Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, môn Địa lí giữ vai trò thiết yếu trong việc hình thành thế giới quan khoa học, giúp học sinh nhận thức và giải thích các quy luật phân bố không gian của các hiện tượng tự nhiên và kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học thời kỳ 1998–1999 cho thấy phương pháp giảng dạy tại nhiều trường trung học phổ thông (THPT) vẫn mang nặng tính truyền thống: giáo viên chủ yếu diễn giảng một chiều, đọc – chép hoặc yêu cầu học sinh học thuộc lòng nội dung sách giáo khoa (SGK). Bản đồ địa lí – vốn được xem là "cuốn sách giáo khoa thứ hai" và là nguồn tri thức độc lập – thường chỉ được sử dụng như một phương tiện trực quan để minh họa thụ động cho lời giảng, chưa được khai thác đúng mức nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập của học sinh.

Nghị quyết của Đảng năm 1991 về đường lối phát triển kinh tế – xã hội đã khẳng định giáo dục là sự nghiệp đào tạo con người vừa phục vụ nhiệm vụ trước mắt vừa chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài, đòi hỏi nhà trường phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Để đáp ứng yêu cầu này, khóa luận tốt nghiệp "Phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học địa lý ở trường phổ thông theo xu hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản đồ giáo khoa, ngôn ngữ bản đồ và các phương pháp dạy học Địa lí lấy học sinh làm trung tâm.
  2. Điều tra, đánh giá thực trạng sử dụng bản đồ và thiết bị dạy học Địa lí tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn kiến tập và thực tập sư phạm.
  3. Xây dựng quy trình rèn luyện 7 nhóm kĩ năng khai thác bản đồ cơ bản cho học sinh phổ thông.
  4. Thiết kế hệ thống bài giảng mẫu và bài tập sử dụng bản đồ, lược đồ câm cho các bài học cụ thể thuộc chương trình Địa lí lớp 10, 11 và 12 (chương trình phân ban và chưa phân ban).
  5. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của việc đưa bản đồ câm vào khâu củng cố kiến thức và phát triển tư duy không gian cho học sinh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp và quy trình hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ địa lí theo định hướng dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Chương trình Địa lí THPT gồm Địa lí lớp 10 (Kinh tế – Xã hội đại cương), Địa lí lớp 11 (Kinh tế – Xã hội các nước) và Địa lí lớp 12 (Địa lí Việt Nam).
    • Không gian và thời gian: Tiến hành khảo sát, dự giờ và giảng dạy thực nghiệm tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (như THPT Nguyễn Chí Thanh, THPT Ten Lơ Man, THPT Lê Minh Xuân, THPT Nguyễn Thái Bình, THPT Nguyễn An Ninh, THPT Bùi Thị Xuân và trường THPT bán công) trong năm học 1998 – 1999.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên lý luận dạy học hiện đại về mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, trong đó học sinh là chủ thể tự lực khám phá tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Về mặt bản đồ học giáo khoa, tác giả tiếp thu quan điểm xem bản đồ là mô hình ký hiệu hình tượng không gian được xây dựng trên cơ sở toán học xác định, phản ánh sự phân bố, mối tương quan và biến đổi của các đối tượng tự nhiên – xã hội; đồng thời tham khảo trực tiếp tài liệu chuyên môn "Rèn luyện kĩ năng địa lí" của tác giả Mai Xuân San về kỹ thuật rèn luyện kỹ năng đọc bản đồ, biểu đồ và lát cắt địa hình.

Tác giả đã kết hợp đồng bộ 5 phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:

  1. Phương pháp phân tích hệ thống: Đặt các yếu tố giáo viên, học sinh, sách giáo khoa, phương tiện trực quan và tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT vào một chỉnh thể tương tác đa chiều để phân tích điểm mạnh, hạn chế và tìm ra giải pháp tối ưu.
  2. Phương pháp phân loại: Tập hợp, phân tích và hệ thống hóa các hiện tượng địa lí, các dạng bản đồ và phương pháp dạy học theo từng tiêu chí đặc trưng.
  3. Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình biến đổi của chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học qua các thời kỳ phát triển giáo dục để kế thừa có chọn lọc.
  4. Phương pháp tham khảo rút kinh nghiệm: Tổng hợp, kế thừa các kinh nghiệm sư phạm từ tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước và thực tế giảng dạy của các giáo viên THPT.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức các tiết dạy thực hành, kiểm tra kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường phổ thông nhằm đánh giá độ tin cậy và tính khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm chương trình và sách giáo khoa Địa lí 10, 11, 12; hệ thống bản đồ treo tường, Atlat Địa lí Việt Nam, Atlat Địa lí tự nhiên đại cương do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành; cùng các biên bản dự giờ, giáo án giảng dạy và phiếu bài tập thực nghiệm trong các đợt kiến tập và thực tập sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát nội dung chương trình Địa lí lớp 10, 11, 12

