Đặt vấn đề Du đủ (Carica papaya L.), là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các sản phẩm từ đu đủ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như nhựa đu đủ có chứa enzym phân giải protein papain, được xem là nguồn nguyên liệu tách chiết enzym làm nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến thịt và thực phẩm hỗ trợ tiêu hoá (Starley, 1999; Hewitt và ctv, 2000), qua du đủ khi còn xanh có thê thu hoạch làm nguyên liệu chế biến các món ăn như gỏi, nấu canh, sấy khô, sấy dẻo, làm mứt,., qua chín có thé dùng ăn tươi hoặc xay nhuyễn làm sinh tố, kem, nước ép, kẹo, thạch,. với giá tri dinh dưỡng cao (Sankat and Maharaj, 1997). Ở Việt Nam, đu đủ được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam, nhưng trồng nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Nguyễn Văn Hoan và ctv, 2010).
Song song với giá trị kinh tế mà cây đu đủ mang lại cũng có nhiều vấn đề dịch hại trên cây du đủ cần quan tâm trong sô đó có bệnh đốm vòng do virus đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho người trồng. Ở các vùng trồng đu đủ ở nước ta và một số nước như Australia, Thái Lan, Đài Loan, Malaysia và đặc biệt là bang Hawaii của Mỹ đang bị thiệt hại nghiêm trọng do sự hoành hành của virus đốm vòng (Papaya Ringspot Virus — PRSV) có vật liệu di truyền là sợi RNA đơn (Purcifull và ctv, 1984). Virus PRSV lan truyền chủ yêu thông qua tiếp xúc cơ học và qua trung gian là côn trùng như các loại ray, rép (Tripathi va ctv, 2008). Khi bị nhiễm virus, cây sẽ biéu hiện các triệu chứng đặc trưng như cây phát triển còi cọc, lá bị khảm và biến dạng, thân xuất hiện vệt dầu loang, hình thành đốm có dạng vòng hình chiếc nhẫn mau xanh mờ trên qua, do đó làm giảm sản lượng và chất lượng quả, lượng đường trong quả có thể bị giảm đến hơn 50% (Wu và ctv, 2018; Tripathi và ctv, 2008) vì vậy dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả kinh tế cho người trồng đu đủ.
Phương pháp thường được sử dụng đề ngăn chặn việc lây lan của PRSV đang được sử dụng là chặt và loại bỏ cây ký chủ mang mam bệnh, cách ly vùng bị bệnh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vat dé kiểm soát các trung gian truyền bệnh. Tuy nhiên, các phương pháp này cũng gặp phải một số khó khăn như không thể ngăn chặn hiệu quả sự lan truyền của các vector truyền bệnh, ngoài ra việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng có thé dem lại các tác động tiêu cực đến môi trường. Phương pháp chủng dòng virus nhẹ trên lý thuyết được xem là một phương pháp kiểm soát virus thực vật tiềm năng thông qua cơ chế bảo vệ chéo (Ziebell và ctv, 2017). Cơ chế này dựa trên cơ sở một dòng virus nhẹ sẽ được đưa vào cây ký chủ nhằm giúp cây ký chủ tạo khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng với virus giúp bảo vệ trước sự lây nhiễm của các chủng virus cùng loại mạnh hơn (Hull, 2002; Ziebell, 2008).
Vì vậy mà cơ chế bảo vệ chéo được phát trién dé tăng khả năng kháng bệnh do virus PRSV gây ra trên cây đu đủ, nhằm giúp tăng sản lượng và giúp giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật cần dùng trong canh tác nông nghiệp (Pechinger và ctv, 2019; Yeh & Gonsalves, 1994). Dòng nhẹ PRSV HA 5-1 có nguồn gốc từ dòng nặng PRSV tại Hawaii đã được sử dụng ở Đài Loan trong nhiều thập ky (Wang va ctv, 1987; Yeh va Gonsalves, 1994); tuy nhiên, HA 5-1 không cung cấp mức độ bao vệ cao đối với các dong PRSV ở Việt Nam (Tran và ctv, 2022). Vì vậy, dé giải quyết van dé bảo vệ đặc hiệu chống lại dòng PRSV ở Việt Nam một bản sao cDNA có khả năng lây nhiễm đã được tạo ra từ virus gây bệnh đốm vòng TGS, dòng phân lập đại diện được thu thập từ tỉnh Tiền Giang. Bản sao này đã được sửa đổi bằng cách cắt bỏ một số nuleotide thiết yêu ở vùng HC-pro của virus gay bệnh dé tạo ra các đột biến suy giảm độc lực và tao cơ chế bảo vệ chéo (Atreya va ctv, 1992; Gal-On, 2000; Lin va ctv, 2007).
