CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP NHÓM THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM Trên thế giới và tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về KKTL, trở ngại tâm lý và hoạt động HTN. Tuy nhiên, vấn đề KKTL trong HTN theo học chế tín chỉ của SVSP chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án theo 3 hướng sau: + Những nghiên cứu về KKTL trong học tập + Những nghiên cứu về thảo luận nhóm và HTN + Những nghiên cứu về KKTL trong quá trình làm việc nhóm, HTN 1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập Khi nghiên cứu về KKTL trong học tập, ở thập kỷ 70 thế kỷ XX tác giả Bianka Zazzo cùng các cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em đã nghiên cứu trẻ từ mẫu giáo đến cuối lớp 1.
Tác giả đã chỉ ra KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với học tập là: “Sự thay đổi môi trường hoạt động, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo, vui chơi trở thành hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng của cá nhân cao hơn là tính chỉ đạo của giáo viên. Sang lớp 1, học tập chủ đạo của học sinh phải nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [dẫn theo 22; tr17]. Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập của học sinh lớp 1, tác giả A.
Petropxki đã chia KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 làm 3 loại: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới, khó khăn trong thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè, khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã hội nên trẻ có tâm lí vui, thích, sẵn sàng đi học, về sau giảm dần khát vọng và chán học” [59]. Ballard và Clanchy (1985) đã chỉ ra những KKTL trong quá trình học tập của sinh viên Châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc. Hai tác giả này cho rằng: 8 Cách học của các sinh viên đến từ những nền văn hóa khác nhau là không giống nhau, có sự khác biệt. Đa số sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo, giáo dục ở môi trường và đất nước của họ do vậy sẽ gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác.
Các tác giả này kết luận: Sinh viên Châu Á gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với môi trường học tập mới chủ yếu là các vấn đề phương pháp, cách thức, văn hóa học tập, sử dụng ngôn ngữ học thuật. Họ cần phải có một sự tự chuyển biến lớn về ngôn ngữ, văn hóa, kiến thức để thích ứng với môi trường học tập mới [97]. Trong tác phẩm “Học tập đỉnh cao” (1999), Ronald Gross đã chỉ ra 6 nỗi sợ hay KKTL thường thấy ở người học, đó là những khó khăn khi tiếp thu tri thức, khó khăn khi lựa chọn phương pháp học tập; cụ thể là 6 khó khăn sau: không hiểu những điều đang học; tôi không phải là người có thể học môn này; tôi không biết cách để học cái này một cách hiệu quả; tôi sẽ không nhớ được những điều tôi đang học; tôi cảm thấy xấu hổ vì tôi không biết một số điều; có quá nhiều thứ để học. Theo ông những KKTL trên tạo ra một số suy nghĩ hoang đường ở người học làm hoạt động học tập của họ rất khó đạt kết quả cao.
Một số điều hoang đường về học tập: Học tập là một hoạt động nhàm chán, không thể thích thú; việc học tập chỉ liên quan đến những môn học và kĩ năng được dạy trong trường học; chúng ta phải thụ động và dễ tiếp thu để có thể “lĩnh hội” được tri thức; để học, bạn phải đặt mình dưới sự kèm cặp của giáo viên [65]. Như vậy, có thể hiểu đây là những khó khăn về nhận thức người học thường gặp phải khi tham gia hoạt động học tập. Ronald Gross còn cho rằng, tất cả người học đều có thể được xếp vào 1 trong 3 nhóm vùng học tập: Vùng quá sức: Việc học vất vả, khó khăn và không thể kiểm soát nổi. Ở vùng này người học gặp rất nhiều KKTL.
Vùng sảng khoái: Việc học nhiều thách thức nhưng có thể quản lý được. Ở vùng này người học không gặp KKTL trong hoạt động học. Vùng ăn không ngồi rồi: Việc học tẻ nhạt, chậm chạp và uể oải. Ở vùng này người học gặp KKTL trong việc không nhận thức được tầm quan trọng, không có thái độ tích cực, không có kỹ năng học tập.
Như vậy, tác giả khái quát một số vùng học tập gắn với KKTL biểu hiện ở nhận thức, thái độ, kỹ năng trong học tập. Cách tiếp cận này, tập trung chỉ ra các khó khăn học tập ở mặt thái độ. Các tác giả Bob Smale, Julie Fowlie trong tác phẩm “Để thành công ở trường đại học” (2009) cho rằng sinh viên mới bước vào ngưỡng cửa đại học gặp rất nhiều KKTL khi tham gia vào một nhóm học tập mới: Sốc văn hóa; không thích ứng và hòa nhập với nhóm; ngại giao tiếp với người lạ; căng thẳng với một lượng tri thức lớn; không thiết lập được cách học tập hiệu quả ở bậc đại học [10]. Các tác giả này chủ yếu đưa ra khó khăn học tập ở mặt thái độ, và là những khó khăn chung trong học tập, chưa chỉ ra cụ thể mức độ các khó khăn này.
