Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hạt xơ dây thanh là tổn thương lành tính thường xuất hiện tại vị trí tiếp nối giữa 1/3 trước và 2/3 sau của bờ tự do dây thanh, có hình thái tròn hoặc nhọn và mang tính chất đối xứng hai bên. Trong thực hành lâm sàng tai mũi họng, đây là một trong những bệnh lý thanh quản phổ biến với tỷ lệ mắc tương đối cao. Theo số liệu thống kê tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, trung bình mỗi năm cơ sở này tiếp nhận khoảng 1.000 ca đến khám và điều trị bệnh lý liên quan đến hạt xơ dây thanh.
Về mặt dịch tễ và bệnh sinh, bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi và giới tính, nhưng đặc biệt chiếm ưu thế ở nữ giới và những nhóm đối tượng có đặc thù nghề nghiệp thường xuyên lạm dụng giọng nói như giáo viên, ca sĩ, nhân viên bán hàng, kinh doanh. Bên cạnh yếu tố cơ học do phát âm quá mức, các bệnh lý viêm nhiễm mạn tính đường hô hấp trên (viêm mũi xoang mạn tính, viêm họng mạn tính) cùng hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản và cơ địa dị ứng đóng vai trò là những yếu tố kích thích tại chỗ, làm gia tăng nguy cơ hình thành tổn thương. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là biến đổi giọng nói với các biểu hiện khàn tiếng liên tục, thay đổi âm sắc, hụt hơi hoặc mất tiếng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giao tiếp và chất lượng sống của người bệnh.
Mặc dù việc thăm khám lâm sàng kết hợp các kỹ thuật hình ảnh hiện đại như nội soi thanh quản ống cứng gắn optic hay nội soi hoạt nghiệm thanh quản cho phép nhận diện đại thể và đánh giá chức năng rung động của dây thanh, xét nghiệm mô bệnh học vi thể vẫn giữ vai trò là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định bản chất tổn thương, phân biệt với polyp hay u nang dây thanh.
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Y đa khoa của tác giả Nguyễn Hữu Sơn (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2022) được triển khai nhằm thực hiện hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng của hạt xơ dây thanh.
- Mô tả đặc điểm giải phẫu bệnh của hạt xơ dây thanh.
- Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh nhân được chẩn đoán xác định hạt xơ dây thanh trên lâm sàng và có kết quả giải phẫu bệnh vi thể.
- Phạm vi không gian: Khoa Nội soi, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu nghiên cứu từ tháng 8/2020 đến tháng 4/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết của công trình dựa trên giải phẫu học định khu và vi thể thanh quản, sinh lý phát âm học hiện đại cùng các thuyết cơ học và khí động học thanh môn:
- Cấu trúc vi thể dây thanh và thuyết "thân - vỏ" (Cover-Body Theory) của Hirano: Dây thanh gồm biểu mô phủ (biểu mô vảy tầng không sừng hóa tại bờ tự do), lớp mô đệm nông (khoảng Reinke chứa chất nền dạng gelatin linh hoạt), lớp giữa (sợi chun), lớp sâu (sợi collagen) và lớp cơ vân giáp phễu. Thuyết thân - vỏ phân định cấu trúc thành lớp vỏ (biểu mô, lớp nông, lớp giữa), lớp chuyển tiếp (dây chằng thanh âm) và lớp thân (lớp sâu khoang đệm và cơ thanh) với tỷ lệ độ cứng 1:8:10, quyết định sự hình thành sóng rung niêm mạc khi có luồng khí đẩy từ dưới thanh môn lên.
- Cơ chế bệnh sinh hạt xơ dây thanh: Tổn thương bắt nguồn từ các vi chấn thương phát âm lặp đi lặp lại tạo nên lực va chạm cơ học tối đa tại điểm giữa phần niêm mạc rung động (ranh giới 1/3 trước và 2/3 sau bờ tự do dây thanh). Quá trình này khởi phát bằng tình trạng giãn mạch, ứ trệ tuần hoàn, phù nề khoảng Reinke (giai đoạn hạt xơ non), sau đó tiến triển tổ chức hóa mô liên kết xơ hóa, thoái hóa trong và quá sản lớp biểu mô vảy (giai đoạn hạt xơ mạn tính/trưởng thành).
