Chương 1 đã đưa ra một cách tổng quan sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, đưa ra cụ thể các mục đối tượng, phạm vi, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu để từ đó lấy cơ sở cho các phần sau của bài nghiên cứu. Tác giả cũng khái quát sơ lược về bộ dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cho các mô hình hồi quy trong bài. CHƯƠNG 2: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khả năng sinh lời Để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, các nhà quản lý và nhà đầu tư quan tâm đến các chỉ tiêu về lợi nhuận, vì lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần. Lợi nhuận cũng là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý và nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định chiến lược.
Tất cả các chiến lược được thiết kế và các mối quan hệ hoạt động được thực hiện đều nhằm thực hiện mục tiêu to lớn này. Có nhiều tỷ số khác nhau được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của một ngân hàng thương mại. Anggono (2017) và Kumar (2016) cho rằng biến hiệu quả hoạt động của ngân hàng được thể hiện bằng hai thước đo gốc thay thế, đó là ROA và ROE. Trong một nghiên cứu của Ongore và Kusa (2013), ROA, ROE và NIM là các tỷ số chính đo lường khả năng hoạt động của một ngân hàng thương mại.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là một chỉ số quan trọng đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. Đây là tỷ lệ trung bình của lợi nhuận ròng trước thuế trên tổng tài sản (Ongore & Kusa, 2013; Anggono, 2017). ROA cho biết khả năng của một ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ tổng số lợi nhuận của ngân hàng dưới dạng tập hợp. Nói cách khác, chỉ tiêu này cho thấy một ngân hàng thương mại sử dụng các nguồn lực của mình một cách hiệu quả như thế nào.
ROA càng cao thì ngân hàng càng sử dụng hiệu quả Z `" các nguôn lực. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ tiêu ROE phan ánh mỗi đồng vốn mà các chủ sở hữu đầu tư thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Do vậy, chỉ tiêu ROE được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, bởi mục tiêu quan trọng nhất của tổ chức kinh tế chính là tối đa hóa lợi ích cho các chủ sở hữu. Ongore và Kusa (2013) giải thích rằng ROE có thể được đo lường bằng tỷ lệ giữa Thu nhập ròng trên Thuế bình quân / Tổng vốn chủ sở hữu.
Tỷ số này cho biết tỷ suất lợi nhuận thu được từ tiền của các cổ đông đầu tư, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của ban lãnh đạo ngân hàng. Do đó, có thể thấy ROE càng tốt thì việc quản lý vốn cổ đông càng hiệu quả. Lãi suất ròng (NIM), hay biên lãi ròng, là khoản chênh lệch giữa thu nhập của ngân hang và chi phí liên quan đến lãi suất, chẳng hạn như chênh lệch giữa thu nhập lãi nhận được và chỉ phí lãi vay phải trả cho người cho vay liên quan đến các khoản tiền gửi của họ. Ongore và Kusa (2013) đã định nghĩa rằng “Biên lãi ròng đo lường chênh lệch giữa thu 9 nhập lãi mà ngân hàng nhận được từ các khoản cho vay và chứng khoán và chi phí lãi của các khoản tiền đã vay.
Nó phan ánh chi phí của dịch vụ trung gian ngân hang và hiệu quả của ngân hàng ”. Tỷ suất lợi nhuận ròng càng cao thì ngân hàng càng có lãi và càng ổn định. Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận ròng là một trong những tỷ số quan trọng để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Tuy nhiên, theo Heid (2007), lãi suất ròng cao hơn có thể phản ánh hoạt động cho vay rủi ro hơn liên quan đến dự phòng rủi ro cho vay.2 Khả năng chấp nhận rủi ro trong ngân hàng Rủi ro trong ngân hàng là rủi ro trong các hoạt đông ngân hàng hoặc rủi ro tài sản của ngân hàng khi đối mặt trong quá tình hoạt động ngân hàng.
Các cách phổ biến nhất để đo lường mức độ rủi ro của các tổ chức tài chính là VaR, ES và Z-score. VaR là thước đo rủi ro tiêu chuẩn để quản lý rủi ro ngân hàng được khuyến nghị bởi Basel II. ES là thước đo rủi ro tốt hơn VaR và được khuyến nghị trong Basel III. Tuy nhiên, cả VaR và ES đều tập trung vào rủi ro của một tổ chức riêng lẻ và không thể nắm bắt đầy đủ rủi ro hệ thống (Li và Malone, 2016).
Trong khi đó, tập trung vào rủi ro chung của các ngân hàng và chỉ số Z là một cách tiếp cận phù hợp. Z-score hiện đã trở thành một chỉ báo phổ biến về mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng và đã được các học giả sử dụng rộng rãi (Laeven và Levine, 2009; Houston và cộng sự, 2010; Delis và cộng sự, 2014). Bằng cách đo khoảng cách đến vỡ nợ cũng như kích thước của bộ đệm vốn và độ lệch chuẩn của lợi nhuận, điểm Z rất don giản trong tính toán và nó có thể được tính bằng cách chỉ sử dụng đữ liệu kế toán có sẵn. Hành vi chấp nhận rủi ro đề cập đến sự sẵn sàng nắm bắt cơ hội của các công ty trong môi trường kinh doanh không chắc chắn (Hiebl, Baule, DutZi, Stein, & Wiedemann, 2018).
