Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm theo học chế tín chỉ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm, phân tích nguyên nhân và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

222
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm

Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm theo học chế tín chỉ là một vấn đề nghiên cứu quan trọng. Các thách thức tâm lý này bao gồm sự thiếu tự tin, khó khăn trong việc thể hiện quan điểm cá nhân, và sự thiếu hụt kỹ năng làm việc nhóm. Những khó khăn tâm lý này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả học tập và sự phát triển kỹ năng của sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên sư phạm thường gặp khó khăn trong việc phân công nhiệm vụ và thảo luận nhóm, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong quá trình học tập.

1.1. Nhận thức về khó khăn tâm lý

Nhận thức về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm là yếu tố đầu tiên cần được xem xét. Sinh viên thường không nhận thức đầy đủ về những thách thức tâm lý mà họ đang đối mặt. Điều này dẫn đến việc họ không có chiến lược hiệu quả để vượt qua các khó khăn tâm lý. Nghiên cứu cho thấy, việc nâng cao nhận thức về tâm lý học đườnggiáo dục đại học có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các vấn đề tâm lý trong học tập nhóm.

1.2. Thái độ và hành vi trong học tập nhóm

Thái độhành vi của sinh viên trong học tập nhóm cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh viên thường có thái độ thờ ơ hoặc thiếu tích cực trong việc tham gia nhóm. Điều này ảnh hưởng đến sự hợp tác và hiệu quả của nhóm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhómphương pháp học tập tích cực có thể giúp cải thiện thái độ và hành vi của sinh viên trong học tập nhóm.

II. Học chế tín chỉ và tác động đến tâm lý sinh viên

Học chế tín chỉ đã thay đổi cách thức học tập của sinh viên sư phạm, đòi hỏi họ phải chủ động hơn trong việc học. Tuy nhiên, điều này cũng mang lại nhiều thách thức tâm lý. Sinh viên phải đối mặt với áp lực về thời gian, sự cạnh tranh, và yêu cầu cao từ giáo dục đại học. Nghiên cứu cho thấy, học chế tín chỉ có thể gây ra sự căng thẳng và lo lắng, đặc biệt là khi sinh viên không có kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả.

2.1. Áp lực từ học chế tín chỉ

Áp lực từ học chế tín chỉ là một trong những nguyên nhân chính gây ra khó khăn tâm lý cho sinh viên. Sinh viên phải đối mặt với nhiều môn học cùng lúc, yêu cầu cao về kiến thức và kỹ năng. Điều này dẫn đến sự căng thẳng và lo lắng, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của họ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc hỗ trợ tâm lý và quản lý tâm lý hiệu quả có thể giúp sinh viên vượt qua những áp lực này.

2.2. Sự thích ứng với học chế tín chỉ

Sự thích ứng với học chế tín chỉ là một quá trình không dễ dàng đối với sinh viên sư phạm. Sinh viên cần thời gian để làm quen với cách học mới, đòi hỏi sự chủ động và tự giác cao. Nghiên cứu cho thấy, việc cung cấp các phương pháp học tập hiệu quả và hỗ trợ từ giảng viên có thể giúp sinh viên thích ứng tốt hơn với học chế tín chỉ.

III. Giải pháp khắc phục khó khăn tâm lý trong học tập nhóm

Để khắc phục khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm, cần có những giải pháp toàn diện. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, và hỗ trợ tâm lý cho sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng các phương pháp học tập tích cực và tạo môi trường học tập thân thiện có thể giúp sinh viên vượt qua các thách thức tâm lý một cách hiệu quả.

3.1. Nâng cao nhận thức và kỹ năng

Việc nâng cao nhận thứckỹ năng là bước đầu tiên trong việc khắc phục khó khăn tâm lý. Sinh viên cần được trang bị kiến thức về tâm lý học đườnggiáo dục đại học để hiểu rõ hơn về các vấn đề tâm lý. Đồng thời, việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhómphương pháp học tập tích cực cũng là yếu tố quan trọng giúp sinh viên vượt qua các thách thức tâm lý.

