Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu nông nghiệp quốc gia với quy mô tổng đàn duy trì ổn định từ 26,76 triệu đến 29,07 triệu con trong giai đoạn 2014 - 2017. Trong đó, tổng đàn lợn nái đạt trên 4 triệu con, chiếm khoảng 14% tổng đàn lợn cả nước. Mặc dù số lượng đầu con lớn, năng suất sinh sản thực tế của đàn nái tại Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể so với các cường quốc chăn nuôi trên thế giới; điển hình như Đan Mạch với quy mô tổng đàn 30 triệu con nhưng chỉ cần duy trì hơn 1 triệu nái (chiếm hơn 3% tổng đàn) để đạt sản lượng tương đương. Hiện nay, giống lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire (LY) chiếm trên 96% cơ cấu đàn nái ngoại sinh sản tại các trang trại nhờ ưu thế lai vượt trội về khả năng tiết sữa và số con sơ sinh.

Tuy nhiên, năng suất sinh sản thực tế lại có sự biến động lớn giữa các vùng sinh thái và các mô hình chuồng trại. Giai đoạn nuôi con là mắt xích quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng của lợn con, mức độ hao mòn cơ thể nái và khoảng cách lứa đẻ tiếp theo. Việc mất cân đối dinh dưỡng, đặc biệt là tỷ lệ axit amin thiết yếu trên năng lượng trao đổi, thường dẫn đến tình trạng nái sụt giảm thể trọng trên 25 kg, kéo dài thời gian động dục trở lại từ 10 đến 15 ngày và làm giảm số lứa đẻ/năm.

Đề tài "Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở" được thực hiện từ tháng 6/2016 đến tháng 8/2018. Nghiên cứu triển khai khảo sát thực địa trên 59 trang trại tại 3 tỉnh đại diện cho ba miền (Thái Nguyên, Thanh Hóa, Đồng Nai) và tiến hành thử nghiệm dinh dưỡng tại Hà Nội và Thái Nguyên. Mục tiêu cốt lõi là xác định tỷ lệ Lysine tiêu hóa/ME tối ưu nhằm nâng cao năng suất đàn lợn con, giảm tiêu tốn thức ăn về mức 1,70 - 1,75 kg thức ăn/kg tăng trọng lợn con, khống chế hao hụt thể trọng nái và chuẩn hóa quy trình nuôi dưỡng theo từng điều kiện chuồng nuôi tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng dinh dưỡng và mô hình trao đổi chất ở gia súc sinh sản theo tiêu chuẩn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC, 1998; NRC, 2012) kết hợp khuyến cáo của Trung tâm Xuất sắc về Thịt lợn Hoa Kỳ (US Pork Center of Excellence, 2010). Khung lý thuyết phân tích nhu cầu năng lượng và protein tiết sữa dựa trên mô hình của Noblet và Etienne (1989), xác định năng lượng trao đổi (ME) cho sản xuất sữa phụ thuộc trực tiếp vào tăng trọng ngày của đàn con (ADG) và quy mô ổ đẻ. Quá trình sinh sữa ở lợn nái đòi hỏi huy động khoảng 61 g lysine/ngày đối với ổ 10 con để đạt mức tăng trọng 2,25 kg/ổ/ngày. Nếu hàm lượng lysine trong khẩu phần không đáp ứng đủ nhu cầu tạo protein sữa (trung bình 6% protein trong sữa nái), cơ thể mẹ buộc phải tự phân giải mô cơ, dẫn đến hao mòn protein nội sinh nghiêm trọng trong tuần đầu sau sinh.

Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  1. Tỷ lệ Lysine tiêu hóa trên năng lượng trao đổi (Lysine TH/ME): Chỉ số biểu thị mật độ axit amin khả dụng sinh học trên một đơn vị năng lượng trao đổi (tính bằng g/Mcal ME).
  2. Năng lượng trao đổi (Metabolizable Energy - ME): Phần năng lượng tiêu hóa còn lại sau khi trừ đi năng lượng mất qua nước tiểu và khí đường tiêu hóa.
  3. Tốc độ tăng trọng bình quân ngày (Average Daily Gain - ADG): Khối lượng tích lũy mô nạc trung bình của lợn con theo mẹ qua từng ngày tuổi.
  4. Tỷ lệ hao hụt thể trọng nái: Phần trăm khối lượng cơ thể mẹ mất đi trong suốt chu kỳ nuôi con từ khi đẻ đến khi cai sữa.
  5. Khoảng cách cai sữa - động dục trở lại (Wean-to-estrus interval): Số ngày từ khi tách con đến khi lợn nái có biểu hiện chịu đực và phối giống lần đầu ở chu kỳ tiếp theo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hai hợp phần: điều tra thực địa xã hội học chăn nuôi và bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng so sánh.

Hợp phần điều tra thu thập số liệu thứ cấp từ Sở Nông nghiệp và PTNT, kết hợp điều tra sơ cấp tại 59 trang trại quy mô trên 60 nái/trại thuộc 31 xã của 8 huyện/thị: Thái Nguyên (19 trại), Thanh Hóa (20 trại) và Đồng Nai (20 trại). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng - hệ thống - ngẫu nhiên 4 bước (Tỉnh đại diện vùng $\rightarrow$ Huyện trọng điểm $\rightarrow$ Xã tập trung $\rightarrow$ Trang trại đạt chuẩn). Phương pháp này đảm bảo tính đại diện sinh thái cao cho ba miền Bắc, Trung, Nam.

Hợp phần thí nghiệm áp dụng thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Randomized Design - CRD) trên 60 nái lai Landrace $\times$ Yorkshire (lứa đẻ thứ 2 đến 4) chia đều cho 2 mô hình chuồng nuôi: chuồng kín tại Trại Ba Vì (Hà Nội) và chuồng hở tại Trại Phổ Yên (Thái Nguyên). Mỗi mô hình gồm 3 nghiệm thức (10 nái/nghiệm thức, nuôi cá thể 1 con/ô, mỗi ô là một lần lặp lại). Các nghiệm thức sử dụng chung mức protein thô (18,06 - 18,11%) và mức năng lượng trao đổi (3256 kcal ME/kg), thay đổi 3 mức tỷ lệ Lysine TH/ME:

  • Nghiệm thức 1 (Mức thấp): 2,29 g Lysine TH/Mcal ME (0,93% Lysine tổng số).
  • Nghiệm thức 2 (Mức trung bình): 2,51 g Lysine TH/Mcal ME (1,02% Lysine tổng số).
  • Nghiệm thức 3 (Mức cao): 2,75 g Lysine TH/Mcal ME (1,12% Lysine tổng số).

Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm thống kê Minitab phiên bản 14 thông qua phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định sâu sai biệt giá trị trung bình bằng Tukey test ở mức ý nghĩa $P < 0,05$. Phương pháp phân tích này giúp kiểm soát sai số ngẫu nhiên và phân tách chính xác ảnh hưởng của dinh dưỡng trong từng điều kiện vi khí hậu chuồng trại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát tại 59 trang trại cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng chăn nuôi lợn nái ngoại tại Việt Nam:

  1. Quy mô và cơ cấu đàn: Quy mô chăn nuôi trung bình đạt 974,9 con/trại với đàn nái trung bình 162,8 con/trại. Đàn nái tại Đồng Nai (197,5 nái/trại) và Thái Nguyên (206,9 nái/trại) có quy mô cao hơn đáng kể so với Thanh Hóa (86,2 nái/trại, $P < 0,05$). Đàn nái lai Landrace $\times$ Yorkshire chiếm tỷ trọng áp đảo 96,26% tổng đàn sinh sản; 84,75% trang trại thực hiện phương thức chăn nuôi khép kín từ nái sinh sản đến nuôi thịt thương phẩm. Đực giống sử dụng chủ yếu là dòng Duroc và PiDu (chiếm 86,30%).
  2. Năng suất sinh sản theo vùng: Số con cai sữa/nái/năm tại miền Bắc đạt mức cao nhất với 23,92 con, cao hơn miền Trung (22,96 con) và Đồng Nai (21,61 con). Tỷ lệ lợn cái hậu bị thay thế đàn tại Đồng Nai đạt chuẩn sinh học 29,5%, trong khi Thái Nguyên và Thanh Hóa chỉ đạt lần lượt 21% và 19%.

