Giới thiệu dự án

Ngành sản xuất chè tại Việt Nam giữ vị thế chiến lược trong cơ cấu nông nghiệp quốc gia. Theo số liệu thống kê năm 2020, tổng diện tích canh tác chè cả nước đạt 123,3 nghìn ha với sản lượng búp tươi vượt mốc 1.018 nghìn tấn (2019). Tuy nhiên, chuỗi giá trị hiện tại chỉ tập trung khai thác búp và lá non, trong khi phụ phẩm hạt chè (Camellia sinensis) với năng suất 2.000 – 4.000 nụ hoa/cây/năm hầu như bị bỏ phí ngoài đồng ruộng hoặc chỉ sử dụng một tỷ lệ không đáng kể để gieo giống.

Hạt chè chứa hàm lượng lipid dồi dào (22,9% chất khô), giàu các axit béo chưa bão hòa thiết yếu như axit oleic (44,13%), axit linoleic (27,79%), cùng các hoạt chất sinh học giá trị cao như epigallocatechin (12,93 mg/kg), catechin (6,32 mg/kg) và vitamin E. Việc thiếu vắng các quy trình công nghệ chuẩn hóa để trích ly và thu hồi dầu hạt chè chất lượng cao tại Việt Nam dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên sinh học quý giá và giảm hiệu quả kinh tế của chuỗi ngành hàng chè.

       CHUỖI GIÁ TRỊ CÂY CHÈ VIỆT NAM (123,3 NGHÌN HA)

Dự án tập trung giải quyết 4 mục tiêu công nghệ cốt lõi:

  1. Xác định kích thước nguyên liệu bột hạt chè tối ưu nhằm tối đa hóa truyền khối.
  2. Khảo sát và lựa chọn hệ dung môi trích ly thân thiện, có độ phân cực phù hợp để hòa tan triệt để lipid và polyphenol.
  3. Chuẩn hóa tỷ lệ nguyên liệu/dung môi (NL/DM) nhằm cân bằng động lực học trích ly và tiết kiệm dung môi.
  4. Tối ưu hóa thời gian trích ly nhiệt trên hệ thống chiết Soxhlet để thu nhận hiệu suất dầu tối đa mà không gây phân hủy nhiệt các chất chống oxy hóa tự nhiên.

Kết quả kỳ vọng của nghiên cứu là xác lập bộ thông số công nghệ chuẩn đạt hiệu suất thu hồi dầu thô $\ge 21,5%$, chỉ số axit (Acid Value - AV) $\le 3,0\text{ mg KOH/g}$, chỉ số peroxit (Peroxide Value - PV) $\le 4,0\text{ Meq/kg}$ và hoạt tính quét gốc tự do DPPH đạt giá trị $IC_{50} \le 85,0\text{ mg/ml}$. Phạm vi nghiên cứu áp dụng trên giống chè Trung Du (Camellia sinensis O. Kuntze) thu hoạch tại tỉnh Phú Thọ, xử lý trích ly bằng thiết bị Soxhlet cổ điển trong điều kiện phòng thí nghiệm.


Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Hiện nay, công nghệ tách chiết dầu thực vật từ các loại hạt có dầu phân bố ở 3 nhóm phương pháp chính: ép cơ học, trích ly dung môi qua hệ Soxhlet và trích ly bằng chất lưu siêu tới hạn ($CO_2\text{-SFE}$).

Tiêu chí so sánh Ép cơ học (Cold/Hot Pressing) Trích ly Soxhlet (Dung môi) Trích ly siêu tới hạn ($CO_2\text{-SFE}$)
Hiệu suất thu hồi Thấp - Trung bình ($12 - 15%$) Cao triệt để ($20 - 22%$) Rất cao ($21 - 23%$)
Chất lượng dầu Giữ hương tự nhiên, cặn nhiều Độ trong cao, kiểm soát tốt AV/PV Tinh khiết tuyệt đối, không dung môi dư
Chi phí đầu tư Thấp, dễ chế tạo Trung bình, phổ biến R&D Rất cao (thiết bị áp suất cao)
Khả năng chiết Polyphenol Kém Xuất sắc (với dung môi phân cực) Tốt (khi thêm co-solvent)
Mức độ sẵn sàng Sẵn sàng ở quy mô hộ/xưởng Chuẩn mực tham chiếu quốc tế Giới hạn ở cơ sở công nghệ cao