Tác giả phân tích cấu trúc nội dung và logic phát triển kiến thức của 3 khối lớp cấp THPT:

  • Địa lí lớp 10 (Địa lí Kinh tế – Xã hội đại cương): Gồm các chủ đề về bản đồ địa lí kinh tế – xã hội, môi trường và xã hội loài người, mối quan hệ giữa tài nguyên và môi trường, dân số thế giới, các vấn đề phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp – dịch vụ và vùng kinh tế.
  • Địa lí lớp 11 (Địa lí Kinh tế – Xã hội các nước): Được phân chia theo 3 nhóm hệ thống quốc gia: Tư bản chủ nghĩa (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp); Xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ, Trung Quốc); Các nước đang phát triển (Ấn Độ, Angiêri, Braxin, Thái Lan).
  • Địa lí lớp 12 (Địa lí Kinh tế – Xã hội Việt Nam): Gồm hợp phần tự nhiên (vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thủy văn, sinh vật, điều kiện tự nhiên các nước Đông Nam Á) và hợp phần kinh tế – xã hội (dân cư, nguồn lao động, đường lối phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật, các vấn đề kinh tế – xã hội theo ngành và theo vùng, các vấn đề kinh tế – xã hội Đông Nam Á).

Chương II: Các phương pháp dạy học Địa lí

Chương này phân loại và đánh giá toàn diện 3 nhóm phương pháp dạy học địa lí tại trường phổ thông:

  1. Nhóm phương pháp truyền thống:
    • Diễn giảng: Dùng lời trình bày vấn đề lý luận chặt chẽ; học sinh tiếp thu thụ động.
    • Giảng thuật: Dùng lời thuật và giảng các sự kiện, hiện tượng địa lí một cách hệ thống.
    • Giảng giải: Dùng lời giải thích nguyên nhân, bản chất hiện tượng; thường kết hợp với đàm thoại vấn đáp.
    • Đàm thoại (vấn đáp, gợi mở): Trao đổi trực tiếp giữa thầy và trò để dẫn dắt tư duy.
    • Dạy học nêu vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề để kích thích học sinh tự giải quyết; cần phối hợp linh hoạt với đàm thoại.
  2. Nhóm phương pháp sử dụng phương tiện trực quan: Phân tích vai trò của tranh ảnh treo tường, ảnh trong SGK, tạp chí, mô hình không gian 3 chiều (mô hình địa hình, cảnh quan), biểu đồ và băng hình (video) trong việc tạo biểu tượng trực quan sinh động.
  3. Nhóm phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm:
    • Hình thành kỹ năng thao tác trí tuệ: Thông qua 3 phương thức (dạy bài tập thực hành trên lớp; hướng dẫn làm mẫu; giao bài tập kỹ năng về nhà).
    • Phương pháp hướng dẫn khai thác tri thức: Đặt câu hỏi dẫn dắt hoặc nêu vấn đề lên bảng để học sinh tự lực làm việc với nguồn tri thức bản đồ; hướng dẫn quan sát có chủ đích và tổ chức thảo luận nhóm.

Chương III: Nội dung của bản đồ và phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác chi tiết từ bản đồ

Chương này làm rõ cơ sở lý thuyết bản đồ học giáo khoa và xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng:

