Đặt vấn đề Cây khoai mì hay còn gọi là San ( Manihot esculenta Crantz ) phố biến nhất ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Thuộc top cây lương thực quan trọng chỉ sau Lúa và Ngô. Không chỉ dùng làm thức ăn cho cả người hoặc trong chăn nuôi mà còn được sản xuất cho các doanh nghiệp chế biến sản phẩm trong nước và xuất khâu ra nước ngoài. Ở Việt Nam, theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), hiện nay khoai mi và các san phẩm từ khoai mì là một trong 13 sản phẩm nông sản chủ lực với kim ngạch xuất khâu 1,35 tỷ USD/năm, đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Thái Lan.
Tây Ninh và Gia Lai hiện là 2 tỉnh dẫn đầu về diện tích và năng suất của khoai mì ở nước ta. Theo Sở NN&PTNT Tây Ninh cho biết, tinh có diện tích trồng khoai mì lớn thứ hai cả nước (sau Gia Lai) nhưng năng suất đứng nhất cả nước, diện tích trồng khoai mì hằng năm của Tây Ninh đạt khoảng 59.000 ha, chiếm 22,1% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh, năng suất trung bình khoảng 33 tan/ha. Với diện tích lớn như vậy việc kiểm soát các nguồn bệnh trên cây khoai mì là vô cùng quan trọng. Và van đề lớn nhất hiện nay là sự xuất hiện của bệnh khám lá trên cây khoai mì.
Đây là bệnh do virus gây ra nghiêm trọng nhất trên cây khoai mì (Cassava Mosaic Virus -CMV) ở tiểu vùng Sahara Châu Phi (Legg & ctv, 2006). Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1894 tại Châu Phi, là dịch bệnh nguy hiểm có kha năng lây lan nhanh va gây thiệt hại nghiêm trọng về năng suất và chất lượng khoai mì. Năm 2005, bệnh kham lá khoai mì (Casava Mosaic Disease - CMD) đã ảnh hưởng đến 9 quốc gia ở Đông và Trung Phi có diện tích 2,6 triệu km2 và gây thiệt hại ước tính 47% sản lượng ở các quốc gia bi ảnh hưởng tương đương với hơn 13 triệu tan (Legg & ctv, 2006). Đến nay, trên thé giới có 9 chủng virus thuộc chỉ Begomovirus, họ Geminiviridae đã được ghi nhận trên cây khoai mì (Duraisamy & ctv, 2013).
Tất cả các chủng này tấn công đều gây các triệu chứng bệnh trên cây khoai mì như : Lá đốm vàng, xoăn, cây còi cọc, kém phát triển. Cây có thé bị nhiễm một hoặc nhiều chủng khác nhau. Tại Tây Ninh, tính đến ngày 18/3/2022, tổng diện tích sản xuất khoai mì còn trên đồng là 46.613 ha, diện tích nhiễm bệnh kham lá còn trên đồng là 36.968 ha, chiếm 79,3% 1 diện tích khoai mì còn trên đồng của tỉnh Tây Ninh. Và Tây Ninh cũng là điểm đầu tiên ghi nhận bệnh kham lá xuất hiện vào tháng 6/2017 đã được xác định là do Sri Lanka Cassava Mosaic Virus (SLCMV) gây ra.
Năm 2019, phát hiện thêm 2 dòng virus gây bệnh khám có nguồn gốc từ Châu Phi là African Cassava Mosaic Virus ( ACMV) và East African Cassava Mosaic Virus ( EACMV) đều xuất hiện trên các giống khoai mì trên địa bàn (Lê Đức Hưng & ctv,2019). Nghiên cứu này nhằm xác định lại các giống khoai mì bị nhiễm các chủng virus ACMV, EACMV và SLCMV trên địa bàn tinh Tây Ninh bằng phương pháp Multiplex PCR và đánh giá hiện trạng, triệu chứng và mức độ nhiễm của các giống nay. Mục tiêu Dùng phương pháp Multiplex PCR để chuẩn đoán và đánh giá hiện trạng nhiễm Virus gây bệnh kham lá trên các giống khoai mì tại Tay Ninh phục vụ cho công tác kiểm soát nguồn giống sạch bệnh Virus đáp ứng cho nhu cầu canh tác của người dân trồng khoai mì. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Thu thập mẫu và mô tả triệu chứng bệnh khảm lá trên các giống khoai mì trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Nội dung 2: Sử dụng phương pháp Multiplex PCR chuẩn đoán, phát hiện virus gây bệnh kham lá khoai mì trên các giống.