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu tổng thể gồm 30 bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn (được chẩn đoán lâm sàng và mô bệnh học là hạt xơ dây thanh, đầy đủ hồ sơ bệnh án, đồng ý tham gia nghiên cứu) và không thuộc các tiêu chuẩn loại trừ (mắc u lành tính khác như polyp, u nang dây thanh; khàn tiếng cấp tính do cúm, viêm thanh quản cấp).
- Phương tiện và thu thập dữ liệu: Bệnh nhân được khai thác tiền sử, triệu chứng cơ năng, đánh giá mức độ khàn tiếng (nhẹ, vừa, nặng), nội soi thanh quản bằng hệ thống optic ống cứng/mềm nguồn sáng Halogen và thực hiện bấm sinh thiết/lấy bỏ tổn thương gửi đọc tiêu bản mô bệnh học dưới kính hiển vi quang học.
- Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu lâm sàng và giải phẫu bệnh được mã hóa, quản lý và phân tích bằng phần mềm thống kê y học STATA phiên bản 15.0; các biến định tính trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm (%), các biến định lượng tính giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn (Mean ± SD), sử dụng các kiểm định thống kê thích hợp với ngưỡng ý nghĩa $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu hạt xơ dây thanh từ mô tả đầu tiên của Tuker (1868) đến các nghiên cứu hiện đại về siêu cấu trúc và hóa mô miễn dịch của Hirano, Gray (1991), Martins (2010), Nunes (2013) trên thế giới, cũng như các công trình nghiên cứu trong nước của Nguyễn Giang Long (2000), Nguyễn Duy Dương (2003), Vũ Toàn Thắng (2009). Tác giả tổng thuật chi tiết giải phẫu khung sụn thanh quản (5 sụn chính: nhẫn, giáp, 2 phễu, thanh thiệt), hệ thống cơ nội thanh quản (cơ căng: nhẫn giáp; cơ mở: nhẫn phễu sau; cơ khép: nhẫn phễu bên, giáp phễu, liên phễu), mạng lưới mạch máu và phân bố thần kinh (nhánh thanh quản trên và thần kinh thanh quản quặt ngược thuộc dây X).
Về mặt sinh lý, chương tổng quan phân tích ba chức năng cơ bản của thanh quản gồm hô hấp, phát âm (giai đoạn thổi - rung - cộng hưởng) và bảo vệ đường thở, đồng thời đối chiếu bốn học thuyết về cơ chế rung dây thanh: thuyết cơ đàn hồi của Ewald, thuyết dao động thần kinh của Husson, thuyết sóng rung niêm mạc của Perello - Smith - Hirano, và thuyết cơ không phối nhịp của Louis Sylvestre và Mac Leod. Đồng thời, tác giả trình bày ưu - nhược điểm của các phương pháp thăm khám thanh quản từ gián tiếp qua gương, soi trực tiếp ống cứng, nội soi thanh quản ống cứng/mềm đến nội soi hoạt nghiệm thanh quản, đi sâu vào sinh lý bệnh học vi thể của hạt xơ dây thanh so với các tổn thương lành tính khác.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 thiết lập khung phương pháp luận nghiên cứu y học cho đề tài. Nghiên cứu thực hiện theo thiết kế mô tả trên 30 bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội soi Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 8/2020 đến tháng 4/2022. Văn bản quy định rõ hệ thống 13 biến số nghiên cứu bao gồm thông tin hành chính, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa dư, tiền sử bản thân (viêm mũi xoang, trào ngược, dị ứng), tiền sử gia đình, lý do vào viện, thời gian mắc bệnh, triệu chứng cơ năng (khàn tiếng, hụt hơi, nói gắng sức, đau rát họng), phân loại mức độ khàn tiếng, đặc điểm hình ảnh nội soi và kết quả giải phẫu bệnh vi thể.
