Hội Chứng Sợ Bị Người Khác Lãng Quên (FOMO) Của Sinh Viên Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu hội chứng sợ bị người khác lãng quên fomo của sinh viên một số trường đại học tại thành phố hồ chí, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

149
25
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI CHỨNG SỢ BỊ NGƯỜI KHÁC LÃNG QUÊN (FOMO) CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP.

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO)

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

1.4. Lý luận về hội chứng sợ bị người khác lãng quên

1.4.1. Lý luận về sợ

1.4.2. Lý luận về cảm xúc

1.4.3. Phân biệt “sợ”, “lo lắng” và “lo âu”

1.4.4. Lý luận về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO)

1.5. Đặc điểm sinh lý, tâm lý - xã hội lứa tuổi sinh viên

1.6. Biểu hiện hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI CHỨNG SỢ BỊ NGƯỜI KHÁC LÃNG QUÊN (FOMO) CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP.

2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên một số Trường ĐH tại TP.HCM hiện nay

2.2. Các phương pháp nghiên cứu đề tài

2.3. Vài nét về khách thể nghiên cứu

2.3.1. Vài nét về khách thể chưa qua sàng lọc

2.3.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu đã qua sàng lọc

2.4. Kết quả nghiên cứu về thực trạng hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên một số Trường Đại học tại TP.

2.4.1. Mức độ chung về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên một số Trường Đại học tại TP.

2.4.2. Nhận thức về khái niệm hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên một số Trường Đại học tại TP.

2.4.3. Biểu hiện về mặt sinh lý của sinh viên khi bị người khác lãng quên

2.4.4. Biểu hiện về mặt nhận thức của sinh viên về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO)

2.4.5. Biểu hiện về mặt thái độ, tình cảm của sinh viên về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO)

2.4.6. Biểu hiện về mặt hành vi của sinh viên về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO)

2.4.7. Biểu hiện của hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) ở sinh viên thông qua các tình huống cụ thể

2.4.8. Nhận thức của sinh viên về những đặc điểm ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi khi bị người khác lãng quên

2.4.9. Mức độ hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) trên các phương diện

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 3: MÔ HÌNH LÝ THUYẾT GIẢ THUYẾT

PHỤ LỤC 4: FEAR OF MISSING OUT SCALE: FOMOS

PHỤ LỤC 5: MỘT SỐ BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ SPSS

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng sợ bị người khác lãng quên FOMO của sinh viên

Hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong đời sống sinh viên tại các trường đại học ở TP.HCM. FOMO không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý mà còn tác động đến hành vi và sự phát triển cá nhân của sinh viên. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về FOMO, từ nguyên nhân đến biểu hiện của nó trong đời sống hàng ngày.

1.1. Định nghĩa và nguồn gốc của hội chứng FOMO

FOMO được định nghĩa là nỗi sợ bị bỏ lỡ những trải nghiệm xã hội mà người khác đang có. Nguồn gốc của hội chứng này có thể bắt nguồn từ sự phát triển của mạng xã hội, nơi mà mọi người thường xuyên chia sẻ những khoảnh khắc đáng nhớ.

1.2. Tình trạng FOMO trong giới sinh viên hiện nay

Tình trạng FOMO trong giới sinh viên hiện nay đang gia tăng, với nhiều sinh viên cảm thấy áp lực phải tham gia vào mọi hoạt động xã hội để không bị lãng quên. Điều này dẫn đến sự lo lắng và căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày.

II. Vấn đề và thách thức liên quan đến hội chứng FOMO

Hội chứng FOMO gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho sinh viên, từ sức khỏe tâm lý đến hiệu suất học tập. Việc không thể kiểm soát cảm giác này có thể dẫn đến tình trạng stress, lo âu và trầm cảm. Nghiên cứu sẽ chỉ ra những thách thức mà sinh viên phải đối mặt khi sống trong môi trường đầy áp lực này.

2.1. Ảnh hưởng của FOMO đến sức khỏe tâm lý

FOMO có thể dẫn đến tình trạng lo âu và trầm cảm, khi sinh viên cảm thấy không đủ tốt hoặc không được chấp nhận trong các mối quan hệ xã hội.

2.2. Tác động của FOMO đến hiệu suất học tập

Nỗi sợ bị bỏ lỡ có thể khiến sinh viên mất tập trung vào việc học, dẫn đến kết quả học tập không như mong đợi. Họ thường xuyên bị phân tâm bởi các hoạt động trên mạng xã hội.

III. Phương pháp nghiên cứu hội chứng FOMO trong sinh viên

Để hiểu rõ hơn về hội chứng FOMO, nghiên cứu này sẽ áp dụng các phương pháp khảo sát và phỏng vấn để thu thập dữ liệu từ sinh viên. Các phương pháp này sẽ giúp xác định mức độ ảnh hưởng của FOMO đến cuộc sống của sinh viên.