Chương 2 TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Sơ lược về cây Khoai Mì 2.1 Nguồn gốc và phân bố Khoai mì ( Manihot esculenta Crantz ) còn được gọi là Tapioca ở Châu A, Manioc ở Châu Phi, và ở Châu Mỹ Latinh thường là Manioca, Yucca và Mandioca. Có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Là một loại cây bụi thân gỗ lâu năm thuộc họ Euphorbiaceae (họ cây đỉnh lăng) đã được trồng phố biến như một loại cây hàng năm ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới vì củ có nhiều tinh bột ăn được. Chi Manihot có khoảng 100 loài và Khoai mì ( Cassava) là loài duy nhất được trồng thương mai.
Các loài cây hoang đã của phân loài M. esculenta flabellifolia được coi là tổ tiên của khoai mì thuần hóa cách đây hơn 10 000 năm, tập trung ở phía tây trung tâm Brazil. Việc trồng khoai mì có lẽ bắt đầu từ phần Đông Bắc của Brazil, Paraguay đến México từ hơn 4000 năm trước. Sau đó cây Khoai mì được các thương nhân Bồ Dao Nha đem về bờ biển phía tây của châu Phi vào năm 1588 sau khi khám phá ra luc địa châu Mỹ và được trồng ở Vịnh Guinea và Congo đầu tiên.
Vào khoảng năm 1750, trồng khoai mì được phổ biến đến Madagascar và bờ biển phía đông của Châu Phi. Và giữa thé ky XIX, Khoai mì ngày càng trở nên quan trọng như nguồn thực chính và được trồng rộng rãi ở Châu Phi. Vào cuối thé ky XVIIL, sắn đã được phô biến rộng rãi ở châu A và được trồng ở Indonesia, Sri Lanka, Malaysia và các nước khác thuộc khu vực nhiệt đới va cận nhiệt đới châu Á. Diện tích canh tác toàn cầu là khoảng 19 triệu ha, 55% ở Châu Phi, 27% ở Châu Á và 18% ở Châu Mỹ Latinh (FAO 2012).
Cây khoai mì được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ XVUI (Pham Văn Biên, Hoàng Kim, 1995).2 Tên khoa học và phân loại Tên khoa học: Manihot esculenta Crantz Phân loại khoa học: - Giới (Plantea) - Bộ (Malpighiales) - Họ (Euphorbiaceae) - Phân họ (Crotonoideae) - Tông (Manihoteae) - Chi (Manihot) - Loài (M esculenta). Chi Manihot thuộc ho Euphorbiaceae, có tới hơn 300 chi và 8000 loài hau hết là cây nhiệt đới. Chi Manihot thuộc nhóm Manihotae. Tất cả các loài trong chi đều có số lượng nhiễm sắc thé 2n= 36.3 Đặc điểm hình thái Hình 2.
1 Các bộ phận chính của cây khoai mi a) Rễ; b) Thân cây; c)Lá; d) Hat 2.1 Rễ củ Gồm có 1 rễ cọc cắm thắng đứng xuống đất và các rễ phụ lúc đầu phát triển theo chiều ngang sau đó cũng phát triển theo phương thắng đứng. Cả 2 loại rễ cọc và rễ phụ đều có thé phát triển thành củ. Rễ củ là do rễ con được tập trung đinh dưỡng hình thành. Khi cây sắn bắt đầu ra rễ, số lượng rễ con rất nhiều.
