Cà Mau 150 ha, xử lý rác thải dòng sông và kè chỉnh trang đô thị ven sông.
- Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình nghiên cứu địa lý du lịch kế thừa và bổ sung các cơ sở khoa học từ các công trình trước đó tại vùng ĐBSCL (như nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch 1995, Phan Huy Xu và Trần Văn Thành 1998), cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn tỉnh Cà Mau, làm tài liệu tham khảo phục vụ định hướng quy hoạch du lịch bền vững đến năm 2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo tự nhận định của tác giả trong phần mở đầu, do hạn chế về thời gian thực hiện, nguồn tài liệu và điều kiện của sinh viên khi lần đầu vận dụng lý thuyết vào thực tế, khóa luận mới chỉ dừng lại ở bước phân tích sơ bộ hệ thống tài nguyên du lịch trên phạm vi tỉnh Cà Mau và xử lý chuỗi số liệu thống kê thứ cấp đến năm 2002.
- Hướng mở rộng: Cần tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu hoạt động du lịch sau năm 2002; tiến hành khảo sát điều tra xã hội học chuyên sâu về mức độ hài lòng và cơ cấu chi tiêu thực tế của du khách; nghiên cứu chi tiết sức chứa du lịch của hệ sinh thái rừng ngập mặn Năm Căn và Vườn Quốc gia U Minh Hạ nhằm ngăn ngừa nguy cơ suy thoái môi trường.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên các ngành Địa lý học, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn khi tìm kiếm tài liệu nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Cà Mau và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Cán bộ làm công tác quản lý, nghiên cứu quy hoạch phát triển du lịch sinh thái đất ngập nước.
- Các nội dung có giá trị sử dụng cao gồm: Khung phân tích lý luận về hệ thống lãnh thổ du lịch (Chương I), bộ số liệu đặc trưng khí hậu - thủy văn - địa hình bồi lở (Chương II), và hệ thống danh mục dự án đầu tư phát triển du lịch Cà Mau giai đoạn 2001–2010 (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Tốc độ bồi tụ và xói lở bờ biển tại Cà Mau được tác giả ghi nhận với số liệu cụ thể như thế nào?
Văn bản ghi nhận ở bờ biển Tây (đoạn từ Đất Mũi đến Bảy Háp), phù sa bồi mở rộng nhanh từ 40–50 m/năm tạo ra hàng chục ngàn hecta bãi bồi. Ngược lại, ở bờ biển Đông xảy ra sạt lở nghiêm trọng: đoạn Gành Hào đến Hố Gùi sạt lở 33,4 m/năm; đoạn Nam Hố Gùi đến Bắc Vàm Xoáy sạt lở 22,6 m/năm; bình quân mỗi năm diện tích đất bị sạt lở của tỉnh lên tới 100 ha.
2. Các chỉ tiêu nhiệt độ và lượng mưa đặc trưng của Cà Mau được thống kê ra sao?
Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 26°C đến 27°C, tháng nóng nhất là tháng 4 (27,8°C), tháng lạnh nhất là tháng 1 (25°C); nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 38,3°C (tháng 4/1941) và tối thấp tuyệt đối là 15,3°C (tháng 1/1963); tổng nhiệt độ hoạt động đạt 9.800°C. Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.390–2.400 mm, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm từ 90% đến 93% tổng lượng mưa cả năm.
3. Tác giả đã vận dụng mô hình lý thuyết nào để phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch?
Khóa luận sử dụng mô hình hệ thống lãnh thổ du lịch của M. Buchvarov (1975) gồm 5 phân hệ tương tác: Phương tiện giao thông vận tải, Phân hệ khách du lịch, Phân hệ cán bộ phục vụ, Phân hệ tài nguyên du lịch và Phân hệ công trình kỹ thuật; đồng thời vận dụng học thuyết thể tổng hợp sản xuất - lãnh thổ của N. Koloxovxki để giải thích sự hình thành thể tổng hợp du lịch.
4. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch Cà Mau giai đoạn 1997–2002 đạt được những con số nào?
Tổng lượng khách du lịch đến tỉnh tăng từ 57.666 lượt người (năm 1997) lên 168.000 lượt người (năm 2002). Tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh tăng từ 46 tỷ đồng (năm 1997) lên 103 tỷ đồng (năm 2002).
5. Những di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu nào của Cà Mau được thống kê trong khóa luận?
Khóa luận liệt kê các di tích tiêu biểu: Chứng tích tội ác Bình Hưng, Di tích Đình Tân Hưng, Hồng Anh Thư Quán, Di tích Sắc tứ Quán Âm Cổ Tự Cà Mau, Lung Lá - Nhà Thể, Chùa Cao Dân (Cao Vân), cùng vườn chim tại Lâm Viên 19/5 ngay trung tâm thành phố Cà Mau.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Tài nguyên du lịch của tỉnh Cà Mau" của tác giả Võ Thị Hồng Điệp là công trình địa lý du lịch tổng hợp, phản ánh toàn diện nguồn lực tự nhiên và nhân văn của vùng đất cực Nam Tổ quốc đầu thập niên 2000. Dựa trên các quan điểm địa lý hệ thống - lãnh thổ và chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 1997–2002, tác giả đã luận giải rõ nét mối quan hệ giữa các thành phần địa hình bồi lở, khí hậu cận xích đạo, hệ sinh thái rừng ngập mặn với tiềm năng phát triển ngành. Các định hướng quy hoạch không gian và danh mục dự án đầu tư được đề xuất trong khóa luận cung cấp nguồn tài liệu khoa học thiết thực cho công tác nghiên cứu và định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại địa phương.