3.1. Phương pháp khảo sát

Khảo sát sẽ được thực hiện thông qua bảng hỏi, nhằm thu thập thông tin về mức độ FOMO và các yếu tố liên quan đến nó trong đời sống sinh viên.

3.2. Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện với một số sinh viên để hiểu rõ hơn về cảm nhận và trải nghiệm của họ liên quan đến FOMO.

IV. Kết quả nghiên cứu về hội chứng FOMO trong sinh viên

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mức độ ảnh hưởng của FOMO đến sinh viên tại TP.HCM. Những dữ liệu thu thập được sẽ giúp xác định các yếu tố chính dẫn đến hội chứng này và cách thức sinh viên đối phó với nó.

4.1. Mức độ FOMO trong sinh viên

Kết quả khảo sát cho thấy một tỷ lệ lớn sinh viên cảm thấy lo lắng về việc bị bỏ lỡ các sự kiện xã hội, điều này cho thấy mức độ FOMO đang ở mức cao.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến FOMO

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như sự tương tác trên mạng xã hội, áp lực từ bạn bè và sự thiếu tự tin là những nguyên nhân chính dẫn đến FOMO trong sinh viên.

V. Giải pháp hạn chế hội chứng FOMO cho sinh viên

Để giảm thiểu tác động của FOMO, cần có những giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc quản lý cảm xúc và hành vi của mình. Các giải pháp này có thể bao gồm việc giáo dục về sức khỏe tâm lý và phát triển kỹ năng sống.

5.1. Giáo dục về sức khỏe tâm lý

Cần tổ chức các buổi hội thảo và chương trình giáo dục về sức khỏe tâm lý để giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về FOMO và cách quản lý nó.

5.2. Phát triển kỹ năng sống

Giúp sinh viên phát triển các kỹ năng sống như quản lý thời gian và kỹ năng giao tiếp có thể giúp họ giảm bớt cảm giác FOMO và cải thiện chất lượng cuộc sống.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về hội chứng FOMO

Hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) đang trở thành một vấn đề ngày càng nghiêm trọng trong đời sống sinh viên. Việc hiểu rõ về FOMO và tìm ra các giải pháp hiệu quả sẽ giúp sinh viên có một cuộc sống cân bằng hơn. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về tâm lý sinh viên trong thời đại số.

6.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu FOMO

Nghiên cứu FOMO không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tâm lý sinh viên mà còn góp phần vào việc phát triển các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm lý cho sinh viên.

6.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra các trường đại học khác và nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến FOMO trong các nhóm tuổi khác nhau.

12/07/2025
Khóa luận hội chứng sợ bị người khác lãng quên fomo của sinh viên một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI CHỨNG SỢ BỊ NGƯỜI KHÁC LÃNG QUÊN (FOMO) CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) đang là một trong những vấn đề bức thiết không chỉ ở riêng lĩnh vực Tâm lý học nói riêng mà còn là vấn đề nan giải của toàn xã hội nói chung. Các nghiên cứu về hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước, xuất phát từ lĩnh vực kinh tế và bắt đầu nóng trở lại từ những năm đầu thế kỷ XXI, khi các phương tiện truyền thông tin tức xã hội bùng nổ và lan nhanh như ngọn sóng.

Dưới đây là một số công trình tiêu biểu: Trong công trình nghiên cứu về cảm giác không thích hợp của Solomon (1928), tác giả lưu ý rằng cảm giác không thích hợp có thể dẫn đến cảm giác thấp kém hơn. Nghiên cứu sau đó đã hỗ trợ mối liên hệ giữa cảm giác không thích hợp và căng thẳng Khóa luận giáo dục học của Gould, Horn & Spreeman vào năm 1983. Các nghiên cứu chuyên sâu về những cảm giác không thích hợp ở thời điểm này còn hạn chế, tuy nhiên không khó để thấy được rằng khái niệm này có thể góp phần làm rõ hơn cho khái niệm nỗi lo sợ bị lãng quên. Theo tác giả Solomon (1928), khi một cá nhân nghe hoặc đọc về một sự kiện mà họ không được mời hoặc nhìn thấy ai đó sở hữu một sản phẩm mà họ muốn có, thì có thể họ sẽ cảm thấy không thỏa mãn và lần lượt đặt ra nhiều câu hỏi cho bản thân để tự hỏi; ví dụ: Tại sao họ không được mời? Tại sao họ không thể hoặc không mua sản phẩm đó? Và Solomon cũng đặt ra giả thiết rằng điều này là một nỗi sợ và có thể ảnh hưởng bởi lòng tự trọng [35].