Quy trình nghiên cứu trải qua 6 bước tuần tự: xây dựng đề cương, hoàn thiện mẫu bệnh án nghiên cứu, tiếp cận và chọn mẫu bệnh nhân theo tiêu chuẩn, khám lâm sàng và nội soi thanh quản, thu thập tiêu bản mô bệnh học đọc dưới kính hiển vi quang học, xử lý số liệu bằng STATA 15 và tổng hợp luận văn. Nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc đạo đức y sinh học, được hội đồng chuyên môn thông qua và bảo mật danh tính người bệnh.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 công bố chi tiết các dữ liệu dịch tễ, lâm sàng và giải phẫu bệnh thu thập được trên 30 bệnh nhân nghiên cứu:
| Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng |
Phân nhóm chỉ số |
Số lượng ($n=30$) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nữ |
30 |
100,00% |
|
Nam |
0 |
0,00% |
| Nhóm tuổi |
< 21 tuổi |
1 |
3,33% |
|
21 – 50 tuổi |
24 |
80,00% |
|
> 50 tuổi |
5 |
16,67% |
| Địa bàn sinh sống |
Nông thôn |
23 |
76,67% |
|
Thành thị |
7 |
23,33% |
| Yếu tố nguy cơ |
Lạm dụng giọng nói |
11 |
36,67% |
|
Viêm mũi họng mạn tính |
10 |
33,33% |
|
Trào ngược dạ dày – thực quản |
3 |
10,00% |
|
Cơ địa dị ứng |
1 |
3,33% |
|
Hen phế quản, hút thuốc lá, rượu bia |
0 |
0,00% |
| Nghề nghiệp |
Bán hàng |
11 |
36,67% |
|
Nội trợ |
6 |
20,00% |
|
Công nhân (môi trường ồn) |
5 |
16,67% |
|
Học sinh, sinh viên |
1 |
3,33% |
|
Công việc khác ít dùng giọng (nông dân, văn phòng) |
7 |
23,33% |
| Thời gian mắc bệnh |
< 6 tháng |
4 |
13,33% |
|
6 – 12 tháng |
21 |
70,00% |
|
> 12 tháng |
5 |
16,67% |
| Đặc điểm khàn tiếng |
Liên tục tăng dần |
30 |
100,00% |
|
Từng đợt |
0 |
0,00% |
| Mức độ khàn tiếng |
Nhẹ |
2 |
6,67% |
|
Vừa |
26 |
86,67% |
|
Nặng |
2 |
6,67% |
Về triệu chứng cơ năng phối hợp, khàn tiếng xuất hiện ở 100% bệnh nhân ($30/30$), theo sau là triệu chứng nói gắng sức chiếm 73,33% ($22/30$), cảm giác nói mệt chiếm 66,67% ($20/30$), nói hụt hơi chiếm 30,00% ($9/30$), đau họng, khô họng và ho khan kéo dài đều chiếm 20,00% ($6/30$), cảm giác vướng họng chiếm 16,67% ($5/30$), ợ hơi/ợ chua chiếm 6,67% ($2/30$), khó thở nhẹ chiếm 6,67% ($2/30$) và mất tiếng chiếm 3,33% ($1/30$).
| Đặc điểm vi thể mô bệnh học |
Phân loại tổn thương |
Số lượng ($n=30$) |
Tỷ lệ (%) |
| Tổn thương lớp biểu mô |
Quá sản vừa và nặng |
25 |
83,33% |
|
Quá sản nhẹ |
5 |
16,67% |
|
Biểu mô bình thường |
0 |
0,00% |
| Tổn thương mô đệm |
Xơ hóa mô đệm |
25 |
83,33% |
|
Phù nề, xung huyết đơn thuần |
0 |
0,00% |
| Xâm nhập viêm mô đệm |
Không xâm nhập viêm |
28 |
93,33% |
|
Có xâm nhập viêm |
2 |
6,67% |
| Cấu trúc màng đáy |
Còn nguyên vẹn (dày màng đáy) |
30 |
100,00% |
|
Bị phá hủy cấu trúc |
0 |
0,00% |
Phân tích mối tương quan giữa mức độ khàn tiếng lâm sàng và mức độ quá sản biểu mô vi thể cho thấy:
- Nhóm khàn tiếng nhẹ ($n=2$): 100% bệnh nhân ($2/2$) có biểu mô quá sản nhẹ.
- Nhóm khàn tiếng vừa ($n=26$): 88,46% bệnh nhân ($23/26$) có biểu mô quá sản vừa và nặng; 11,54% ($3/26$) quá sản nhẹ.
- Nhóm khàn tiếng nặng ($n=2$): 100% bệnh nhân ($2/2$) có biểu mô quá sản vừa và nặng.
