Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đang thực hiện quá trình chuyển đổi căn bản từ nền giáo dục tiếp cận nội dung (truyền thụ kiến thức một chiều) sang nền giáo dục tiếp cận năng lực, lấy người học làm trung tâm. Trong bối cảnh đổi mới này, học thông qua trải nghiệm được xác định là phương pháp giáo dục tích cực, thúc đẩy tính chủ động, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong các trường phổ thông hiện nay phần lớn vẫn mang tính hình thức, bị đồng nhất đơn thuần với các chuyến tham quan ngoại khóa ngoài nhà trường mà chưa được tích hợp thực chất vào từng phân môn cụ thể.

Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, đặc biệt là giai đoạn lớp 1, giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Âm vần là nội dung khởi đầu, trang bị cho học sinh công cụ chữ viết ghi âm để phục vụ học tập và giao tiếp. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và thực trạng dạy học phân môn Âm vần tại các trường tiểu học, đề tài "Nghiên cứu xây dựng hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 1 trong dạy học vần" được tác giả Trần Mỹ Anh thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là bổ sung cơ sở lý luận về phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học thông qua việc hệ thống hóa tri thức về hoạt động trải nghiệm; đề xuất các yêu cầu, quy trình và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần cho học sinh lớp 1 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển phẩm chất và năng lực người học.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Xác định cơ sở lí luận của việc thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần cho học sinh tiểu học.
  2. Xác định cơ sở thực tiễn của việc thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần thông qua khảo sát chương trình sách giáo khoa mới và thực trạng dạy học tại trường tiểu học.
  3. Đề xuất một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường tiểu học nhằm rút ra nhận xét, kết luận về tính khả thi của đề tài.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần cho học sinh tiểu học. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào phân môn Âm vần trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 thuộc bộ sách Cánh Diều (áp dụng trong năm học 2020 - 2021) và khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc tiếp cận các quan điểm lý thuyết giáo dục hiện đại và truyền thống:

  • Lý thuyết học tập qua trải nghiệm: Khóa luận kế thừa mô hình lý thuyết của David A. Kolb (2015), quan điểm giáo dục của Bùi Ngọc Diệp, Đỗ Tiến Đạt, Võ Trung Minh, Nguyễn Quốc Vương, cùng các công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Nguyễn Thị Liên và cộng sự.
  • Hệ thống nguyên tắc dạy học Âm vần: Dựa trên đặc thù bộ môn Tiếng Việt, tác giả xác định 4 nguyên tắc cơ bản gồm: Nguyên tắc phát triển lời nói (đặt đơn vị ngôn ngữ vào hoạt động hành chức), Nguyên tắc phát triển tư duy (rèn luyện thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh), Nguyên tắc tính đến đặc điểm tâm sinh lý và trình độ ngôn ngữ của học sinh lớp 1, và Nguyên tắc trực quan (sử dụng mô hình, vật thật, bộ chữ thực hành, tranh ảnh).
  • Phương pháp dạy học Âm vần chuyên biệt: Gồm phương pháp phân tích ngôn ngữ (tách - ghép ngữ âm theo cấp độ từ - tiếng - vần/âm), phương pháp giao tiếp (sử dụng câu hỏi, bài tập tình huống, trò chơi ngôn ngữ) và phương pháp luyện tập theo mẫu.
  • Các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm: Phương pháp giải quyết vấn đề (3 bước), phương pháp sắm vai, phương pháp làm việc nhóm (3 giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện, đánh giá) và phương pháp dạy học dự án (5 bước).