  • Khái niệm và đặc tính bản đồ giáo khoa treo tường: Bản đồ giáo khoa có kích thước thông dụng từ 0,8m x 1m đến 1,5m x 2m; tỉ lệ 1/500.000 đối với bản đồ khu vực và 1/10.000 đối với bản đồ châu lục (theo ghi nhận của tác giả trong văn bản). Bản đồ giáo khoa có 4 tính chất cơ bản: tính khoa học, tính trực quan, tính sư phạm và tính mĩ thuật.
  • Ngôn ngữ bản đồ: Gồm hệ thống ký hiệu (ký hiệu điểm, ký hiệu tuyến tính, ký hiệu diện tích); quy ước màu sắc (màu lam chỉ hồ/biển; màu lục chỉ rừng/cây; màu nâu chỉ địa hình/đất trồng; màu đỏ/đen biểu thị nhiệt độ và dòng biển); chữ viết và ghi chú địa danh.
  • Phân loại 19 loại bản đồ/lược đồ/Atlat dùng trong dạy học Địa lí THPT:
STT Loại bản đồ / Lược đồ Ứng dụng bài dạy cụ thể theo văn bản
1 Bản đồ tự nhiên nửa cầu Bài Bản đồ (Lớp 10), Vị trí địa lí Hoa Kỳ (Lớp 11)
2 Bản đồ tự nhiên thế giới Bài Bản đồ (Lớp 10), Liên Bang Nga và Pháp (Lớp 11)
3 Bản đồ khí hậu thế giới Bài Điều kiện tự nhiên Đông Nam Á (Lớp 12)
4 Bản đồ động, thực vật thế giới Bài Địa lí ngành trồng trọt (Lớp 10)
5 Bản đồ địa lí khoáng sản thế giới Bài Công nghiệp luyện kim (Lớp 10), Tài nguyên các nước (Lớp 11)
6 Bản đồ địa lí dân cư thế giới Bài Phân bố dân cư (Lớp 10), Kinh tế – Xã hội các nước (Lớp 11)
7 Bản đồ các nước trên thế giới Bài Vị trí địa lí Ấn Độ (Lớp 11)
8 Bản đồ tự nhiên các châu Phần Tự nhiên lớp 11
9 Bản đồ tự nhiên Việt Nam Bài Vị trí địa lí và tài nguyên Việt Nam (Lớp 12), Bài Bản đồ (Lớp 10)
10 Bản đồ khí hậu Việt Nam Bài Khí hậu lớp 12 (Sách phân ban)
11 Bản đồ động, thực vật Việt Nam Phần Tự nhiên lớp 12 (Sách phân ban)
12 Bản đồ hành chánh Việt Nam Bài Bản đồ (Lớp 10), Giao thông vận tải (Lớp 12)
13 Bản đồ các miền tự nhiên Việt Nam Bài Các miền tự nhiên lớp 12 (Sách chưa phân ban)
14 Bản đồ địa lí kinh tế nước ngoài Bài Kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ, Angiêri, Thái Lan (Lớp 11)
15 Tập bản đồ địa lí các châu Bài Hoa Kỳ, Châu Phi (Lớp 11)
16 Atlat địa lí tự nhiên đại cương Chương trình Lớp 10 ban Khoa học Xã hội
17 Atlat địa lí Việt Nam Bài Các miền tự nhiên lớp 12 (Sách cải cách)
18 Lược đồ và bản đồ trong SGK Vẽ lược đồ công nghiệp Trung Quốc, Ấn Độ (Lớp 11)
19 Lược đồ câm và lược đồ trống Dùng trong khâu củng cố, thực hành và kiểm tra bài cũ
  • Quy trình rèn luyện 7 kĩ năng khai thác tri thức bản đồ:
    1. Kĩ năng nhận biết, chỉ và đọc đối tượng: Giáo viên đọc chuẩn xác, chỉ vị trí trên bản đồ, ghi tên lên góc bảng; học sinh phát âm, đối chiếu SGK/Atlat, ghi chép vào sổ tay và nhận xét mối quan hệ không gian.
    2. Kĩ năng xác định phương hướng: Dựa vào mạng lưới kinh tuyến (hướng Bắc – Nam hội tụ tại cực Bắc, cực Nam) và vĩ tuyến (hướng Đông – Tây), đối chiếu sai lệch giữa quả địa cầu và bản đồ phẳng.
    3. Kĩ năng xác định tọa độ địa lí: Xác định kinh độ, vĩ độ các giao điểm và các điểm cực (ví dụ: tọa độ Việt Nam từ $8^\circ30'B - 23^\circ23'B$ và $102^\circ10'Đ - 109^\circ24'Đ$).
    4. Kĩ năng xác định vị trí địa lí: Xác định mối quan hệ không gian với các đối tượng xung quanh (tiếp giáp biển, quốc gia láng giềng, hệ thống gió mùa).
    5. Kĩ năng mô tả địa hình: Phân tích dạng địa hình (núi già, núi trẻ, đồng bằng, bồn địa), hướng nghiêng, lát cắt và mối liên hệ với biển.
    6. Kĩ năng mô tả khí hậu: Đọc số chỉ nhiệt độ tháng 7 (màu đỏ) và tháng 1 (màu đen), đường đẳng nhiệt, thang màu lượng mưa ($< 300\text{ mm}$, $300 - 500\text{ mm}$), mũi tên hướng gió tháng 7 (đỏ) và tháng 1 (xanh).
    7. Kĩ năng mô tả sông ngòi: Phân tích mật độ mạng lưới, hướng dòng chảy chính, nguồn cung cấp nước (mưa, băng tuyết), chế độ nước và mối liên hệ với địa hình.