- Mối liên quan giữa mức độ khàn tiếng và mức độ quá sản biểu mô có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả phân tích, so sánh các kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:
- Đặc điểm dịch tễ: Tỷ lệ 100% nữ giới trong mẫu nghiên cứu phù hợp với ghi nhận của Nguyễn Gia Long (92,5% nữ) và Nunes (2013), phản ánh thực tế giải phẫu thanh quản nữ giới có tần số rung cơ bản cao hơn và đảm nhận nhiều nghề nghiệp giao tiếp liên tục. Độ tuổi trung bình $40,5 \pm 10,5$ tuổi (nhóm 20–50 tuổi chiếm 80%) tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hòa, Trần Công Hòa (82,5%) và Nguyễn Tuyết Xương (30–49 tuổi), đây là lứa tuổi lao động chính cần sử dụng giọng nói nhiều nhất. Tỷ lệ bệnh nhân sống tại nông thôn chiếm 76,67%, phản ánh mật độ phân bố dân cư và nhu cầu chăm sóc y tế chuyên sâu từ tuyến cơ sở lên tuyến trung ương.
- Yếu tố nguy cơ và lâm sàng: Nghề nghiệp sử dụng giọng nói nhiều (bán hàng, công nhân nhà máy may ồn ào) chiếm 53,33%, tương đồng với Nguyễn Khắc Hòa (47,5%) và Nguyễn Tuyết Xương (74%). Yếu tố viêm mũi họng mạn tính chiếm 33,33%, thấp hơn nghiên cứu của Vũ Toàn Thắng (50,0%) do đặc thù mẫu nghiên cứu đa số ở nông thôn ít tiếp xúc khói bụi công nghiệp. Triệu chứng nói gắng sức (73,33%) và nói mệt (66,67%) là hậu quả trực tiếp của việc khe thanh môn bị hở khi phát âm, gây thoát khí liên tục. Mức độ khàn tiếng vừa chiếm tỷ lệ áp đảo (86,67%), cao hơn số liệu của Nguyễn Ngọc Hà (62%), được tác giả giải thích do ảnh hưởng của giai đoạn dịch COVID-19 khiến bệnh nhân trì hoãn đi khám, chỉ đến viện khi bệnh đã diễn biến kéo dài và giọng nói thay đổi rõ rệt.
- Đặc điểm mô bệnh học: 100% trường hợp màng đáy còn nguyên vẹn, khẳng định tính chất lành tính tuyệt đối của hạt xơ dây thanh, phù hợp với kết quả của Nunes và cộng sự (2013) khi ghi nhận 56/56 trường hợp dày màng đáy không bị phá hủy. Không có trường hợp nào chỉ phù nề đơn thuần mà 83,33% đã xơ hóa mô đệm, chứng minh bệnh nhân đến can thiệp khi tổn thương đã chuyển sang giai đoạn mạn tính có tổ chức hóa mô xơ. Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ khàn tiếng và quá sản biểu mô ($p < 0,05$) chỉ ra rằng sự dày lên bất thường của lớp biểu mô vảy tỷ lệ thuận với mức độ cản trở khép kín thanh môn và rối loạn rung động niêm mạc.
Kết quả và đóng góp
- Các kết quả then chốt:
- Xác định chân dung lâm sàng hạt xơ dây thanh tập trung hoàn toàn ở nữ giới (100%), độ tuổi trung bình $40,5 \pm 10,5$ tuổi, trong đó lứa tuổi lao động 21–50 tuổi chiếm 80,00%.
- Nhận diện hai yếu tố nguy cơ hàng đầu là lạm dụng giọng nói trong nghề nghiệp (36,67%) và bệnh lý viêm mũi họng mạn tính đi kèm (33,33%).
- Xác lập đặc tính cơ năng chủ đạo: 100% khàn tiếng liên tục tăng dần với mức độ khàn tiếng vừa chiếm ưu thế tuyệt đối (86,67%), kèm theo cảm giác nói gắng sức (73,33%) và nói mệt (66,67%).
- Chứng minh cấu trúc vi thể đặc trưng của hạt xơ dây thanh giai đoạn mạn tính: 100% quá sản biểu mô (trong đó quá sản vừa và nặng chiếm 83,33%), 83,33% xơ hóa mô đệm khoảng Reinke, tỷ lệ xâm nhập viêm thấp (6,67%) và 100% màng đáy dày liên tục không bị phá hủy cấu trúc.