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, thống kê, phân loại, phân tích và tổng hợp các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tài liệu giáo trình, luận văn, bài báo khoa học về hoạt động trải nghiệm và phương pháp dạy học Tiếng Việt.
  • Phương pháp khảo sát, điều tra: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến đối với 10 giáo viên khối 1 và 30 học sinh lớp 1 tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân nhằm thu thập dữ liệu định lượng về việc sử dụng sách giáo khoa và nhu cầu áp dụng hoạt động trải nghiệm trong phân môn Âm vần.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu cấu trúc, dung lượng, ngữ liệu, cách phân bổ bài học giữa sách giáo khoa Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều với sách giáo khoa Tiếng Việt 1 năm 2002 và bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án tích hợp hoạt động trải nghiệm và tiến hành dạy thực nghiệm tại 2 lớp 1 thuộc Trường Tiểu học Nghĩa Tân nhằm đánh giá hiệu quả sư phạm.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bắt nguồn từ các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình sách giáo khoa mới (Cánh Diều, Kết nối tri thức với cuộc sống), giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học và kết quả điều tra thực tế tại địa bàn nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1 trình bày hệ thống lý luận về phân môn Âm vần, hoạt động trải nghiệm, đặc điểm học sinh lớp 1, cùng kết quả khảo sát chương trình sách giáo khoa và thực trạng dạy học tại cơ sở giáo dục tiểu học.

Về lý luận dạy học Âm vần, tác giả làm rõ vị trí nền tảng của môn học trong việc giúp học sinh nắm vững hệ thống chữ viết ghi âm tiếng Việt. Chương 1 phân tích chi tiết 4 nguyên tắc dạy học cốt lõi (phát triển lời nói, phát triển tư duy, tính đến đặc điểm đối tượng, trực quan) cùng 3 phương pháp dạy học đặc thù (phân tích ngôn ngữ, giao tiếp, luyện tập theo mẫu). Về hoạt động trải nghiệm, tác giả phân tích khái niệm HĐTNST theo dự thảo Đề án đổi mới chương trình của Bộ GD&ĐT, xác định bản chất đây là hoạt động giáo dục có tổ chức, trong đó học sinh là chủ thể trực tiếp tham gia vào các khâu từ thiết kế, chuẩn bị, thực hiện đến đánh giá, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực thực tiễn và kỹ năng sống.

Về tâm sinh lý học sinh lớp 1 (6-7 tuổi):

  • Hoạt động chủ đạo chuyển từ vui chơi (giai đoạn mẫu giáo) sang học tập, khối lượng não bộ đạt 90% người lớn.
  • Tri giác mang nặng tính cảm xúc; chú ý không chủ định chiếm ưu thế, thời gian tập trung liên tục chỉ kéo dài khoảng 30 - 35 phút.
  • Trí nhớ trực quan - hình tượng chiếm ưu thế so với trí nhớ từ ngữ - logic; tư duy mang tính cụ thể dựa trên đối tượng trực quan.
  • Ý thức về cấu trúc không gian (trái, phải, trên, dưới) đã hình thành nhưng chưa đầy đủ, dễ nhầm lẫn chiều hướng các nét chữ.

Về khảo sát chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1 mới, khóa luận tổng hợp sự khác biệt giữa hai bộ sách được sử dụng tại các trường thực tập (Trường Song ngữ liên cấp Greenfield và Trường Tiểu học Nghĩa Tân):

Tiêu chí so sánh Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống Bộ sách Cánh Diều
Cấu trúc thời lượng Tập 1: 18 tuần (12 tiết/tuần), 80 bài trong 16 tuần chính; Tập 2: 17 tuần (12 tiết/tuần). Cả năm: 2 tiết/bài, 4 bài/tuần; kèm 2 tiết tập viết riêng mỗi tuần.
Phân bổ bài học vần Thiết kế nhiều bài chứa 3 vần hoặc 4 vần đơn giản; 24 vần ít thông dụng và khó được học ở Tập 2 lồng trong văn bản đọc. Mỗi bài thông thường chỉ dạy 2 chữ cái hoặc 2 vần (hoặc 1 chữ/1 vần/1 dấu thanh). Học kỳ I: 93 bài; Học kỳ II: Bài 94 đến 137.
Quy trình bài học Chia theo các hoạt động cơ bản, thực hành, ứng dụng theo tuần. Quy trình 6 bước: (1) Làm quen từ khóa; (2) Đánh vần; (3) Mở rộng vốn từ và củng cố; (4) Làm quen chữ ghi âm vần; (5) Tập đọc; (6) Tập viết.
Đặc điểm nổi bật Chữ cái trong vần đã học từ phần âm chữ; giảm áp lực học vần riêng lẻ. Trình bày hơn 1800 tranh ảnh; có mô hình đánh vần; bổ sung kiểu bài "Tự đọc sách báo" và "Góc sáng tạo"; có video hoạt hình kể chuyện trên SGK điện tử.