Chương IV: Thực trạng sử dụng bản đồ trong giảng dạy Địa lí ở các trường phổ thông trung học

Qua quá trình kiến tập và thực tập sư phạm, tác giả ghi nhận bức tranh thực trạng qua các trường hợp cụ thể:

Trường THPT khảo sát Tiết dạy / Giáo viên Hiện trạng quan sát được Hệ quả sư phạm
THPT Nguyễn Chí Thanh Bài "Các nước Đông Nam Á" Giáo viên không sử dụng bất kỳ bản đồ nào trong suốt tiết dạy. Giờ học giảm tính trực quan, học sinh khó hình dung không gian lãnh thổ.
THPT Ten Lơ Man Bài "Pháp" (Cô Trần Ngọc Mai) Học sinh thắc mắc sự khác biệt phân chia 3 miền của Hoa Kỳ và 3 phía của Pháp. Giáo viên dày dặn kinh nghiệm, sử dụng Atlat và bản đồ giải thích thỏa đáng.
THPT Lê Minh Xuân Bài "Hoa Kỳ", "CN Nhật Bản" (Cô Diệp) Thiếu bản đồ chi tiết (vị trí bang Hawaii, bản đồ phân bố ngành ô tô chỉ có trong SGK trang 74/84). Học sinh lúng túng khi không tìm thấy địa danh cụ thể trên bản đồ tổng quát.
THPT Nguyễn Thái Bình Bài "Động lực tăng dân số" (Thầy Chữ) Sử dụng giáo án sơ đồ hóa in sẵn đóng khung; không dùng bản đồ phân bố dân cư hay tháp tuổi phóng to. Biến tiết học thành công cụ học thuộc lòng máy móc, hạn chế tư duy phân tích.
Trường THPT Bán công Bài "Thái Lan" (Cô Hồng) Học sinh lên bảng không xác định được miền Nam Thái Lan (chỉ nhầm sang vịnh Thái Lan). Bộc lộ lỗ hổng lớn về kỹ năng đọc bản đồ và xác định phương hướng của học sinh.
THPT Nguyễn An Ninh Bài "Trung Quốc..." (Thầy Hiệp) Dạy chay không có bản đồ; bản đồ treo tường do học sinh tự vẽ thiếu độ chính xác. Tiết học truyền thụ kiến thức hình thức do thiếu phương tiện chuẩn.
THPT Nguyễn An Ninh Bài "Đồng bằng sông Hồng" (Thầy Quang) Chuẩn bị chu đáo, sử dụng đầy đủ các loại bản đồ kết hợp phát vấn. Tiết thao giảng sinh động, học sinh nắm vững kiến thức từ nguồn bản đồ.
THPT Bùi Thị Xuân Bài "Ấn Độ" (Thầy Trí) Giáo viên hỏi bán đảo Ấn Độ nhưng không chuẩn bị bản đồ Nam Á để chỉ cho học sinh. Không giải đáp được trực quan câu hỏi do chính giáo viên đặt ra.

Nhằm khắc phục tình trạng trên, tác giả đã tiến hành thử nghiệm ứng dụng bản đồ câm trong 8 tiết dạy thực tập (dạy các bài công nghiệp Trung Quốc, Ấn Độ, Angiêri), hướng dẫn học sinh tự điền các trung tâm và vùng công nghiệp, mang lại hứng thú học tập rõ rệt.

Chương V: Hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ qua một số bài cụ thể

Tác giả biên soạn chi tiết hệ thống giáo án thực hành, phân định rõ cột "Phần hướng dẫn" (câu hỏi, thao tác của giáo viên) và cột "Phần ghi" (nội dung lĩnh hội của học sinh):