Khái niệm này khác với phạm trù “liều lĩnh” trong kinh doanh hay được hiểu là khả năng nhận thức rủi ro kém. Chấp nhận rủi ro tiếp cận theo khía cạnh quản trị được hiểu là dựa trên nhận thức về rủi ro và quyết định thực hiện với sự lựa chọn trong các hoạt động nghiên cứu và phát triển (Research & Development), nắm giữ tiền mặt hoặc chiến lược đa dạng hóa (Farouk & DanDago, 1970). Lý thuyết về hành vi chấp nhận rủi ro lập luận rằng công ty có mức độ chấp nhận rủi ro càng cao, hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ tốt hơn (Boermans & Willebrands, 2017). Khả năng chấp nhận rủi ro có liên quan đến chỉ phí, lợi nhuận và mức độ én dinh tài chính (Vušinié, 2020).
Hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hang được các nhà nghiên cứu cho rằng có vai trò quan trọng đối với sự ôn định tài chính tổng thể của nền kinh tế (Saunders, Strock, & Travlos, 1990). Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã nghiên cứu các yếu tố quyết định hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Các nghiên cứu cho 10 rằng có hai nhóm yếu tố tác động đến hành vi chấp nhận rủi ro. Thứ nhất, nhóm các yếu tố tập trung vào các đặc thù riêng của từng ngân hàng, chẳng hạn như quy mô (Köster & Pelster, 2017; Wang & Sui, 2019), tỷ lệ an toàn vốn (Diamond & Rajan, 2012), tính thanh khoản (Diamond, & Rajan, 2012 ), đa dạng hóa các nguồn tài trợ (Saif-Alyousfi & ctg.
Thứ hai, nhóm các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hang, ví dụ như mức độ cạnh tranh của ngân hàng (Saif-Alyousfi & ctg., 2020), chính sách tiền tệ (Chen, Jeon, Wang, & Wu, 2015). Nghiên cứu trước kia của Yong (2016), Sufian và Choong (2008), Liu và Wilson (2010) đưa ra ngân hàng chấp nhận rủi ro trong các khoản vay hoặc đầu tư, thì khả năng sinh lời sẽ giảm. Ngân hàng phải đánh giá cẩn thận về mức độ rủi ro của một khoản vay hoặc đầu tư trước khi quyết định chấp nhận. Nếu ngân hàng chấp nhận một khoản vay hoặc đầu tư mà không đánh giá được mức độ rủi ro, hoặc mức độ rủi ro quá cao và không thể quản lý được, ngân hàng có thể phải chịu những tổn thất lớn về tài sản hoặc lợi nhuận.
Do đó, chấp nhận rủi ro không đúng cách có thể làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải cân bằng giữa việc chấp nhận rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận, vì một ngân hàng quá thận trọng trong việc chấp nhận rủi ro có thể bị cạnh tranh bởi các đối thủ khác có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn. H1: Chấp nhận rủi ro có tác động tiêu cực tới lợi nhuận của ngân hàng.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Tỷ lệ an toàn vốn Theo Dang (2011), tỷ lệ an toàn vốn được đánh giá dựa trên hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR).
Sangmi và Tabassum (2010) chỉ ra rằng hệ số CAR phản ánh sự giàu có nội tại của các ngân hàng để có thể chịu được thiệt hại trong trường hợp khủng hoảng kinh tế. Giá trị của tỷ số này càng cao phản ánh khả năng phục hồi tốt hơn của ngân hàng. Khi ngân hàng có mức vốn chủ sở hữu cao, họ sẽ có khả năng tăng trưởng và sinh lợi tốt hơn. Vốn chủ sở hữu cao giúp ngân hàng có khả năng cung cấp cho vay nhiều hơn, tăng cường năng lực cạnh tranh của họ trên thị trường.
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu cũng giảm thiểu rủi ro tài chính và tăng tính ổn định ngân hàng. Nguyen và Thư (2021); Huỳnh (2019) đều có các nghiên cứu chỉ ra ngân hàng tăng trưởng vốn chủ sở hữu tốt sẽ tăng lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên theo Yong (2016) lại nghiên cứu và chỉ ra vốn chủ sở hữu không phải là yếu tố quyết định khả năng tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng. Việc tăng trưởng và 11 sinh lợi nhuận ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nữa như chiến lược kinh doanh, quan ly tài san, vv.
H2: Vốn chủ sở hữu có tác động tích cực tới lợi nhuận ngân hàng. Chất lượng tài sản Chất lượng của danh mục cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời của ngân hàng.Theo Dang (2011), rủi ro cao nhất mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt là lỗ từ các khoản nợ quá hạn. Do đó, lãi suất cho vay không phù hợp là dấu hiệu tốt cho chất lượng của tài sản. Các nghiên cứu khác nhau đã sử dụng các loại tỷ số tài chính khác nhau làm đại lý cho hoạt động của ngân hàng.
Một trong những mối quan tâm lớn của tất cả các ngân hàng thương mại là giữ số lượng các khoản cho vay không tuân thủ ở mức tối thiểu. Các khoản cho vay không phù hợp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Vì vậy, càng nhiều khoản cho vay không phù hợp, tổng số tiền cho vay càng cao và sức khỏe danh mục của ngân hàng càng tốt. Có nghĩa là, tỷ lệ này càng thấp thì ngân hàng càng hoạt động tốt (Sangmi & Tabassum, 2010).