Về thực trạng khảo sát tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân (mẫu gồm 10 giáo viên khối 1 và 30 học sinh lớp 1):

Nội dung điều tra Đối tượng Kết quả thống kê từ văn bản
Đánh giá SGK Tiếng Việt 1 Cánh Diều Giáo viên (n=10) 70% đánh giá nội dung hấp dẫn, phù hợp, gây hứng thú cho học sinh.
30% đánh giá tiến trình bài học đôi khi quá nhanh, một số ngữ liệu chưa phù hợp.
Đánh giá hình thức SGK Cánh Diều Học sinh (n=30) 100% học sinh thích hình thức, tranh ảnh đẹp mắt, màu sắc sinh động.
Nhận thức về hoạt động trải nghiệm Giáo viên (n=10) 99% giáo viên biết đến việc áp dụng hoạt động trải nghiệm trong giảng dạy; đa phần ít áp dụng do tốn nhiều thời gian, công sức và kinh phí.
Nhu cầu học tập qua trải nghiệm Học sinh (n=30) 100% học sinh yêu thích và có nhu cầu tham gia học Âm vần qua trải nghiệm (dù đa số chưa từng tham gia tiết học trải nghiệm chính thức).

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH LỚP 1 TRONG DẠY HỌC ÂM VẦN

Chương 2 trình bày các yêu cầu mang tính nguyên tắc, đề xuất quy trình 4 bước và thiết kế các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm chuyên biệt cho phân môn Âm vần lớp 1.

Tác giả xác lập 3 yêu cầu cốt lõi khi tổ chức hoạt động trải nghiệm:

  1. Đảm bảo khung logic của các hoạt động trong một chủ đề: Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu nhận thức, mục tiêu hình thành kỹ năng; phân bổ hợp lý giữa hoạt động khai thác kinh nghiệm cũ, hoạt động trải nghiệm mới và hoạt động sáng tạo; sắp xếp tiến trình logic và xây dựng công cụ đánh giá phù hợp.
  2. Đảm bảo sự trải nghiệm của học sinh: Tạo điều kiện để học sinh trực tiếp tham gia tự giác vào các tình huống thực tiễn; kết hợp hai yếu tố không thể tách rời là hành động và xúc cảm; tăng cường tương tác trực tiếp giữa học sinh với bạn học, giáo viên, thiết bị và môi trường.
  3. Đảm bảo môi trường để học sinh sáng tạo: Môi trường học tập cần đa dạng, có thách thức vừa sức; bầu không khí tâm lý cởi mở, tự do tư tưởng, khuyến khích phản biện và tôn trọng phong cách thể hiện ý tưởng khác biệt của từng học sinh.

Dựa trên lý thuyết học tập trải nghiệm của David A. Kolb (2015), tác giả đề xuất Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần gồm 4 bước:

  • Bước 1: Giới thiệu hoạt động trải nghiệm: Giáo viên giới thiệu tên hoạt động, mục tiêu, nội dung, hình thức thông qua hệ thống tranh ảnh, mô hình trực quan sinh động phù hợp với tư duy biểu tượng của học sinh lớp 1.
  • Bước 2: Chuyển giao nhiệm vụ trải nghiệm cho học sinh: Giáo viên truyền đạt ngắn gọn, rõ ràng về nhiệm vụ của từng cá nhân/nhóm, thời gian, thứ tự thực hiện, tiêu chí đánh giá; tiếp nhận phản hồi và giải đáp thắc mắc của học sinh.
  • Bước 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm: Tiến hành qua 4 giai đoạn logic:
    • Trải nghiệm cụ thể: Học sinh tham gia trò chơi, trả lời câu hỏi động não hoặc tham quan dã ngoại để huy động kinh nghiệm đã có.
    • Quan sát, đối chiếu, phản hồi: Học sinh suy nghĩ, hình thành nhận định; giáo viên gợi mở, hỗ trợ học sinh xử lý kết quả quan sát.
    • Hình thành tri thức mới: Đại diện nhóm/cá nhân trình bày kết quả; giáo viên hướng dẫn học sinh đúc kết kiến thức âm/vần/tiếng mới.
    • Vận dụng tri thức mới: Học sinh sử dụng tri thức vừa lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ gắn với thực tiễn nhằm khắc sâu bài học.
  • Bước 4: Đánh giá hoạt động trải nghiệm: Giáo viên tổng kết toàn bộ quá trình, đánh giá mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực; chú trọng giải tỏa cảm xúc tiêu cực và khơi gợi cảm xúc tích cực (vui vẻ, tự hào, ngạc nhiên), biến hành động thành nhu cầu tự giác.