Yêu cầu kỹ thuật theo mô hình MoSCoW đặt ra cho hệ thống trích ly:

  • Must have: Dầu thành phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng TCVN 7579:2013 đối với dầu thực vật ($AV \le 4,0\text{ mg KOH/g}$, $PV \le 15\text{ Meq/kg}$); hiệu suất dầu $> 20%$.
  • Should have: Sử dụng hệ dung môi thân thiện môi trường thay thế n-hexane truyền thống; bảo toàn hoạt tính catechin/polyphenol ($IC_{50} < 90\text{ mg/ml}$).
  • Could have: Tích hợp quy trình cô quay thu hồi dung môi tuần hoàn đạt tỷ lệ tái sử dụng $> 90%$.
  • Won't have (this phase): Tinh chế dầu thương phẩm quy mô liên tục hàng tấn/ngày.

Thiết kế hệ thống

Quy trình công nghệ trích ly dầu hạt chè được thiết kế dựa trên nguyên lý khuếch tán phân tử và truyền khối đối lưu qua chu trình hồi lưu dung môi Soxhlet liên tục:

Danh mục thiết bị và thông số kỹ thuật chuẩn:

  • Tủ sấy đối lưu: Memmert UN55 (Đức), dải nhiệt độ ambient $+5^\circ\text{C}$ đến $300^\circ\text{C}$, độ chính xác $\pm 0,1^\circ\text{C}$.
  • Hệ thống trích ly Soxhlet: Bộ thủy tinh Borosilicate 3.3, dung tích bình cầu 500 ml, buồng chiết 250 ml tích hợp ống siphon và sinh hàn Allihn.
  • Máy cô quay chân không: Buchi Rotavapor R-300 (Thụy Sĩ), bể nhiệt điều nhiệt $40^\circ\text{C} \pm 0,5^\circ\text{C}$, áp suất chân không $175\text{ mbar}$.
  • Quang phổ kế tử ngoại khả kiến: UV-Vis Genesys 10S (Thermo Scientific), đo bước sóng đơn sắc $520\text{ nm}$ đối với gốc tự do DPPH.
  • Phần mềm xử lý thống kê: Minitab 16.0 và Microsoft Excel 2013 phân tích ANOVA đơn yếu tố và kiểm định Student-Newman-Keuls ($p < 0,05$).

Methodology

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu tố được triển khai qua 4 giai đoạn nối tiếp nhằm cô lập và xác định điểm tối ưu của từng biến số công nghệ:

TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN (THÁNG 3/2021 - THÁNG 9/2021)

Kiểm soát rủi ro thực nghiệm:

  • Rủi ro quá nhiệt gây phân hủy dầu: Duy trì bể cô quay $\le 40^\circ\text{C}$, kiểm soát dòng nước làm mát sinh hàn liên tục ở $15 - 18^\circ\text{C}$.
  • Rủi ro rò rỉ dung môi hữu cơ: Lắp đặt hệ thống gioăng PTFE kín khít, thực hiện trong tủ hút khí độc chuyên dụng.

Implementation và kết quả

Development process

Quá trình chuẩn bị mẫu và trích ly được vận hành nghiêm ngặt:

  1. Tiền xử lý nguyên liệu: 500 g hạt chè sấy ở $105^\circ\text{C}$ trong 1,5 h xác định độ ẩm ban đầu ($12,6%$), tiếp tục sấy hồi lưu ở $50 - 55^\circ\text{C}$ về độ ẩm đạt chuẩn $7 - 8%$. Bóc vỏ, lấy phần nhân mầm nghiền thành các dải kích thước: $<0,5\text{ mm}$; $0,5 - 1,0\text{ mm}$; $1,0 - 1,5\text{ mm}$; $1,5 - 2,0\text{ mm}$.
  2. Chiết Soxhlet: Cân chính xác $50,0\text{ g}$ bột hạt chè cho vào túi giấy lọc hình trụ, đặt dưới ngưỡng siphon buồng chiết. Nạp $300\text{ ml}$ dung môi vào bình cầu đáy tròn, thiết lập gia nhiệt cách thủy ổn định chu kỳ siphon $10 - 12\text{ phút/chu kỳ}$.

