MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người trở nên có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày nay có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người lao động mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại.
Khi mà hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm, năng lực tư duy và hoạt động lao động sản xuất của con người cũng phải thay đổi. Chính vì thế, việc đổi mới phương pháp giáo dục trong thời đại tri thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống phát triển không ngừng là một tất yếu. Việc đổi mới phương pháp dạy học trước hết là đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực người học và cuối cùng là vì mục tiêu đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển đất nước. Đây cũng là một điều kiện tiên quyết, nhằm quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13: "Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh" [2].
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ việc quan tâm đến việc HS học được cái gì đến việc quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, GV phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, tăng cường việc học tập trong nhóm, chuyển đổi mối quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. 2 Với mục tiêu cốt lõi là giúp HS hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực, chương trình giáo dục phổ thông mới đã phác họa một bức “chân dung” hoàn toàn mới về HS.
Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đặt ra yêu cầu về 5 phẩm chất và 10 năng lực HS cần đạt đối với HS tiểu học trong đó có năng lực GQVĐ & ST. Đây được xem là một trong những năng lực cốt lõi giúp HS biết cách vận dụng kiến thức đã học giải quyết các vấn đề học tập những tình huống trong cuộc sống. Khi năng lực HS phát huy tối đa, GV sẽ có những định hướng nghề nghiệp cho HS qua hoạt động hướng nghiệp như vậy sẽ mở ra tương lai tốt đẹp cho các em. Nói đến Toán học là nói đến một môn học quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học.
Toán học là cái nôi của sáng tạo. Toán học rèn luyện trí óc của chúng ta, nó giúp chúng ta đào sâu suy nghĩ khi đối mặt với những vấn đề phức tạp. Cuộc sống của chúng ta chủ yếu bao gồm các tình huống lựa chọn, cách tiếp cận, lập luận và đối mặt với các vấn đề mà giải pháp phải được tìm ra. Theo nghĩa đó, toán học giúp chúng ta mở mang đầu óc và chủ động trong cách GQVĐ.
Toán học là môn học cung cấp và rèn luyện cho HS những kiến thức cơ bản nhất về tính toán đo lường. Đây có thể coi là một môn học quan trọng ở tiểu học, là công cụ để học tập các môn học khác và cũng là điểm tựa về lĩnh vực tính toán, đo lường trong cuộc sống hằng ngày của con người. Môn Toán lớp 3 tiếp tục kế thừa kiến thức kĩ năng lớp dưới với những kiến thức ban đầu cơ bản về số tự nhiên, phân số, các đại lượng thông dụng, các yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Qua quá trình học Toán, HS hình thành các kĩ năng tính toán, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống, góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt, cách phát hiện và GQVĐ đơn giản gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động.
linh hoạt và sáng tạo. Xuất phát từ những lý do trên, “Dạy học môn Toán lớp 3 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh” được lựa chọn làm đề tài của khóa luận. Lịch sử nghiên cứu Vấn đề phát triển năng lực nói chung và năng lực GQVĐ & ST nói riêng trong dạy học Toán đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến trong những công trình nghiên cứu sau: 2. Trên thế giới Trong lĩnh vực giáo dục, rất nhiều công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực nói chung và năng lực GQVĐ cũng như tư duy sáng tạo nói riêng.
Đặc biệt trong môn Toán, có nhiều hướng khai thác tập trung chủ yếu ở việc phát triển năng lực GQVĐ Toán học, đưa ra những chiến lược và cách giải toán hiệu quả nhằm phát triển năng lực GQVĐ &ST. “Giải bài toán như thế nào” [45], “Sáng tạo toán học” [20], “Toán học và những suy luận có lý” [46] là những công trình nghiên cứu rất có giá trị trong giáo dục Toán của G. Các công trình này đã chỉ ra quan niệm sai lầm với việc giải toán không chỉ dừng lại ở việc tìm ra đáp án.Polya giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện về quá trình phát hiện và GQVĐ, đem ra những gợi ý, những chiến lược hữu ích hiệu quả để trở thành người có năng lực GQVĐ & ST. Cuốn sách "Problem Solving and Education" của Edward A.
