CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Chu kỳ vòng đời của doanh nghiệp thường được chia làm năm giai đoạn chính là khởi sự, tăng trưởng, bão hòa, sau bão hòa và suy thoái (Gort và Klepper, 1982; Dickinson, 2011). Dickinson (201 1) cũng cho rằng chu kỳ vòng đời của doanh nghiệp dài hay ngắn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là doanh nghiệp có mức đệ tăng trưởng trong doanh thu, tỷ suất sinh lợi vượt trội cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh và sẽ có chu kỳ vòng đời dài hơn các doanh nghiệp đối thủ bất chấp những thay đôi trong nền kinh tế cạnh tranh (Lev, 2009).
Lev (2009) cũng cho rằng các doanh nghiệp này có khả năng nắm bắt được sự khác biệt về khả năng sinh lời, tăng trưởng Và rủi ro của một công ty vượt trội hơn đối thủ, đặc biệt là biết cách tập hợp và tận dụng các kiến thức, quy trình, hệ thống và văn hóa doanh nghiệp. Như trong giai đoạn khởi sự, nếu kết hoạt động của quả doanh nghiệp là hiệu quả thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiễn đến giai đoạn tăng trưởng nhanh hơn, còn doanh nghiệp đang trong giai đoạn tăng trưởng sẽ ở trong giai đoạn tăng trưởng dài hơn, các doanh nghiệp suy thoái sẽ chuyên sang giai đoạn tăng trưởng và bão hòa trong một chu kỳ tiếp của doanh nghiệp (Mostafa Monzur Hasan và Cheung, 2017). Chính vì vậy, việc giúp các doanh nghiệp có thê đi đến và tồn tại trong giai đoạn tăng trưởng va bão hòa một thời gian dài và tránh giai đoạn suy thoái cũng như việc nghiên cứu các yếu tô tác động đến chu kỳ vòng đời là vô cùng quan trọng và hữu ích. Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tổ tác động đến chu kỳ vòng đời dién hình là các nghiên cứu của Diamond và Verrecchia (1991), Anthony và Ramesh (1992), Black (2005), Dickinson (2011) và Eisfeldt và Papanikolaou (2013).
Các nghiên cứu này đã chỉ ra nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến chu kỳ vòng đời doanh nghiệp như lợi nhuận, quy mê doanh nghiệp, đòn bây tài chính, khả năng sinh lời, thời gian doanh nghiệp niêm yết, hiệu quả sử dụng tài sản,. và hầu hết các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng khi doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả thì khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh càng lớn, giúp doanh nghiệp càng tổn tại lâu trên thị trường nên ở đây, đúc kết lại là hầu hết các kết quả đều chỉ ra mỗi tương quan đương giữa kết quả hoạt động và chu kỳ vòng đời doanh nghiệp. Mặt khác, nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng nguồn lực doanh nghiệp cũng được các công ty 2 tận dụng để đo lường và cải thiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Diamond và Verrecchia, 1991; Black và Lynch, 2005). Trong đó nguồn lực doanh nghiệp được định nghĩa là tát cả tài sản mà doanh nghiệp có, gắn liền với doanh nghiệp, do doanh nghiệp sở hữu, cụ thẻ là các tài sản, kiến thức, thành tựu khoa học công nghệ, hệ thống thông tin, quy trình tô chức,.
Hay là sự tiếp nhận, tích lũy các kiến thức mà thông qua việc kết hợp công nghệ, hệ thống thông tin - thực tiễn kinh doanh, quy trình, kế hoạch, hệ thống và văn hóa doanh nghiệp (Lev, 2009) sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Zollo và Winter (2000). Các nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực tài chính và kế toán cũng thừa nhận ý nghĩa của nguồn lực doanh nghiệp trong việc giải thích tỷ suất sinh lời của cô phiếu (Andrea L. Eisfeldt và Dimitris Papanikolaou, 2013) và độ nhạy cảm của dòng tiền đầu tư (Attig và Cleary, 2014). Một khi doanh nghiệp tích lũy được nhiều nguồn lực, doanh nghiệp sẽ tạo ra được lợi thế cạnh tranh bèn vững so với các đối thú trên thị trường giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn (Penrose, 1959), điều này cho phép doanh nghiệp kéo dài hay tái tạo lại chu kỳ vòng đời (Teece, 1997; Andizes, 2004).
Từ các bằng chứng về mi tương quan đương giữa kết quả hoạt động doanh nghiệp và chu kỳ vòng đời doanh nghiệp cũng như các băng chứng vẻ việc tận dụng các nguôn lực săn có và khan hiếm giúp nâng cao khả năng tăng trưởng và phát triển các hoạt động của công ty, nên tác giả cho rằng có thẻ tồn tại một mối tương đương quan giữa nguồn lực và chu kỳ vòng đời công ty. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của nguồn lực doanh nghiệp lên chu kỳ vòng đời của công ty vẫn còn nhiều hạn chế và chưa rõ ràng, cụ thê cho từng giai đoạn. Nghiên cứu của Atkeson và Kehoe (2005) cho rằng chu kỳ vòng đời của công ty được thúc đây bởi nguồn lực và khi doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực thì kết quả hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua lợi nhuận. Dựa trên ý tưởng này, Atkeson và Kehoe (2005) phát triển một mê hình tăng trưởng đơn giản của chu kỳ vòng đời, được biểu thị đưới dạng một hàm của lợi nhuận và kiến thức mà doanh nghiệp tích lũy, được sử dụng để đo lường quy mê tông thể của nguồn lực trong nền kinh tế Hoa Kỳ bằng cách hiệu chuẩn.