- Xác lập mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) giữa mức độ khàn tiếng lâm sàng và mức độ quá sản biểu mô trên vi thể.
- Khuyến nghị tác giả đề xuất:
- Đối với cộng đồng và người lao động: Thực hiện các biện pháp vệ sinh giọng nói, không lạm dụng giọng nói quá mức trong công việc hàng ngày.
- Về điều trị dự phòng: Khám và điều trị triệt để các ổ viêm nhiễm mũi họng mạn tính, viêm thanh quản và hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản ngay từ giai đoạn sớm nhằm loại trừ các kích thích cơ học và hóa học lên thanh quản.
- Về lối sống: Tránh xa các yếu tố kích thích như hút thuốc lá và uống rượu bia.
- Đóng góp học thuật: Công trình bổ sung dữ liệu lâm sàng kết hợp đối chiếu mô bệnh học đồng bộ trên bệnh nhân Việt Nam, củng cố bằng chứng thực nghiệm về sự tương ứng giữa mức độ tổn thương mô học (quá sản biểu mô, xơ hóa khoảng Reinke) với mức độ rối loạn giọng nói thực tế, hỗ trợ bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng trong chẩn đoán phân biệt và chỉ định can thiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu:
- Quy mô mẫu nghiên cứu còn khiêm tốn ($n=30$), được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một trung tâm chuyên khoa tuyến cuối (Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương), chưa bao quát toàn diện các tuyến y tế cơ sở.
- Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn đại dịch COVID-19 (8/2020 – 4/2022), dẫn đến thời gian tiếp cận y tế của người bệnh bị chậm trễ, phản ánh tỷ lệ giai đoạn bệnh muộn (khàn vừa và nặng, xơ hóa mô đệm) cao hơn thông thường.
- Thiết kế nghiên cứu thuần túy mô tả cắt ngang tại thời điểm phẫu thuật, chưa có điều kiện theo dõi dọc kết quả phục hồi giọng nói và tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật kết hợp luyện giọng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô mẫu trên nhiều trung tâm và ứng dụng nội soi hoạt nghiệm thanh quản kết hợp phân tích âm học khách quan (acoustic voice analysis) để định lượng chính xác các chỉ số rối loạn rung động niêm mạc.
- Tiến hành các nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc, đánh giá hiệu quả phối hợp giữa phẫu thuật vi phẫu thanh quản và trị liệu phát âm (luyện giọng) sau mổ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên đại học ngành Y đa khoa, học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, Cao học, Chuyên khoa I, Chuyên khoa II) chuyên ngành Tai Mũi Họng, bác sĩ giải phẫu bệnh học và các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực trị liệu ngôn ngữ.
- Các nội dung nổi bật đáng tham khảo:
- Hệ thống hóa chi tiết giải phẫu học định khu khung sụn, cơ nội thanh quản và thuyết "thân - vỏ" của Hirano giải thích cơ chế hình thành sóng rung niêm mạc.
- Bảng đối chiếu thực nghiệm giữa mức độ khàn tiếng trên lâm sàng với phân độ tổn thương quá sản biểu mô vi thể ($p < 0,05$).
- Bộ tiêu chí chẩn đoán phân biệt trên nội soi và giải phẫu bệnh giữa hạt xơ dây thanh với polyp và u nang dây thanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị trí xuất hiện đặc trưng và cơ chế bệnh sinh của hạt xơ dây thanh được giải thích như thế nào?
Hạt xơ dây thanh hình thành điển hình tại điểm nối giữa 1/3 trước và 2/3 sau trên bờ tự do của cả hai dây thanh, có tính chất đối xứng. Dưới góc độ sinh lý phát âm, 2/3 trước của dây thanh là phần niêm mạc tham gia trực tiếp vào chuyển động sóng rung, trong khi 1/3 sau thuộc khối sụn phễu. Lực va chạm cơ học giữa hai dây thanh khi phát âm có cường độ lớn nhất tại điểm giữa của phần niêm mạc rung (chính là vị trí 1/3 trước - 2/3 sau). Các vi chấn thương phát âm lặp đi lặp lại gây xung huyết, phù nề khoảng Reinke (hạt non), lâu dần tổ chức hóa thành mô xơ trưởng thành (hạt mạn tính).