Silver và Patricia A. Kennelly là một cuốn sách nổi tiếng về việc GQVĐ trong giáo dục, bao gồm các chiến lược GQVĐ, kỹ năng tư duy, và đánh giá năng lực GQVĐ của HS [44]. Cuốn sách "Problem Solving: What It Is and What It Is Not" của Robert J. Sternberg tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực GQVĐ, bao gồm kiến thức, kỹ năng, cảm xúc, sự tự tin, và tư duy logic [52].
Cuốn sách "Problem-Solving Strategies" của Arthur Engel: Cuốn sách này tập trung vào việc phát triển kỹ năng GQVĐ trong toán học, bao gồm các chiến lược, phương pháp, và ví dụ thực tế [40]. Cuốn sách "Problem-Solving and Problem-Based Learning in Mathematics Education" của Yeping Li: Đây là một cuốn sách tập hợp các nghiên cứu về việc GQVĐ trong giáo dục toán học, bao gồm các phương pháp giảng dạy, đánh giá, và ứng dụng thực tiễn [58]. 4 Cuốn sách "The Art of Problem Solving" của Richard Rusczyk và Sandor Lehoczky là một tài liệu giáo dục trực tuyến tập trung vào việc giải quyết các bài toán toán học phức tạp, bao gồm các chiến lược GQVĐ và các ví dụ thực tế [51]. Bên cạnh đó, còn kể đến những công trình nghiên cứu, những đầu sách bản chạy như “Làm thế nào để giải quyết các vấn đề toán học" của Wayne A.Wickelgren [57], “Thách thức vấn đề Toán học với những giải pháp cơ bản" của A.
Cuốn sách "Creativity: Flow and the Psychology of Discovery and Invention" của Mihaly Csikszentmihalyi là một cuốn sách nổi tiếng về năng lực sáng tạo, tập trung vào việc phân tích quá trình sáng tạo và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo, bao gồm trí tuệ, cảm xúc, và môi trường [49]. "The Creativity Research Handbook" của Mark A. Runco và Steven R. Pritzker là một tài liệu tập hợp các nghiên cứu về năng lực sáng tạo, bao gồm các phương pháp đo lường, phân tích, và đánh giá năng lực sáng tạo [48].
Cuốn sách "Creativity: Understanding Innovation in Problem Solving, Science, Invention, and the Arts" của Robert W. Weisberg tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo trong khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, và GQVĐ, bao gồm kiến thức, kỹ năng, cảm xúc, và tư duy logic [53]. Cuốn sách "Teaching for Creativity in the Common Core Classroom" của Ronald A. Beghetto và James C.
Kaufman cuốn sách tập trung vào việc phát triển năng lực sáng tạo trong giáo dục, bao gồm các chiến lược giảng dạy, phương pháp, và ví dụ thực tế [54]. Howard Gardner, Giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nội cảm. Ông khẳng định rằng: Mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được thể hiện hoặc hiểu là dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau.
Sự kết hợp để tạo thành năng lực cá nhân H.Gardner đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo được được [11]. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỷ XX, đã có nhiều kết quả nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực cụ thể người học. Trong đó có năng lực GQVĐ, năng lực sáng tạo, năng lực GQVĐ&ST Một số tài liệu tiêu biểu như: Một số vấn đề phát triển chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của tác giả Lương Viết Thái đã nói rõ năng lực phát hiện và GQVĐ cần được hình thành, phát triển ngay từ tiểu học [23]. Bài viết “Dạy Toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học” của Nguyễn Thị Kim Thoa cũng đã nhắc đến các năng lực toán học đặc thủ cần phát triển ở HS tiểu học, trong đó có năng lực GQVĐ [27].