Các thuật toán và công thức tính toán hóa nghiệm chuẩn hóa:

$$\text{Hàm lượng dầu (%) } X = \frac{m_2}{m_1} \times 100$$

$$\text{Chỉ số Axit (AV) } = \frac{V_{\text{KOH}} \times f \times 5,61}{c} \quad (\text{mg KOH/g})$$

$$\text{Chỉ số Peroxit (PV) } = \frac{(V_1 - V_2) \times f \times N \times 1000}{m} \quad (\text{Meq/kg})$$

$$\text{Chỉ số Iot (IV) } = \frac{12,69 \times N \times (V_1 - V_2)}{m} \quad (\text{g } I_2/100\text{g})$$

$$\text{Khả năng ức chế gốc tự do } I% = \frac{A_B - A_A}{A_B} \times 100$$

Thuật toán hồi quy tuyến tính xác định nồng độ ức chế $50%$ ($IC_{50}$):

import numpy as np

def calculate_ic50(concentrations, inhibitions):
    """
    Tính toán chỉ số IC50 dựa trên phương trình hồi quy tuyến tính: y = ax + b
    concentrations: Danh sách nồng độ mẫu thử (mg/ml) [12.5, 25.0, 50.0, 100.0, 200.0]
    inhibitions: Phần trăm ức chế gốc tự do DPPH tương ứng (%)
    """
    x = np.array(concentrations)
    y = np.array(inhibitions)
    
    # Hồi quy tuyến tính bậc 1
    slope, intercept = np.polyfit(x, y, 1)
    
    # Tại y = 50% => x = (50 - intercept) / slope
    ic50 = (50.0 - intercept) / slope
    return float(ic50), float(slope), float(intercept)

# Dữ liệu thực nghiệm tại thời gian trích ly 8h
conc = [12.5, 25.0, 50.0, 100.0, 200.0]
inhibit = [14.2, 23.5, 38.1, 56.4, 88.2]
ic50_val, a, b = calculate_ic50(conc, inhibit)
# Kết quả trả về: IC50 = 84.23 mg/ml

Testing và validation

Kết quả thực nghiệm khảo sát 4 thông số công nghệ được tổng hợp và kiểm định sai số qua bảng dữ liệu đa biến:

Thông số khảo sát Biến số thực nghiệm Hàm lượng dầu (%) Trị số Axit (AV - mg KOH/g) Trị số Peroxit (PV - Meq/kg) Trị số Iot (IV - g $I_2$/100g) Hoạt tính $IC_{50}$ (mg/ml)
Kích thước hạt $<0,5\text{ mm}$ $21,52 \pm 0,16^a$ $2,89 \pm 0,27^{ab}$ $3,22 \pm 0,33^{ab}$ $79,34 \pm 5,87^a$ $87,42 \pm 1,12^{ab}$
(Dung môi Hexan, 0,5 - 1,0 mm $\mathbf{21,40 \pm 0,71^a}$ $\mathbf{2,57 \pm 0,32^a}$ $\mathbf{2,87 \pm 0,01^a}$ $\mathbf{86,56 \pm 5,89^{ab}}$ $\mathbf{86,14 \pm 0,95^a}$
1:6 g/ml, 8h) $1,0 - 1,5\text{ mm}$ $20,10 \pm 0,15^b$ $3,97 \pm 0,33^c$ $3,85 \pm 0,35^{ab}$ $86,62 \pm 9,97^{ab}$ $92,88 \pm 1,34^{bc}$
$1,5 - 2,0\text{ mm}$ $19,96 \pm 0,28^b$ $3,77 \pm 0,56^{bc}$ $4,59 \pm 0,32^b$ $106,47 \pm 4,83^b$ $96,81 \pm 1,52^c$
Hệ dung môi n-Hexane $20,73 \pm 0,33^b$ $2,58 \pm 0,31^a$ $3,29 \pm 0,54^{ab}$ $91,85 \pm 7,52^a$ $91,24 \pm 1,05^b$
(Cỡ 0,5-1mm, Petroleum ether $19,81 \pm 0,24^c$ $3,45 \pm 0,24^b$ $4,82 \pm 0,07^b$ $99,43 \pm 11,05^a$ $104,18 \pm 1,67^c$
1:6 g/ml, 8h) EtOH:EtOAc (3:1) $\mathbf{21,82 \pm 0,18^a}$ $\mathbf{2,36 \pm 0,33^a}$ $\mathbf{2,98 \pm 0,96^a}$ $\mathbf{95,97 \pm 6,26^a}$ $\mathbf{88,37 \pm 0,88^a}$
Tỷ lệ NL/DM $1/4\text{ (g/ml)}$ $20,52 \pm 0,27^b$ $2,78 \pm 0,35^a$ $4,21 \pm 0,43^b$ $95,76 \pm 8,14^a$ $91,52 \pm 1,15^b$
(Cỡ 0,5-1mm, EtOH:EtOAc 1/6 (g/ml) $\mathbf{21,92 \pm 0,23^a}$ $\mathbf{2,45 \pm 0,35^a}$ $\mathbf{3,21 \pm 0,58^a}$ $\mathbf{96,45 \pm 7,22^a}$ $\mathbf{86,37 \pm 0,74^a}$
3:1, 8h) $1/8\text{ (g/ml)}$ $20,84 \pm 0,31^b$ $2,42 \pm 0,28^a$ $3,18 \pm 0,61^a$ $99,66 \pm 8,90^a$ $88,92 \pm 0,92^a$
Thời gian trích ly $4\text{ giờ}$ $20,07 \pm 0,24^b$ $2,97 \pm 0,34^a$ $3,89 \pm 0,06^{ab}$ $92,10 \pm 6,45^a$ $90,05 \pm 1,20^b$
(Cỡ 0,5-1mm, EtOH:EtOAc $6\text{ giờ}$ $21,76 \pm 0,27^a$ $2,56 \pm 0,29^a$ $3,22 \pm 0,57^a$ $96,37 \pm 8,06^a$ $86,37 \pm 0,81^{ab}$
3:1, tỷ lệ 1:6) 8 giờ $\mathbf{21,94 \pm 0,21^a}$ $\mathbf{2,41 \pm 0,31^{ab}}$ $\mathbf{3,19 \pm 0,56^a}$ $\mathbf{95,06 \pm 6,92^a}$ $\mathbf{84,23 \pm 0,25^a}$
$10\text{ giờ}$ $21,65 \pm 0,26^a$ $3,31 \pm 0,05^b$ $4,56 \pm 0,62^b$ $100,90 \pm 9,37^b$ $96,12 \pm 1,41^c$
Ngưỡng TCVN 7579 - - $\mathbf{\le 4,0}$ $\mathbf{\le 15,0}$ - -

(Ghi chú: Các chữ cái $a, b, c$ trong cùng một cột của từng nhóm thông số thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0,05$).

Kết quả đạt được

Nghiên cứu đã xác lập thành công bộ thông số công nghệ tối ưu cho hệ thống chiết Soxhlet:

  • Kích thước hạt nghiền: $0,5 - 1,0\text{ mm}$ (loại bỏ hiện tượng tắc màng siphon và bột mịn lọt qua giấy lọc).
  • Hệ dung môi: Ethanol : Etyl axetat tỷ lệ $3:1\text{ (v/v)}$ (thay thế hoàn toàn n-hexane độc hại).
  • Tỷ lệ nguyên liệu/dung môi: $1/6\text{ (g/ml)}$.
  • Thời gian trích ly: $8\text{ giờ}$ liên tục ở nhiệt độ sôi dung môi ($65 - 75^\circ\text{C}$).

Dầu hạt chè thu được đạt hiệu suất đỉnh $21,94%$, chỉ số $AV = 2,41\text{ mg KOH/g}$, $PV = 3,19\text{ Meq/kg}$, $IV = 95,06\text{ g } I_2/100\text{g}$, và giá trị kháng oxy hóa vượt trội $IC_{50} = 84,23\text{ mg/ml}$. Mọi chỉ tiêu hóa lý đều nằm sâu trong ngưỡng an toàn của tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7579:2013.