Về hình thức tổ chức, chương 2 cụ thể hóa 4 hình thức sư phạm:

  • Hình thức đóng vai: Học sinh giải quyết tình huống gắn liền với thực tế bằng diễn xuất ngẫu hứng (không dùng kịch bản dựng sẵn). Tác giả minh họa qua giáo án bài 65 dạy vần iên - iêt (SGK Tiếng Việt 1 Cánh Diều, trang 118-119): giáo viên tạo tình huống 2 bạn nhỏ mâu thuẫn trong giờ học, học sinh tự thảo luận và sắm vai diễn xuất, vận dụng lời nói tự nhiên kết hợp từ ngữ chứa vần mới để xử lý tình huống.
  • Hình thức sân khấu hóa.
  • Hình thức sử dụng tình huống giao tiếp giả định.
  • Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm ngoài không gian lớp học.

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Chương 3 triển khai việc kiểm chứng thực tế các đề xuất sư phạm:

  • Địa điểm và đối tượng: Tiến hành tại 2 lớp khối 1 của Trường Tiểu học Nghĩa Tân (Cầu Giấy, Hà Nội).
  • Mục tiêu thực nghiệm: Kiểm tra tính khả thi, đánh giá mức độ tiếp thu và hiệu quả phát triển năng lực ngôn ngữ, sự hứng thú của học sinh lớp 1 khi học phân môn Âm vần theo quy trình và hình thức hoạt động trải nghiệm đã xây dựng ở Chương 2.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu thực tế:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng dạy học sách giáo khoa mới với các số liệu thực chứng tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân: 70% giáo viên đánh giá sách Cánh Diều hấp dẫn nhưng 30% lo ngại về tiến trình nhanh; 100% học sinh yêu thích tranh ảnh của sách mới; 99% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của HĐTN nhưng gặp rào cản về thời gian, công sức và chi phí tổ chức; 100% học sinh hứng thú với việc học qua trải nghiệm.
  • Khảo sát hệ thống 137 bài học Âm vần trong SGK Tiếng Việt 1 Cánh Diều (gồm 93 bài ở học kỳ I và các bài từ 94 đến 137 ở học kỳ II) cùng hơn 1800 tranh ảnh minh họa.
  • Xây dựng hoàn chỉnh mô hình quy trình 4 bước tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần lớp 1 dựa trên việc biến chuyển chu trình học tập của David A. Kolb vào dạy học ngữ âm tiểu học.
  • Đề xuất 4 hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong phân môn Âm vần kèm theo ví dụ thiết kế tình huống sư phạm cụ thể (bài 65 vần iên - iêt).

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc khắc phục tính hình thức của hoạt động trải nghiệm hiện nay, chứng minh hoạt động trải nghiệm hoàn toàn có thể tích hợp trực tiếp vào các tiết học nội khóa phân môn Âm vần chứ không chỉ giới hạn trong các hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số điểm hạn chế do điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát và thực nghiệm mới chỉ dừng lại ở quy mô 2 lớp khối 1 của một trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội (Trường Tiểu học Nghĩa Tân), chưa mở rộng khảo sát ở các trường tiểu học ngoại thành hoặc các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
  • Ngữ liệu nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phần Âm vần của bộ sách Cánh Diều trong năm học đầu tiên triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018 (năm 2020), do đó các vấn đề phát sinh từ ngữ liệu chưa được theo dõi qua chu kỳ nhiều năm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường tiểu học với các điều kiện cơ sở vật chất đa dạng, đồng thời nghiên cứu tích hợp hoạt động trải nghiệm cho các phân môn khác của môn Tiếng Việt (Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn) và cho các bộ sách giáo khoa khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo cơ sở lý luận về dạy học Âm vần, đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 1 và phương pháp thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Tiếng Việt.
  • Giáo viên tiểu học đang giảng dạy lớp 1 (đặc biệt các trường sử dụng bộ sách Cánh Diều): Vận dụng trực tiếp quy trình 4 bước và các hình thức tổ chức như đóng vai, giải quyết tình huống giao tiếp để thiết kế giáo án bài dạy Âm vần sinh động, giảm tính thụ động truyền giảng một chiều.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tiểu học: Tham khảo dữ liệu khảo sát thực trạng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên khối 1.