Hai dòng virus nhẹ TG-d51; và TG-d5L206 được phat triển từ dong TGS có kha năng kiểm soát bệnh đốm vòng trong điều kiện nha lưới được thực hiện thí nghiệm tại Đài Loan (Tran và ctv, 2022). Nhưng trên lý thuyết thông thường hiệu quả phương pháp bảo vệ chéo dé bị ảnh hưởng bởi các yêu tố môi trường tự nhiên và sự én định của dòng nhẹ được chúng vào cây. Do đó dé tài “Đánh giá hiệu quả bảo vệ chéo của hai đòng nhẹ TG-d51; và TG-d5L 206 đối với virus gây bệnh đốm vòng trên du đủ (Carica papaya L.) ở điều kiện ngoài đồng tại tỉnh Tiền Giang” đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả bảo vệ thực sự của hai dòng virus nhẹ này trong điều kiện canh tác thực tế. Mục tiêu đề tài — Xác định được 2 dòng nhẹ TG-d5T; và TG-d5L206 có khả năng bảo vệ cây du đủ trước các dòng PRSV tự nhiên hay không và dòng nhẹ nào bảo vệ tốt hơn ở điều kiện tự nhiên trên dong ruộng.
— Xác định dòng nhẹ có hay không gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả đu đủ ở cây được chủng. Nội dung thực hiện — Đánh giá mức độ bảo vệ, tính én định và khả năng bảo vệ chéo của hai dòng nhẹ TG- d5I; và TG-đ5Lao trên cây đu đủ đối với các dong virus PRSV tự nhiên trong điều kiện ngoài đồng. — Đánh giá sản lượng và chất lượng quả khi sử dụng phương pháp bảo vệ chéo bằng hai dòng virus nhẹ TG-d51; và TG-d5L206. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Sơ lược về cây đu đủ 2. Phân loại và đặc điểm hình thái Phân loại khoa học Giới (kingdom) : Plantae Bộ (order) : Brassicales Ho (family) : Caricaceae Chi (genus) : Carica Loài (species) :C. papaya Du đủ là một loại cây than mềm bán mộc, thân còn non có màu xanh, khi già có màu xám xanh, nâu xám hay nâu đỏ. Thường chỉ có một thân, chiều cao khoảng 3-10 m, lá cây ở dạng đơn sắp xếp xoắn ốc tập trung ở phần ngọn của thân cây, phần thân cây có nhiều sẹo lá, là noi sinh ra lá và phát hoa tạo qua.
Các lá lớn, đường kính 50-70 cm, lá hình dạng thùy, với 7 đến I1 thùy chính. Tất cả các bộ phận của cây đều chứa mủ với các chuỗi tế bảo tiết mủ liên kết. Du đủ là thực vật don tính, hoa du đủ có năm cánh và có mức độ di hình giới tính cao, các hoa đực có các nhị hợp với các cánh hoa, hoa cái có một bầu nhụy phía trên và năm cánh hoa xoắn nối với nhau ở phần gốc. Những bông hoa có mùi thơm dịu, nở vào ban đêm và thụ phan nhờ gió hoặc côn trùng.
(Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2004) Quả đu đủ thuộc loại quả thịt có hình đạng thay đổi theo giống và ngay trong cùng một giống. Thông thường quả có đạng dải, ovan, thon dài hoặc tròn. Khi chưa chín quả có màu xanh, chuyên dần sang xanh đậm, xanh sữa và khi chín có màu vàng hoặc vàng da cam, vàng sam. Ngoài ra, theo Nguyễn Danh Van (2007), hình dạng quả đu đủ cũng phụ thuộc vao loại hoa đã thụ tinh.