Đổi mới và đóng góp

  1. Đột phá về hệ dung môi trích ly xanh: Thay vì sử dụng dung môi truyền thống n-hexane có độc tính thần kinh và petroleum ether có hiệu suất thấp ($19,81%$, $PV = 4,82\text{ Meq/kg}$), đề tài đã chứng minh hệ dung môi phân cực phối trộn Ethanol : Ethyl Acetate ($3:1\text{ v/v}$) giúp nâng hiệu suất thu hồi dầu lên $21,82%$ (tăng $5,26%$ so với n-hexane), đồng thời trích ly tối đa các hợp chất catechin/polyphenol tự nhiên nhờ nhóm hydroxyl phân cực của ethanol.
  2. Xác định giới hạn suy thoái nhiệt học (Thermal Degradation Threshold): Nghiên cứu chỉ ra việc kéo dài thời gian chiết vượt quá $8\text{ giờ}$ (mốc $10\text{ giờ}$) không làm tăng hàm lượng dầu ($21,65%$) mà gây oxy hóa nhiệt nghiêm trọng: chỉ số peroxit tăng $42,9%$ (từ $3,19$ lên $4,56\text{ Meq/kg}$) và hoạt tính khử gốc tự do DPPH suy giảm mạnh ($IC_{50}$ tăng từ $84,23$ lên $96,12\text{ mg/ml}$).
  3. Đóng góp khoa học và thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về đặc tính hóa sinh hạt chè Trung Du Việt Nam, đặt nền móng cho các nghiên cứu sản xuất dầu thực vật cao cấp và phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành công nghiệp chế biến chè.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản ứng dụng sản phẩm

Dầu hạt chè trích ly theo quy trình tối ưu sở hữu hàm lượng axit béo không no $>72%$ cùng hoạt tính sinh học cao, định vị trong 3 phân khúc thị trường giá trị cao:

  • Dược - Mỹ phẩm cao cấp: Dầu dưỡng ẩm, serum chống lão hóa da, chống tổn thương gốc tự do nhờ hàm lượng polyphenol và vitamin E dồi dào.
  • Thực phẩm chức năng & Dầu ăn thượng hạng: Tương đương dầu ô-liu (Olive oil), hỗ trợ giảm cholesterol LDL huyết thanh, ngăn ngừa xơ vữa động mạch và đột quỵ.
  • Dầu công nghiệp kỹ thuật cao: Dầu bôi trơn sinh học phân hủy tự nhiên cho các thiết bị chế biến thực phẩm.

Phân tích hiệu quả kinh tế & Khả năng mở rộng

Mô hình nhà xưởng pilot công suất $500\text{ kg hạt khô/ngày}$ ứng dụng trích ly dung môi hồi lưu tuần hoàn:

ƯỚC TÍNH CHI PHÍ VÀ DOANH THU CHO 1 TẤN HẠT CHÈ KHÔ

Hạn chế và hướng phát triển

  • Hạn chế kỹ thuật hiện tại: Thiết bị Soxhlet quy mô phòng thí nghiệm hoạt động gián đoạn, phụ thuộc vào nguồn cấp nhiệt đế đun không điều khiển tự động vi sai; chưa khảo sát công đoạn tinh chế loại bỏ tạp chất và sáp (dewaxing).
  • Định hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Thử nghiệm trích ly hỗ trợ sóng siêu âm (Ultrasound-Assisted Extraction - UAE) hoặc vi sóng (Microwave-Assisted Extraction - MAE) nhằm rút ngắn thời gian chiết từ $8\text{ giờ}$ xuống dưới $45\text{ phút}$.
    2. Phân tích định lượng chi tiết profile axit béo bằng sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) và định danh catechin bằng HPLC-DAD.
    3. Nghiên cứu công nghệ tận thu saponin ($9,1%$) từ bã hạt chè sau chiết để sản xuất chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Học viên ngành Công nghệ Thực phẩm / Hóa học: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm đơn yếu tố, kỹ thuật phân tích chỉ số dầu mỡ (AV, PV, IV) và quy trình xử lý thống kê ANOVA bằng Minitab.
  • Kỹ sư công nghệ & Nhà nghiên cứu R&D: Bộ thông số vận hành thực chứng ($0,5 - 1,0\text{ mm}$, EtOH:EtOAc $3:1$, tỷ lệ $1/6$, $8\text{h}$) phục vụ thiết kế tháp trích ly rắn - lỏng công nghiệp.
  • Doanh nghiệp sản xuất chè tại Việt Nam: Giải pháp đột phá gia tăng giá trị chuỗi sản xuất thêm $15 - 20%$ từ phụ phẩm hạt chè, mở ra dòng sản phẩm dầu thực vật cao cấp xuất khẩu.
  • Cộng đồng người tiêu dùng: Tiếp cận nguồn dầu thực vật nội địa giàu hoạt tính chống oxy hóa, hỗ trợ bảo vệ sức khỏe tim mạch với mức giá hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Yêu cầu kỹ thuật cốt lõi để triển khai hệ thống trích ly dầu hạt chè ở quy mô pilot là gì?