3.2. Hỗ trợ tâm lý và quản lý tâm lý

Hỗ trợ tâm lýquản lý tâm lý là những yếu tố không thể thiếu trong việc khắc phục khó khăn tâm lý. Sinh viên cần được hỗ trợ từ các chuyên gia tâm lý và giảng viên để giải quyết các vấn đề tâm lý. Nghiên cứu cho thấy, việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tâm lý và tạo môi trường học tập thân thiện có thể giúp sinh viên vượt qua các thách thức tâm lý một cách hiệu quả.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP NHÓM THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM Trên thế giới và tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về KKTL, trở ngại tâm lý và hoạt động HTN. Tuy nhiên, vấn đề KKTL trong HTN theo học chế tín chỉ của SVSP chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án theo 3 hướng sau: + Những nghiên cứu về KKTL trong học tập + Những nghiên cứu về thảo luận nhóm và HTN + Những nghiên cứu về KKTL trong quá trình làm việc nhóm, HTN 1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập Khi nghiên cứu về KKTL trong học tập, ở thập kỷ 70 thế kỷ XX tác giả Bianka Zazzo cùng các cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em đã nghiên cứu trẻ từ mẫu giáo đến cuối lớp 1.

Tác giả đã chỉ ra KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với học tập là: “Sự thay đổi môi trường hoạt động, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo, vui chơi trở thành hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng của cá nhân cao hơn là tính chỉ đạo của giáo viên. Sang lớp 1, học tập chủ đạo của học sinh phải nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [dẫn theo 22; tr17]. Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập của học sinh lớp 1, tác giả A.

Petropxki đã chia KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 làm 3 loại: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới, khó khăn trong thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè, khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã hội nên trẻ có tâm lí vui, thích, sẵn sàng đi học, về sau giảm dần khát vọng và chán học” [59]. Ballard và Clanchy (1985) đã chỉ ra những KKTL trong quá trình học tập của sinh viên Châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc. Hai tác giả này cho rằng: 8 Cách học của các sinh viên đến từ những nền văn hóa khác nhau là không giống nhau, có sự khác biệt. Đa số sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo, giáo dục ở môi trường và đất nước của họ do vậy sẽ gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác.

Các tác giả này kết luận: Sinh viên Châu Á gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với môi trường học tập mới chủ yếu là các vấn đề phương pháp, cách thức, văn hóa học tập, sử dụng ngôn ngữ học thuật. Họ cần phải có một sự tự chuyển biến lớn về ngôn ngữ, văn hóa, kiến thức để thích ứng với môi trường học tập mới [97]. Trong tác phẩm “Học tập đỉnh cao” (1999), Ronald Gross đã chỉ ra 6 nỗi sợ hay KKTL thường thấy ở người học, đó là những khó khăn khi tiếp thu tri thức, khó khăn khi lựa chọn phương pháp học tập; cụ thể là 6 khó khăn sau: không hiểu những điều đang học; tôi không phải là người có thể học môn này; tôi không biết cách để học cái này một cách hiệu quả; tôi sẽ không nhớ được những điều tôi đang học; tôi cảm thấy xấu hổ vì tôi không biết một số điều; có quá nhiều thứ để học. Theo ông những KKTL trên tạo ra một số suy nghĩ hoang đường ở người học làm hoạt động học tập của họ rất khó đạt kết quả cao.