2. Đặc điểm dịch tễ học về giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp của 30 bệnh nhân trong nghiên cứu ra sao?
Toàn bộ 30 bệnh nhân trong nghiên cứu đều là nữ giới (chiếm 100,00%), không có bệnh nhân nam. Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là $40,5 \pm 10,5$ tuổi (nhỏ nhất là 20 tuổi, lớn nhất là 64 tuổi), trong đó nhóm tuổi lao động từ 21 đến 50 tuổi chiếm đa số với 80,00% ($24/30$). Về nghề nghiệp, các công việc thường xuyên phải phát âm nhiều chiếm tỷ lệ cao nhất gồm nhân viên bán hàng (36,67%) và công nhân làm việc trong môi trường ồn ào của các xưởng may/khu công nghiệp (16,67%), tổng nhóm nghề nghiệp lạm dụng giọng nói chiếm 53,33%.
3. Tỷ lệ và đặc điểm của các triệu chứng cơ năng được ghi nhận trong nghiên cứu như thế nào?
100% bệnh nhân ($30/30$) có triệu chứng khàn tiếng với đặc tính khàn tiếng liên tục tăng dần; trong đó mức độ khàn tiếng vừa chiếm 86,67% ($26/30$), mức độ nhẹ và nặng đều chiếm 6,67% ($2/30$). Các triệu chứng cơ năng đi kèm thường gặp nhất gồm: nói gắng sức chiếm 73,33% ($22/30$), cảm giác nói mệt chiếm 66,67% ($20/30$), nói hụt hơi chiếm 30,00% ($9/30$). Các biểu hiện ít gặp hơn là đau họng, khô họng, ho khan kéo dài (cùng chiếm 20,00%), vướng họng (16,67%), ợ hơi/ợ chua (6,67%), khó thở nhẹ (6,67%) và mất tiếng hoàn toàn (3,33%).
4. Kết quả phân tích giải phẫu bệnh vi thể của hạt xơ dây thanh có những đặc điểm gì?
Về vi thể: 100% các trường hợp có tổn thương quá sản lớp biểu mô vảy (trong đó quá sản mức độ vừa và nặng chiếm 83,33%, quá sản nhẹ chiếm 16,67%). Ở lớp mô đệm khoảng Reinke, 83,33% trường hợp biểu hiện xơ hóa mô đệm, không gặp trường hợp nào chỉ phù nề/xung huyết đơn thuần. Tổn thương xâm nhập tế bào viêm mạn tính ở mô đệm chỉ chiếm 6,67%, còn lại 93,33% không có xâm nhập viêm. Đặc biệt, 100% trường hợp có hiện tượng dày màng đáy nhưng toàn bộ cấu trúc màng đáy đều còn nguyên vẹn, không bị phá hủy.
5. Nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan nào giữa triệu chứng khàn tiếng và hình ảnh mô bệnh học?
Nghiên cứu xác lập mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ khàn tiếng trên lâm sàng với mức độ quá sản biểu mô trên tiêu bản giải phẫu bệnh ($p < 0,05$). Cụ thể: nhóm khàn tiếng nhẹ có 100% ($2/2$) trường hợp biểu mô quá sản mức độ nhẹ; nhóm khàn tiếng vừa có 88,46% ($23/26$) trường hợp biểu mô quá sản mức độ vừa và nặng; nhóm khàn tiếng nặng có 100% ($2/2$) trường hợp biểu mô quá sản mức độ vừa và nặng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã làm sáng tỏ các đặc trưng dịch tễ, lâm sàng và giải phẫu bệnh của hạt xơ dây thanh trên 30 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương giai đoạn 2020–2022. Bệnh lý xuất hiện ưu thế tuyệt đối ở nữ giới trong độ tuổi lao động có đặc thù nghề nghiệp sử dụng giọng nói nhiều, với biểu hiện cơ năng điển hình là khàn tiếng liên tục tăng dần kèm theo nói mệt và nói gắng sức. Kết quả giải phẫu bệnh khẳng định tính chất tổn thương lành tính mạn tính đặc trưng bởi dày nguyên vẹn màng đáy, xơ hóa mô đệm khoảng Reinke và quá sản lớp biểu mô vảy có tương quan tỷ lệ thuận với mức độ khàn tiếng lâm sàng.