Và một số nghiên cứu khác cũng cho thấy răng nguồn lực đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng 3 cao hiệu quả và năng suất của doanh nghiệp ở cả cấp đệ vi mô và vĩ mô. Cả Peters va Taylor (2017) và Eisfeldt và Papanikolaou (2014) nhận định rằng nguồn lực doanh nghiệp là một phần ngày càng quan trọng trong nguồn lực của Hoa Kỳ và toàn nền kinh tế. Hay nghiên cứu của Lev và Radhakrishnan (2005), Lev (2009) được thực hiện ở Chicago cũng chỉ ra rằng đầu tư vào nguồn lực là cơ sở của lợi thế cạnh tranh bền vững. Và các nghiên cứu này hâu hết đều được thực hiện ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghệ hiện đạt, thị trường chứng khoán hoạt động lâu đời,.
nên các công ty đa phần đã có thể tự tạo cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Tại Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế mới nỗi, thị trường đang phát triển và cạnh tranh khốc liệt, việc thiếu nguồn lực, thiếu sự ủng hộ từ đối tác, chưa thiết lập mối quan hệ và xây dựng được mô hình kinh doanh hiệu quả là không thể tránh khỏi. Điều này đã khiến cho rất nhiều doanh nghiệp thất bại với chu kỳ sống rất ngắn (Nguyễn Quang Thu & cộng sự, 2016). Theo thống kê của Global Entrepreneurship Monitor (2016) cho thấy tỷ lệ thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam chỉ chiếm 12,7% và thời gian doanh nghiệp hoạt động từ lúc khởi sự đến khi suy thoái không quá 3,5 năm.
Do vậy, mối quan tâm về nguôn lực và phát triển nguồn lực luôn được các nhà quản lý ở Việt Nam đặt lên hàng dau. Do đó, việc nghiên cứu tác động của nguồn lực doanh nghiệp lên chu kỳ vòng đời các công ty là vô cùng cần thiết. Chính vì những ly do nay, tac gia da thực hiện bài nghiên cứu “Tác động của nguồn lực doanh nghiệp đến chu kỳ vòng đời các công ty niềm vết Việt Nam” với mong muốn kết quả của bài nghiên cứu này sẽ giúp cho các doanh nghiệp tại Việt Nam thấy được tâm quan trọng của nguồn lực đoanh nghiệp trong việc giúp doanh nghiệp kéo dài giai đoạn phát triển thuận lợi (tăng trưởng và bão hòa) và tránh suy thoái trong chu kỳ vòng đời doanh nghiệp, từ đó có những quyết định và chính sách phù hợp đề nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Mục tiêu và vấn đề nghiên cứu Bài nghiên cứu nhằm xem xét tác động của nguồn lực doanh nghiệp đến chu kỳ vòng đời của các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019, Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, tác giả đặt ra các vân đề nghiên cứu sau: « Thứ nhất, liệu có thê dự đoán doanh nghiệp đang ở một giai đoạn cụ thé trong chu kỳ vòng đời dựa trên nguồn lực mà doanh nghiệp hiện có không? © Thứ hai, khi doanh nghiệp thay đôi mức đệ đầu tư vào nguồn lực (nhiềut) thì có tồn tại sự chuyến đôi giữa các giai đoạn theo thời gian trong chu kỳ vòng đời doanh nghiệp không? 1.
Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam trên cả Sở giao dịch Chứng khoán Thanh phé Hé Chi Minh (HOSE) va Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2009-2019 tạo thành mẫu 532 công ty. Dựa trên nguồn đữ liệu được tông hợp, bài nghiên cứu với biến phụ thuộc chu kỳ vòng đời là biến giả, nhận giá trị gán nên tac gia tiễn hành hồi quy mê hình nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy logistic đa thức để kiếm định tác động của nguồn lực doanh nghiệp lên chu kỳ vòng đời của các công ty. Bố cục của đề tài Kết cầu bài nghiên cứu gồm 5 chương như sau: Chương l: Giới (hiệu, trong chương này tác giả nêu ra lý đo tại sao tác giả trình bày dé tai này, mục tiêu và câu hỏi mà tác giả muốn giải quyết khi thực hiện đề tài và tom tắt phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng và bố cục của đề tài. Tiếp đến trong Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây và giải thuyết nghiên cứu, tác giả trình bày cụ thể hơn về các lý thuyết đã được tông hợp, đúc kết từ các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về nguồn lực doanh nghiệp và chu kỳ vòng đời công ty.
Từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu để kiểm tra tác động nguồn lực doanh nghiệp lên chu kỳ vòng đời công ty. Ở Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, dựa vào giả thuyết cơ sở trình bày tiếp dữ liệu nghiên cứu, mô hình, phương pháp nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu. Ở Chương 4: KẾ! quả nghiên cứu, tác giả đựa theo định hướng được đưa ra ở Chương 3, trình bày các kết quả thu được từ việc thực hiện các hồi quy, kiểm định các giả thuyết về sự tác động của nguồn lực doanh nghiệp đến chu kỳ vòng đời công ty niêm yết Việt Nam. Cuối cùng, chương 5: Kết luận, tác giả đúc kết lại các kết quả từ chương 4 để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu và đưa ra những hạn chế của đề tài.
CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ CÁC GIÁ THUYÉT NGHIÊN CỨU 2. Tông quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 2.