Qua dạng hình trứng hay hình cầu là do hoa cái tạo thành, mỏng cơm, bọng ruột, quả lớn và tròn. Quả dạng hình thon dài do hoa lưỡng tính tạo thành, dày cơm, nhiều hạt, ngon ngọt và rất lớn. Nguồn gốc và phân bố Theo Blench (2008) Cây đu đủ có nguồn gốc từ vùng đất thấp ở miền Nam Mexico, miền Đông Trung Mỹ và Bắc Nam Mỹ. Nó có lẽ đã được người Tây Ban Nha đưa tới Philippines vào khoảng năm 1550.
Từ đây nó được đưa vào khu vực nhiệt đới châu Á, châu Phi. Ngày nay, đu đủ được trồng 0 phan lớn các nước nhiệt đới như Brazil, An Độ, Sri Lanka, Philippines, Việt Nam, Thái Lan, quần đảo Hawaii Hoa Kỳ, Trung Phi, Ấn Độ, Indonesia và Australia. Giá trị dinh dưỡng Quả du đủ chín là một loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao dùng để ăn tươi hoặc làm nguyên liệu sản xuất. Trong thịt qua có chứa 85-88% nước, protein 0,6%, lipid 0,1%, đường 8,3%, chat xơ 0,6%, tro 0,4% và axít 0,14%.
Quả đu đủ được xác định có hàm lượng B-carotene và lycopene cao. Ngoai ra quả du đủ chín khá giàu canxi, vitamin A, B, C và các thành phần khoáng chất (Ca, Fe, Mg, P, K, Na) (Koul, 2022). Quả du đủ xanh có chứa khoảng 60-70% các chất dinh dưỡng so với quả chín và được sử dụng làm rau ăn cho người và làm thức ăn cho chăn nuôi. Ngoài ra, quả xanh còn là nguyên liệu dé làm mứt quả hoặc sấy khô làm rau dự trữ cũng như chế biến cùng các sản phẩm khác.
Bệnh đốm vòng do Papaya ringspot virus (PRSV) gây hại trên đu đủ 2. Phân bố và thiệt hại Những nghiên cứu về bệnh virus đốm vòng trên đu đủ được ghi nhận đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1949 (Jensen, 1949). Sau đó, virus lần lượt được phát hiện va công bố ở các quốc gia trồng đu đủ trên thế giới, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Gonsalves, 1984). Ở các vùng trồng du đủ như Hawaii, Nam Mỹ, Đài Loan, Nhật Ban, Nigeria, Bazil, Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Australia,.
PRSV trở thành một trong những trở ngại chính và gây thiệt hại lớn cho việc canh tác đu đủ (Bau va ctv, 2002). Theo điều tra của Nguyễn Thị Hai Yến (2011), PRSV được phát hiện ở miền Nam Đài Loan năm 1975 và sau 2 năm virus lan ra khắp vùng duyên hải phía Đông và phá hủy phần lớn các vườn du đủ thương mại. Dịch hại này đã khiến cho cây đu đủ ở Đài Loan từ một cây ăn quả lâu năm trở thành cây hàng năm do người dân cứ sau một vụ thường phải chặt đi trồng lại cây mới. Sản lượng giảm nghiêm trọng khiến Đài Loan cũng đánh mất nhiều thị trường xuất khẩu quan trọng như Nhật Bản, Hồng Kông.
Ở Brazil, PRSV gần như xóa s6 du đủ ở hai bang chuyên canh đu đủ lớn là Rio de Janeiro và Sao Paulo khiến Brazil phải chuyển vùng sản xuất đu đủ từ Rio de Janeiro và Sao Paulo đến các bang phía bắc Espiriro Santo va Bahia, tuy nhiên cũng không may kha quan vì PRSV vẫn tiếp tục hoanh hành và lan rộng.