Một số điều hoang đường về học tập: Học tập là một hoạt động nhàm chán, không thể thích thú; việc học tập chỉ liên quan đến những môn học và kĩ năng được dạy trong trường học; chúng ta phải thụ động và dễ tiếp thu để có thể “lĩnh hội” được tri thức; để học, bạn phải đặt mình dưới sự kèm cặp của giáo viên [65]. Như vậy, có thể hiểu đây là những khó khăn về nhận thức người học thường gặp phải khi tham gia hoạt động học tập. Ronald Gross còn cho rằng, tất cả người học đều có thể được xếp vào 1 trong 3 nhóm vùng học tập: Vùng quá sức: Việc học vất vả, khó khăn và không thể kiểm soát nổi. Ở vùng này người học gặp rất nhiều KKTL.

Vùng sảng khoái: Việc học nhiều thách thức nhưng có thể quản lý được. Ở vùng này người học không gặp KKTL trong hoạt động học. Vùng ăn không ngồi rồi: Việc học tẻ nhạt, chậm chạp và uể oải. Ở vùng này người học gặp KKTL trong việc không nhận thức được tầm quan trọng, không có thái độ tích cực, không có kỹ năng học tập.

Như vậy, tác giả khái quát một số vùng học tập gắn với KKTL biểu hiện ở nhận thức, thái độ, kỹ năng trong học tập. Cách tiếp cận này, tập trung chỉ ra các khó khăn học tập ở mặt thái độ. Các tác giả Bob Smale, Julie Fowlie trong tác phẩm “Để thành công ở trường đại học” (2009) cho rằng sinh viên mới bước vào ngưỡng cửa đại học gặp rất nhiều KKTL khi tham gia vào một nhóm học tập mới: Sốc văn hóa; không thích ứng và hòa nhập với nhóm; ngại giao tiếp với người lạ; căng thẳng với một lượng tri thức lớn; không thiết lập được cách học tập hiệu quả ở bậc đại học [10]. Các tác giả này chủ yếu đưa ra khó khăn học tập ở mặt thái độ, và là những khó khăn chung trong học tập, chưa chỉ ra cụ thể mức độ các khó khăn này.

Các tác giả Murray Evely và Zoe Ganim (2011) là các nhà tâm lí học người Australia, trong cuốn “Làm việc với trẻ có khó khăn trong học tập” (Working with children with learning difficulties) cho rằng: “Trẻ có khó khăn học tập (còn gọi là khuyết tật học tập) gặp nhiều khó khăn trong các lĩnh vực ngôn ngữ hoặc tính toán. Ở Úc có khoảng 16% trẻ có khó khăn học tập, với 3% gặp khó khăn học tập đang diễn ra nghiêm trọng”. Các tác giả cũng đưa ra một vài nguyên nhân dẫn đến KKTL trong học tập: “Các nguyên nhân được biết đến bao gồm di truyền, các vấn đề trong quá trình mang thai và sinh con, hoặc các vấn đề sau khi sinh như suy dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa chất, bệnh trẻ em, một tai nạn nghiêm trọng hoặc đang diễn ra chấn thương” [134]. Nghiên cứu của hai tác giả này chủ yếu tập trung tìm hiểu khó khăn học tập của trẻ nhỏ ở lĩnh vực ngôn ngữ, tính toán; các tác giả này lý giải khó khăn học tập của trẻ nhỏ dưới góc độ khiếm khuyết sinh học trong việc lĩnh hội tri thức.

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu KKTL trong học tập ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào học sinh đầu lớp 1 và sinh viên những năm đầu ở Cao đẳng, Đại học. 10 Các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương (2007) qua nghiên cứu “Phân tích các biểu hiện khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất sư phạm” cho rằng SVSP mới nhập học gặp KKTL trong học tập ở mức trung bình, có sự khác biệt KKTL giữa các khoa, sinh viên chuyên ngành tự nhiên gặp KKTL học tập nhiều hơn sinh viên chuyên ngành xã hội. Các biểu hiện khó khăn về nhận thức, cảm xúc và kĩ năng không đồng đều [76]. Nghiên cứu của hai tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) về những KKTL của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân, được thực hiện trên 315 sinh viên cho thấy: KKTL của sinh viên khá phức tạp, bao gồm những khó khăn đặc trưng về mặt lứa tuổi như giao tiếp, ứng xử, tình bạn, tình yêu và các khó khăn mang tính đặc trưng của môi trường học tập, rèn luyện trong ngành Cảnh sát.