Nghiên cứu lý thuyết về sự gắn kết của Baumeister và Laury năm 1995 cho thấy rằng sự sợ hãi của sự loại trừ xã hội và sự sợ hãi của việc bị người khác lãng quên có thể thúc đẩy một người tuân thủ nguyên tắc mà nhóm đặt ra nhằm tránh một hoặc cả hai nỗi sợ trên là sự loại trừ xã hội và việc bị tẩy chay [35]. Tác giả Holmes năm 1997 có bài đăng trong tạp chí Quốc tế về Tâm lý học của Ấn Độ cũng cho rằng việc sử dụng Internet có thể gây ra sự phụ thuộc với các triệu chứng tương tự như nghiện ma tuý. Sự sợ hãi của con người trong việc phải nhớ đến 6 những tin tức từ bạn bè hoặc gia đình trở thành tâm điểm mới và vấn đề thu hút sự chú ý trong lĩnh vực tâm lý. Khi người ta bị ngắt kết nối với những người khác thông qua phương tiện truyền thông xã hội và thế giới bên ngoài, họ sẽ có cảm giác bị căng thẳng, sợ hãi và lo lắng [40].

Tác giả Bianchi và Phillips năm 2005 cũng có bài đăng trong tạp chí Quốc tế về Tâm lý học của Ấn Độ. Nhóm tác giả cho rằng đối với nhiều người, điện thoại di động là một phần không thể tách rời của cuộc sống hàng ngày. Họ sử dụng điện thoại di động cá nhân thường xuyên và có khuynh hướng cảm thấy bị bỏ lỡ một sự kiện nào đó và những người khác sẽ lãng quên mình khi họ không mang theo thiết bị điện thoại bên mình. Việc truy cập các phương tiện truyền thông xã hội một cách nhanh chóng và dễ dàng như hiện nay càng làm cho người dùng thêm tò mò về mọi thứ xung quanh, về cuộc sống của người khác và những thứ mà có thể họ đã bỏ lỡ; điều này càng tăng thêm tỉ lệ gây ra sự phụ thuộc và sợ hãi bị người khác lãng quên [40].

Theo tạp chí Quốc tế về Tâm lý học của Ấn Độ, nhóm tác giả Ellison, Steinfield & Lampe (2007) cho rằng người ta sẽ sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để Khóa luận giáo dục học đáp ứng các nhu cầu cụ thể như xã hội hóa và thu thập thông tin. Đối với cá nhân trải qua hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO), việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội có thể rất thú vị vì nó được coi là một cách kết nối không tốn kém và dễ dàng với người khác. Tuy nhiên, cũng trong tạp chí này, tác giả Dossey (2014) cũng khẳng định, các cá nhân này sẽ ngày càng gia tăng sự cô độc, cô lập và sợ bị lãng quên vì trên thực tế, các phương tiện truyền thông xã hội không thực sự thay thế tiếp xúc mặt đối mặt [40]. Cũng theo nhóm tác giả trong tạp chí này, sợ bị người khác lãng quên sẽ có những biểu hiện khác nhau ở mỗi cá nhân vì tính duy nhất và tính chủ thể của nó.

Tính độc đáo này liên quan đến cá tính của từng cá nhân trong xã hội. Tính cách là duy nhất và nhất quán do đó nó có thể được biểu hiện khác nhau ở những cá nhân khác nhau [40]. Trong nghiên cứu về hành vi nghiện khi sử dụng phương tiện truyền thông xã hội của sinh viên do Kim, Jeong, & Lee, (2010), các tác giả cho rằng, trong bối cảnh xã hội ngày nay, các cá nhân dễ gặp khó khăn hơn nhiều khi phải ngắt kết nối trong vài giờ mà không được viết về những gì mà bạn bè họ đã đăng, đã thích hoặc đã đọc trên các trang mạng xã hội, từ đó nảy sinh cảm giác bồn chồn và tìm mọi cách để 7 được tiếp tục liên lạc với mọi người. Đối với nhiều người nói chung và sinh viên Đại học nói riêng, việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội là một hành vi gây nghiện thường xuyên và có tính gây nghiện.

Các trang web mạng xã hội có thể có nghĩa là một kênh mới để truyền thông, kiến thức, giải trí, và thậm chí kể cả việc thể hiện bản thân [35]. Nghiên cứu “Hội chứng FOMO” của tác giả Wortham đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh doanh & Kinh tế Hoa kỳ (2011). Kết quả nghiên cứu của tác giả cho rằng các nghiên cứu trước đây cho thấy hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) bao gồm khả năng cáu kỉnh, lo lắng, và cảm giác không thích hợp, và những cảm giác này sẽ phát triển theo chiều hướng tồi tệ hơn khi một cá nhân đăng nhập vào các trang mạng xã hội. Tác giả cũng cho thấy rằng hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) đã có mặt từ lâu trong lịch sử của bất kỳ kênh truyền thông nào có thể cho phép các cá nhân có được kiến thức về bạn bè, gia đình hoặc thậm chí cuộc sống của người lạ mà ta không hề quen biết.