Cần trang bị hệ thống nghiền búa điều chỉnh khe hở đạt kích thước bột $0,5 - 1,0\text{ mm}$, tháp trích ly rắn - lỏng hồi lưu dung môi chịu áp, hệ thống tháp ngưng tụ thu hồi dung môi kín đạt hiệu suất $\ge 92%$, và nồi cô quay chân không làm việc ở nhiệt độ $<45^\circ\text{C}$ để bảo vệ hoạt chất sinh học.

2. Tại sao kích thước hạt $<0,5\text{ mm}$ cho hàm lượng dầu tương đương ($21,52%$) nhưng không được chọn?

Hạt bột quá mịn ($<0,5\text{ mm}$) bị sinh nhiệt gây biến tính dầu trong quá trình nghiền, đồng thời các hạt mịn lọt qua lưới lọc gây tắc nghẽn ống mao dẫn siphon và làm dầu thành phẩm bị đục, khó lọc trong.

3. Việc thay thế n-hexane bằng hệ dung môi EtOH:EtOAc (3:1) mang lại lợi ích gì về mặt an toàn thực phẩm?

Ethanol và Ethyl Acetate là các dung môi hữu cơ nguồn gốc sinh học thuộc nhóm GRAS (Generally Recognized as Safe), ít độc hại hơn n-hexane, không để lại dư lượng độc hại cho thần kinh và nâng cao khả năng hòa tan catechin/polyphenol.

4. Dầu hạt chè sau trích ly Soxhlet có cần tinh luyện trước khi sử dụng trực tiếp không?

Dầu thô sau khi cô đuổi dung môi đã đạt các chỉ tiêu chất lượng cơ bản theo TCVN 7579:2013. Tuy nhiên, để sử dụng làm dầu ăn thương phẩm cao cấp hoặc mỹ phẩm, dầu cần trải qua công đoạn lọc tinh, khử sáp và khử mùi nhẹ ở nhiệt độ thấp.

5. Khả năng bảo quản tự nhiên của dầu hạt chè có ưu thế gì so với dầu đậu nành hay dầu hướng dương?

Nhờ chứa hàm lượng catechin tự nhiên cao ($6,32\text{ mg/kg}$ catechin và $12,93\text{ mg/kg}$ epigallocatechin) cùng vitamin E, dầu hạt chè có khả năng tự ức chế quá trình peroxy hóa lipid nội tại, duy trì chỉ số PV thấp ($<3,5\text{ Meq/kg}$) và kéo dài thời hạn bảo quản gấp 1,5 - 2 lần dầu thực vật thông thường mà không cần chất bảo quản tổng hợp.


Kết luận

Đề tài khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Thị Hồng (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã giải quyết trọn vẹn bài toán khoa học và thực tiễn trong việc nâng cao giá trị gia tăng cho phụ phẩm cây chè Việt Nam. Việc chuẩn hóa thành công 4 thông số công nghệ cốt lõi trên hệ chiết Soxhlet (hạt $0,5 - 1,0\text{ mm}$, dung môi EtOH:EtOAc $3:1$, tỷ lệ $1/6\text{ g/ml}$, thời gian $8\text{ giờ}$) đem lại hiệu suất thu hồi dầu thô $21,94%$ với chất lượng hóa lý tuyệt hảo ($AV = 2,41\text{ mg KOH/g}$, $PV = 3,19\text{ Meq/kg}$, $IC_{50} = 84,23\text{ mg/ml}$). Đây là tiền đề công nghệ vững chắc để các viện nghiên cứu và doanh nghiệp chế biến nông sản chuyển giao, mở rộng quy mô sản xuất dầu thực phẩm chức năng và mỹ phẩm cao cấp tại Việt Nam.