Các nội dung có giá trị ứng dụng cao nhất bao gồm: Bảng so sánh đặc điểm chương trình sách giáo khoa ở Chương 1, Quy trình 4 bước dạy học Âm vần qua trải nghiệm và hướng dẫn tổ chức hình thức đóng vai có ví dụ minh họa ở Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần gồm mấy bước và dựa trên cơ sở lý thuyết nào? Tác giả đề xuất quy trình gồm 4 bước: (1) Giới thiệu hoạt động trải nghiệm; (2) Chuyển giao nhiệm vụ trải nghiệm; (3) Tổ chức hoạt động trải nghiệm (gồm 4 giai đoạn: Trải nghiệm cụ thể -> Quan sát, đối chiếu, phản hồi -> Hình thành tri thức mới -> Vận dụng tri thức mới); (4) Đánh giá hoạt động trải nghiệm. Quy trình này được xây dựng dựa trên lý thuyết học tập trải nghiệm của David A. Kolb (2015).

2. Khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân chỉ ra thực trạng gì về việc áp dụng hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần? Khảo sát (10 giáo viên và 30 học sinh) chỉ ra: 99% giáo viên biết về hoạt động trải nghiệm nhưng số lượng giáo viên áp dụng thực tế rất ít do gặp khó khăn về thời gian, công sức và chi phí thiết kế; 100% học sinh hào hứng và yêu thích việc học Âm vần qua trải nghiệm dù đa phần chưa từng được tham gia tiết học trải nghiệm chính thức trên lớp.

3. Phân phối chương trình phân môn Âm vần trong SGK Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều có đặc điểm cấu trúc như thế nào theo khảo sát của tác giả? Thời lượng dạy Âm vần là 2 tiết/bài, 4 bài/tuần; mỗi tuần có thêm 2 tiết tập viết riêng. Học kỳ I gồm 93 bài (từ bài 1: a, c đến bài 93: Ôn tập). Học kỳ II gồm bài 94 (anh, ach) đến bài 137 (Vần ít gặp), xen kẽ các bài kể chuyện, bài tự đọc sách báo và góc sáng tạo.

4. Tác giả sử dụng ví dụ bài học nào trong SGK Cánh Diều để minh họa cho hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm đóng vai? Tác giả sử dụng Bài 65: iên - iêt (SGK Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều, trang 118-119) để thiết kế tình huống đóng vai, trong đó học sinh đóng vai hai bạn nhỏ giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong giờ học bằng việc sử dụng lời nói tự nhiên và từ ngữ mang vần vừa học.

5. Vì sao giáo viên cần chú ý xen kẽ hoạt động vui chơi trong giờ dạy Âm vần cho học sinh lớp 1? Theo phân tích đặc điểm tâm lý ở Chương 1, học sinh lớp 1 đang trong giai đoạn chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập, khả năng chú ý không chủ định chiếm ưu thế và thời gian tập trung liên tục chỉ kéo dài khoảng 30 - 35 phút; việc xen kẽ hoạt động trải nghiệm, vui chơi giúp giảm căng thẳng, tránh mệt mỏi và duy trì hứng thú học tập cho trẻ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mỹ Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về dạy học Âm vần và hoạt động trải nghiệm, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng triển khai sách giáo khoa mới tại cơ sở giáo dục tiểu học. Đề tài đóng góp thiết thực qua việc xây dựng quy trình 4 bước và các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm khả thi, giúp giáo viên tích hợp việc học qua trải nghiệm vào từng tiết dạy Âm vần lớp 1. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị về mặt phương pháp dạy học cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và giáo viên đang trực tiếp giảng dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1 mới.