Những kênh truyền thông này bao gồm báo, thư, hình ảnh, bản tin kỳ nghỉ hàng năm và email. Việc cải thiện công nghệ cũng như khả Khóa luận giáo dục học năng tiếp cận công nghệ đơn giản đã giúp cho việc tiếp nhận thông tin trở nên dễ dàng hơn và như vậy có thể khiến người dùng bị nghiện hơn bao giờ hết. Thay vì đọc tin tức về các bữa tiệc hoặc các sự kiện mỗi lần và một lần (tức là trong một tờ báo hàng tuần hoặc thậm chí hàng ngày), họ có thể nhận được thông tin điện tử ngay lập tức thông qua công cụ mà họ chọn như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay, v. Nghiên cứu của nhóm các tác giả Wilt, Oehlberg, & Revelle, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh doanh & Kinh tế Hoa Kỳ (2011).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu lo lắng thường phân chia lo lắng thành hai loại dựa trên việc liệu các nhà nghiên cứu có quan tâm đến sự lo lắng kéo dài hay thoáng qua không, đó là: trạng thái lo lắng và lo lắng tiểu bang. Theo nhóm tác giả, sự lo lắng tiểu bang thường được định nghĩa là mức độ lo lắng của một người trong khoảng thời gian tương đối ngắn (giây, phút và giờ). Nhiều tác giả khác đã dựa trên nền tảng định nghĩa này và đề xuất rằng sự lo lắng của tiểu bang có liên quan nhiều nhất đến hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO), vì rất có thể các cá nhân gặp phải nỗi lo sợ này sau khi xem các phương tiện truyền thông xã hội sẽ tạm thời trở nên lo lắng hơn khi không thể tiếp 8 tục hoặc ngưng sử dụng các thiết bị này. Sự loại trừ và tẩy chay xã hội cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong sự sợ hãi bị lãng quên vì chúng tác động đến các yếu tố được đề xuất để làm nền tảng cho hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO), đó là sự lo lắng và lòng tự trọng [35].

Trang JWT Marketing Communications năm 2012 đã định nghĩa hội chứng sợ hãi bị người khác lãng quên (FOMO) là cảm giác không thoải mái và đôi khi tốn kém mà bạn đang bỏ lỡ - rằng bạn bè của bạn đang làm, đang biết hay sở hữu nhiều hơn hoặc tốt hơn bạn. Thực tế là mọi người quan tâm sâu sắc về những gì người khác làm hơn là những gì bản thân làm và chú trọng đến những gì người khác có, người khác đạt được hơn là những gì bản thân đang có [35]. Một nghiên cứu gần đây do JWTIntelligence Communications thực hiện năm 2012 cho thấy gần 70% người lớn chấp nhận cảm giác bị người khác lãng quên [35]. Theo bài đăng của tác giả Miller trong tạp chí (JWTIntelligence Communications năm 2012, trang 2, ông cho rằng phương tiện truyền thông xã hội như nguồn cơ quan trọng dẫn đến hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO).

Khóa luận giáo dục học Bất kỳ cá nhân nào cũng đều có thể xem các cập nhật của người khác về cuộc sống của họ theo thời gian. Các phương tiện truyền thông xã hội và công nghệ cho phép mọi người tiếp cận thường xuyên với những gì họ đang bỏ lỡ so với người khác như việc tham gia một bữa tiệc, một bữa ăn tối, sự nghiệp mới hay cơ hội thăng tiến trong công việc, học hành. Việc liên tục kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội và thường xuyên xem những điều họ đang bỏ lỡ chỉ khiến cho các cá nhân bắt đầu cảm thấy không hài lòng, lo lắng, không đáng tin cậy và bị mọi người lãng quên nhiều hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này khám phá những khía cạnh quan trọng của sự so sánh xã hội trên mạng xã hội tại Việt Nam, nhấn mạnh những hệ quả mà nó mang lại cho người dùng. Một trong những điểm nổi bật là cách mà sự so sánh này ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của người dùng, đặc biệt là giới trẻ. Bằng cách hiểu rõ hơn về những tác động này, độc giả có thể nhận thức tốt hơn về cách mà mạng xã hội định hình cái nhìn của họ về bản thân và người khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Hệ quả của so sánh xã hội: Bằng chứng từ Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về những tác động của sự so sánh xã hội. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ hình ảnh cái tôi của sinh viên qua facebook cá nhân sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà sinh viên thể hiện bản thân trên mạng xã hội. Cuối cùng, nghiên cứu Hội chứng sợ bị người khác lãng quên (FOMO) của sinh viên một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay sẽ cung cấp thêm thông tin về những lo lắng mà sinh viên gặp phải trong môi trường mạng xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của mạng xã hội đến tâm lý và hành vi của người dùng.