Khi cây trưởng thành chỉ một số rễ được tích lũy đầy đủ tinh bột mới phát triển thành củ thu hoạch. Củ sắn lớn có dạng hình trụ hoặc hình thoi có kích thước từ 2 — 15 em (Trần Ngọc Ngoạn, 2007).2 Thân Thuộc loại thân gỗ. Cây cao trung bình từ 1 — 3 m. Chiều cao cây phụ thuộc vao giống và điều kiện chiếu sáng, mức độ thâm canh, mật độ và thời vụ trồng.
Cây khoai mì có khả năng phân cành, có 1 số giống không phân cành. Sự phân cành có liên quan đến khả năng ra hoa. Thân và cành già đã hóa gỗ có màu trắng bạc, xám nâu hoặc hơi vàng ( Trần Ngọc Ngoạn, 2007).3 Lá Là loại lá đơn có chia thùy mọc xen kẽ trên thân và xếp theo vòng (cứ 5 lá một vòng). Lá khoai mì gôm 2 phân : cuôn lá và phiên lá.
Cuống lá: cuống lá dai từ 3 đến 30cm và có các màu sắc khác nhau tùy theo giống (màu hồng, vàng, xanh vàng, đỏ tươi). Phiến lá: phiến lá thường có 5-7 thùy, nhưng cũng có khi không chia thùy. Phiến lá mảnh, dạng màng, màu xanh lục, phía dưới có phấn. Ở những cây mọc từ hạt, phiến lá thường nguyên vẹn hoặc chia không đều.
Các cây mọc từ hom từ chỗ phân cành trở lên số thùy ở phiến lá có thé giảm đi (Trần Ngọc Ngoan, 2007).4 Quả và hạt Quả sắn thuộc loại quả nang mở khi chín, đường kính 1,0-1,5em có 3 6, mỗi 6 thường có 1 hạt. Quả có khi nhẫn nhưng thường có 6 cánh, hình thành từ những cánh của bầu hoa. Màu sắc từ lục nhạt, hơi vàng đến lục hay đỏ tía khá đậm. Vỏ quả có 3 lớp: vỏ quả ngoài, vỏ quả giữa, vỏ quả trong.
Hạt hình quả trứng, tiết diện hơi giống hình tam giác, hạt có vân hoặc những vết nâu đỏ trên nền màu kem hoặc xám nhạt (Trần Ngọc Ngoạn, 2007).4 Thành phần dinh dưỡng và giá trị sử dụng Cây san có giá trị kinh tế lớn về nhiều mặt. San là nguồn lương thực cho con người và là thức ăn cho gia súc trong chăn nuôi. Tất cả các bộ phận của cây sắn đều có thé sử dụng vào các mục đích kinh tế. Thành phần hóa học chính của củ sắn là gluxit, ở củ sắn tươi có ty lệ chất khoáng và vitamin khá cao đặc biệt là canxi.
Tuy nhiên sắn có tỷ lệ protein và lipit thấp, vì vậy khi sử dụng sắn làm lương thực cần chú ý b6 sung thêm thức ăn giàu đạm và lipit mới cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể. Củ khoai mì tươi có tỷ lệ chất khô 38 - 40%, tinh bột 16 - 32%, giau vitamin C, calcium, vitamin B va các chất khoáng, nghèo chất béo, muối khoáng, vitamin và nghèo đạm. Trong củ khoai mì, hàm lượng các acid amin không được cân đối, thừa arginin nhưng lại thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Thành phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau khi trồng và kỹ thuật phân tích.
Lá khoai mì có hàm lượng đạm khá cao, nhiều chất bột, chất khoáng và vitamin. Chất đạm của lá khoai mì có khá đầy đủ các acid amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin. Trong lá khoai mì ngoài các chất dinh dưỡng, cũng chứa một lượng độc tố axid cyanhydric (HCN) đáng kể. Các giống khoai mì ngọt có 80 - 110 mg HCN/Ikg lá tươi.
Các giống khoai mì đắng chứa 160 - 240 mg HCN/1kg lá tươi (Nguyễn Thị Minh Lệ, 2020).5 Tình hình sản xuất Khoai mì trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất Khoai mì trên thế giới Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu người. Năm 2006 và 2007, sản lượng sắn thế giới đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu tan. Nước có sản lượng sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tan), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tan) và Indonesia (19,92 triệu tấn).