Các tác giả Murray Evely và Zoe Ganim (2011) là các nhà tâm lí học người Australia, trong cuốn “Làm việc với trẻ có khó khăn trong học tập” (Working with children with learning difficulties) cho rằng: “Trẻ có khó khăn học tập (còn gọi là khuyết tật học tập) gặp nhiều khó khăn trong các lĩnh vực ngôn ngữ hoặc tính toán. Ở Úc có khoảng 16% trẻ có khó khăn học tập, với 3% gặp khó khăn học tập đang diễn ra nghiêm trọng”. Các tác giả cũng đưa ra một vài nguyên nhân dẫn đến KKTL trong học tập: “Các nguyên nhân được biết đến bao gồm di truyền, các vấn đề trong quá trình mang thai và sinh con, hoặc các vấn đề sau khi sinh như suy dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa chất, bệnh trẻ em, một tai nạn nghiêm trọng hoặc đang diễn ra chấn thương” [134]. Nghiên cứu của hai tác giả này chủ yếu tập trung tìm hiểu khó khăn học tập của trẻ nhỏ ở lĩnh vực ngôn ngữ, tính toán; các tác giả này lý giải khó khăn học tập của trẻ nhỏ dưới góc độ khiếm khuyết sinh học trong việc lĩnh hội tri thức.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu KKTL trong học tập ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào học sinh đầu lớp 1 và sinh viên những năm đầu ở Cao đẳng, Đại học. 10 Các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương (2007) qua nghiên cứu “Phân tích các biểu hiện khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất sư phạm” cho rằng SVSP mới nhập học gặp KKTL trong học tập ở mức trung bình, có sự khác biệt KKTL giữa các khoa, sinh viên chuyên ngành tự nhiên gặp KKTL học tập nhiều hơn sinh viên chuyên ngành xã hội. Các biểu hiện khó khăn về nhận thức, cảm xúc và kĩ năng không đồng đều [76]. Nghiên cứu của hai tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) về những KKTL của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân, được thực hiện trên 315 sinh viên cho thấy: KKTL của sinh viên khá phức tạp, bao gồm những khó khăn đặc trưng về mặt lứa tuổi như giao tiếp, ứng xử, tình bạn, tình yêu và các khó khăn mang tính đặc trưng của môi trường học tập, rèn luyện trong ngành Cảnh sát.
Nghiên cứu còn quan tâm đến cách mà sinh viên ứng phó với những khó khăn này, trong đó có khá nhiều sinh viên lựa chọn cách âm thầm chịu đựng, tự bản thân giải quyết. Từ kết quả nghiên cứu của mình, hai tác giả này đặt ra vấn đề, cần xây dựng một mô hình trợ giúp tâm lý phù hợp cho sinh viên Học viện Cảnh sát [61]. Các tác giả này, tập trung nghiên cứu ở sinh viên ngành cảnh sát, KKTL được nghiên cứu ở nhiều hoạt động khác nhau như học tập, giao tiếp ứng xử, lao động, hoạt động xã hội … chứ không tập trung vào một hoạt động cụ thể nào trong số đó. Chính vì vậy, các biểu hiện KKTL mà nghiên cứu này đưa ra còn chưa chi tiết, rõ ràng ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ và hành vi.
Tác giả Đặng Thị Lan (2007) với đề tài “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” cho thấy nhìn chung sinh viên năm đầu của Đại học Ngoại ngữ đều gặp KKTL trong quá trình học ngoại ngữ, sinh viên có học lực khác nhau gặp các KKTL khác nhau, những sinh viên có học lực giỏi và khá gặp KKTL ít hơn sinh viên có học lực trung bình trở xuống [39]. Năm 2015, tác giả này tiếp tục nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu thực hiện trên 44 sinh viên các dân tộc Nùng, Tày, Mường, Sán Dìu. Kết quả nghiên cứu cho 11 thấy: Sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất còn gặp khá nhiều KKTL trong hoạt động học ngoại ngữ, khó khăn về kỹ năng học ngoại ngữ nhiều hơn so với khó khăn về nhận thức và thái độ đối với việc học ngoại ngữ [40]. Các nghiên cứu KKTL trong học tập của tác giả Đặng Thị Lan tập trung chủ yếu vào các khó khăn trong việc học ngoại ngữ, tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ mức độ cũng như biểu hiện khó khăn trong học ngoại ngữ của sinh viên ở các mặt nhận thức, thái độ và hành vi.
Trong cuốn sách chuyên khảo về dạy học ở đại học – Tiếp cận khoa học giáo dục và tâm lý học, hai tác giả Đỗ Văn Đoạt và Nguyễn Thị Bích Liên (2017) đã công bố kết quả khảo sát khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ và cách ứng phó ở sinh viên Đại học Sư phạm, nghiên cứu cho thấy 100% SVSP có khó khăn trong học tập theo tín chỉ ở các mức độ khác nhau.