  1. Địa lí lớp 10:
    • Bài 2 (Bản đồ - SGK trang 5): Dành 10 phút củng cố bằng bản đồ câm, yêu cầu học sinh phân loại và đặt tên cho các nhóm bản đồ tự nhiên và kinh tế – xã hội.
  2. Địa lí lớp 11:
    • Bài Hoa Kỳ (SGK trang 44, 53): Sử dụng bản đồ tự nhiên và công nghiệp Hoa Kỳ. Hướng dẫn học sinh xác định tọa độ ($49^\circ B - 32^\circ B$, giáp Canada, Mêhicô, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, kênh đào Panama); phân tích vùng Đông Bắc (vành đai công nghiệp Apalat) và vùng Tây/Đông Nam (vành đai mặt trời gồm duyên hải vịnh Mêhicô, bán đảo Florida, bang California, chuỗi đô thị Sacramento - San Francisco - Los Angeles - San Diego); củng cố 10 phút bằng lược đồ câm phân ranh giới 3 vùng kinh tế.
    • Bài Nhật Bản (SGK trang 66, 75): Khai thác bản đồ tự nhiên (tọa độ $24^\circ B - 45^\circ20'B$, $123^\circĐ - 146^\circĐ$, 4 đảo cánh cung, địa hình đồi núi chiếm trên 80%); giải thích sự phân hóa khí hậu qua sự gặp gỡ của dòng biển nóng Kuroshivo và dòng biển lạnh Oyashivo tại vĩ tuyến $38^\circ B$; khai thác bản đồ công nghiệp để giải thích ngành đóng tàu tập trung ở vùng Đông Nam và đảo Shikoku.
    • Bài Trung Quốc (SGK trang 109, 120): Sử dụng kinh tuyến $105^\circĐ$ làm mốc phân chia miền Đông và miền Tây; so sánh địa hình miền Tây (núi Himalaya, Côn Luân, sông Tarim) và miền Đông (đồng bằng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam; các hệ thống sông Liêu Hà, Hoàng Hà, Trường Giang, Tây Giang); giải thích hiện tượng miền Đông chiếm 40% diện tích nhưng tập trung 90% dân số; phân tích vị trí các đặc khu kinh tế ven biển (cảng Thượng Hải, Thiên Tân); củng cố 10 phút bằng lược đồ câm.
    • Các bài Ấn Độ, Angiêri, Các nước Đông Nam Á: Thiết kế hoạt động điền lược đồ câm cho các ngành công nghiệp, khoáng sản và cây trồng.
  3. Địa lí lớp 12:
    • Bài 2: Ý nghĩa vị trí địa lí với sự hình thành và phát triển của đất nước (Sách Chuyên ban).
    • Bài 48: Vấn đề khai thác vùng Đông Bắc.
    • Bài 25: Các vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đông Nam Á.

Phần thực nghiệm ở trường phổ thông

Nội dung thực nghiệm được triển khai trong quá trình giảng dạy thực tế 8 tiết tại trường phổ thông, so sánh hiệu quả giữa phương pháp dùng bản đồ làm nguồn tri thức kết hợp lược đồ câm với phương pháp dạy học truyền thống. Kết quả cho thấy học sinh lớp thực nghiệm nắm vững vị trí địa danh, hiểu rõ bản chất mối liên hệ nhân quả địa lí và hoàn thành tốt các bài tập kiểm tra kỹ năng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp khoa học sư phạm cụ thể sau:

  • Xây dựng thành công quy trình sư phạm 7 bước chuẩn mực nhằm rèn luyện kỹ năng bản đồ cho học sinh THPT, chuyển đổi vai trò của bản đồ từ phương tiện minh họa trực quan thành nguồn khai thác tri thức chủ động.
  • Khảo sát, tổng hợp số liệu thực tế về các hạn chế trong dạy học Địa lí tại 7 trường THPT ở TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1998–1999; chỉ ra các sai lệch phổ biến như: dạy chay không bản đồ, lạm dụng sơ đồ hóa in sẵn đóng khung gây thụ động, thiếu bản đồ chuyên đề và kỹ năng đọc bản đồ yếu kém của học sinh.
  • Đề xuất và thử nghiệm thành công biện pháp sử dụng bản đồ câm/lược đồ câm trong 10 phút củng cố bài học, giúp học sinh tự khắc sâu kiến thức phân bố không gian kinh tế – tự nhiên (áp dụng cụ thể cho các bài Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Angiêri).
  • Biên soạn hệ thống bài tập và giáo án mẫu chi tiết theo mô hình 2 cột tương tác cho toàn bộ chương trình Địa lí lớp 10, 11 và 12, phục vụ thiết thực cho giảng dạy theo chương trình phân ban và chưa phân ban.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát và thực nghiệm mới dừng lại ở một số trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh trong phạm vi đợt thực tập sư phạm (thời lượng trực tiếp đứng lớp gồm 8 tiết thực nghiệm); việc đối chiếu kết quả định lượng giữa các lớp đối chứng và thực nghiệm chưa được mở rộng trên diện rộng dài hạn; hệ thống bản đồ khảo sát chịu sự chi phối của cơ sở vật chất và chương trình SGK cuối thập niên 1990.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy trình rèn luyện kỹ năng bản đồ cho các bài học thực hành chuyên sâu; nghiên cứu ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, bản đồ điện tử và xây dựng hệ thống phòng học bộ môn chuyên biệt có trang bị tủ bản đồ chuẩn hóa tại các trường phổ thông.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này có giá trị học thuật và thực tiễn trực tiếp đối với:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Địa lí: Tham khảo phương pháp thiết kế giáo án tương tác, kỹ thuật đặt câu hỏi dẫn dắt học sinh khai thác tri thức từ bản đồ và phương pháp tổ chức 10 phút củng cố bằng lược đồ câm.
  • Giáo viên Địa lí THPT: Sử dụng quy trình 7 kĩ năng rèn luyện bản đồ (nhận biết, xác định phương hướng, tọa độ, vị trí, mô tả địa hình, khí hậu, sông ngòi) và hệ thống giáo án mẫu cho các bài học về Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam.
  • Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học bộ môn: Tham khảo nguồn tư liệu thực chứng về thực trạng chuyển giao phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm tại các trường phổ thông giai đoạn cải cách giáo dục cuối thập niên 1990.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nêu bản đồ giáo khoa treo tường có những tính chất cơ bản nào? Bản đồ giáo khoa treo tường có 4 tính chất cơ bản: tính khoa học (độ chính xác về vị trí, hình dạng, kích thước), tính trực quan (màu sắc, ký hiệu gần với thực tế và có tính khái quát cao), tính sư phạm (phù hợp chương trình, SGK và tâm lý lứa tuổi học sinh) và tính mĩ thuật (đẹp, dễ nhìn nhằm lôi cuốn và giáo dục mĩ cảm).

2. Bản đồ câm được tác giả ứng dụng vào khâu nào của tiết dạy và mang lại hiệu quả gì? Bản đồ câm được tác giả ứng dụng chủ yếu vào khâu củng cố bài học (khoảng 10 phút cuối tiết dạy) hoặc kiểm tra bài cũ. Thay vì nhìn bản đồ in sẵn trong SGK, học sinh tự xác định và điền tên các vùng, thành phố, trung tâm công nghiệp hoặc ranh giới tự nhiên, từ đó biến kiến thức thụ động thành kỹ năng tư duy không gian chủ động.

3. Sự phân hóa khí hậu của Nhật Bản được hướng dẫn giải thích trên bản đồ tự nhiên bằng những dữ kiện nào? Học sinh được hướng dẫn phân tích lãnh thổ kéo dài ($24^\circ B - 45^\circ20'B$), kết hợp chỉ ra sự hiện diện của hai dòng biển ở Thái Bình Dương: dòng biển nóng Kuroshivo từ phía Nam đi lên và dòng biển lạnh Oyashivo từ phía Bắc đổ xuống (gây sương mù ở Đông Bắc Hokkaido và Honshu), gặp nhau tại vĩ tuyến $38^\circ B$, tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa khí hậu ôn đới ở phía Bắc và cận nhiệt đới ở phía Nam.

4. Khi dạy bài Trung Quốc, tác giả dùng mốc kinh tuyến nào trên bản đồ để phân chia địa hình và giải thích phân bố dân cư? Tác giả hướng dẫn lấy kinh tuyến $105^\circĐ$ (khúc uốn của sông Hoàng Hà quặt về phía trước) làm mốc kẻ đường Bắc – Nam chia Trung Quốc thành miền Tây (núi, cao nguyên, sông Tarim) và miền Đông (các đồng bằng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam; các sông Liêu Hà, Hoàng Hà, Trường Giang, Tây Giang). Qua đó giải thích nguyên nhân miền Đông màu mỡ chiếm 40% diện tích nhưng tập trung đến 90% dân số.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Đại Hồng Phúc (Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 1998–1999) đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí THPT theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm. Đề tài đã chỉ ra những tồn tại thực tế trong giảng dạy địa lí tại các trường phổ thông, đồng thời xây dựng quy trình 7 kĩ năng khai thác bản đồ và thiết kế các giáo án mẫu ứng dụng bản đồ câm đạt hiệu quả sư phạm rõ nét. Đây là công trình nghiên cứu phương pháp dạy học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Địa lí tại trường phổ thông.