Nghiên cứu còn quan tâm đến cách mà sinh viên ứng phó với những khó khăn này, trong đó có khá nhiều sinh viên lựa chọn cách âm thầm chịu đựng, tự bản thân giải quyết. Từ kết quả nghiên cứu của mình, hai tác giả này đặt ra vấn đề, cần xây dựng một mô hình trợ giúp tâm lý phù hợp cho sinh viên Học viện Cảnh sát [61]. Các tác giả này, tập trung nghiên cứu ở sinh viên ngành cảnh sát, KKTL được nghiên cứu ở nhiều hoạt động khác nhau như học tập, giao tiếp ứng xử, lao động, hoạt động xã hội … chứ không tập trung vào một hoạt động cụ thể nào trong số đó. Chính vì vậy, các biểu hiện KKTL mà nghiên cứu này đưa ra còn chưa chi tiết, rõ ràng ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ và hành vi.

Tác giả Đặng Thị Lan (2007) với đề tài “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” cho thấy nhìn chung sinh viên năm đầu của Đại học Ngoại ngữ đều gặp KKTL trong quá trình học ngoại ngữ, sinh viên có học lực khác nhau gặp các KKTL khác nhau, những sinh viên có học lực giỏi và khá gặp KKTL ít hơn sinh viên có học lực trung bình trở xuống [39]. Năm 2015, tác giả này tiếp tục nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu thực hiện trên 44 sinh viên các dân tộc Nùng, Tày, Mường, Sán Dìu. Kết quả nghiên cứu cho 11 thấy: Sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất còn gặp khá nhiều KKTL trong hoạt động học ngoại ngữ, khó khăn về kỹ năng học ngoại ngữ nhiều hơn so với khó khăn về nhận thức và thái độ đối với việc học ngoại ngữ [40]. Các nghiên cứu KKTL trong học tập của tác giả Đặng Thị Lan tập trung chủ yếu vào các khó khăn trong việc học ngoại ngữ, tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ mức độ cũng như biểu hiện khó khăn trong học ngoại ngữ của sinh viên ở các mặt nhận thức, thái độ và hành vi.

Trong cuốn sách chuyên khảo về dạy học ở đại học – Tiếp cận khoa học giáo dục và tâm lý học, hai tác giả Đỗ Văn Đoạt và Nguyễn Thị Bích Liên (2017) đã công bố kết quả khảo sát khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ và cách ứng phó ở sinh viên Đại học Sư phạm, nghiên cứu cho thấy 100% SVSP có khó khăn trong học tập theo tín chỉ ở các mức độ khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm theo học chế tín chỉ" khám phá những thách thức mà sinh viên sư phạm gặp phải khi tham gia vào các hoạt động học tập nhóm. Tác giả phân tích các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự hợp tác và hiệu quả học tập của sinh viên, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện tình hình. Bài viết không chỉ giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về những khó khăn mà họ có thể gặp phải, mà còn cung cấp những chiến lược hữu ích để vượt qua những rào cản này, từ đó nâng cao trải nghiệm học tập của họ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Tiểu luận thảo luận nhóm tmu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên trường đại học thương mại, nơi nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng tự học của sinh viên. Ngoài ra, Tiểu luận đề tài những tác động của peer pressure áp lực đồng trang lứa đến sức khoẻ tinh thần của sinh viên trường đại học kinh tế quốc dân cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về áp lực đồng trang lứa và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe tâm lý của sinh viên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ tâm lý học nhu cầu tự khẳng định của sinh viên, giúp bạn hiểu rõ hơn về nhu cầu tâm lý của sinh viên trong môi trường học tập. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh tâm lý trong học tập của sinh viên.