Thực nghiệm khẩu phần ăn đem lại các chỉ số đột phá về năng suất và chuyển hóa: 3. Nâng cao tầm vóc và tăng khối lượng lợn con: Khẩu phần có tỷ lệ 2,75 g Lysine TH/Mcal ME cải thiện rõ rệt khối lượng lợn con lúc cai sữa và tốc độ tăng khối lượng ngày (ADG) của lợn con theo mẹ so với hai mức 2,29 và 2,51 g/Mcal ($P < 0,05$). 4. Tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR): Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng lợn con cai sữa đạt hiệu quả tốt nhất ở mức 2,75 g Lysine TH/Mcal ME: đạt 1,75 kg thức ăn/kg tăng trọng trong điều kiện chuồng kín và 1,70 kg thức ăn/kg tăng trọng trong điều kiện chuồng hở. 5. Kiểm soát hao hụt khối lượng nái và chu kỳ sinh sản: Mức 2,75 g Lysine TH/Mcal ME giúp nái giảm thiểu tối đa sự hao mòn cơ thể trong giai đoạn tiết sữa, bảo toàn độ dày mỡ lưng và rút ngắn ngày động dục trở lại sau cai sữa về khoảng 5 - 7 ngày, tạo tiền đề nâng cao số lứa đẻ/năm.

Thảo luận kết quả

Cơ chế sinh học giải thích cho sự vượt trội của mức 2,75 g Lysine TH/Mcal ME nằm ở sự đáp ứng hoàn hảo nhu cầu axit amin giới hạn cho quá trình tổng hợp sữa mà không làm dư thừa protein thô gây tiêu hao năng lượng thải độc amoniac. Khi tỷ lệ Lysine TH/ME tăng từ 2,29 lên 2,75 g/Mcal, lượng lysine hữu dụng cung cấp cho tuyến vú tăng lên, giúp sản lượng sữa và hàm lượng protein trong sữa nái tăng tương ứng. Nhờ đó, lợn con nhận được nguồn dinh dưỡng dồi dào, đạt tốc độ sinh trưởng mô nạc tối đa và giảm phụ thuộc vào thức ăn tập ăn ngoài.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các báo cáo quốc tế của US Pork Center of Excellence (2010) và nghiên cứu của Đoàn Vĩnh (2014) trên đàn nái lai tại Việt Nam. Về mặt trình bày dữ liệu, các tương quan này được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột so sánh khối lượng cai sữa (kg/con) và tốc độ tăng trọng (g/con/ngày) giữa chuồng kín và chuồng hở, kết hợp với bảng số liệu đa biến đối chiếu tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ hao hụt thể trọng nái. Sự nhất quán giữa hai mô hình chuồng nuôi chứng minh rằng việc nâng tỷ lệ Lysine TH/ME lên 2,75 g/Mcal là giải pháp dinh dưỡng cốt lõi, thích ứng tốt với cả điều kiện chuồng hở có biến động nhiệt độ cao lẫn chuồng kín kiểm soát vi khí hậu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các căn cứ thực nghiệm, 4 giải pháp hành động được đề xuất nhằm chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chăn nuôi:

  1. Áp dụng chuẩn khẩu phần dinh dưỡng chuyên biệt: Thiết lập khẩu phần nái nuôi con đạt tỷ lệ 2,75 g Lysine tiêu hóa/Mcal ME (tương đương 1,12% Lysine tổng số, 18,11% protein thô và 3256 kcal ME/kg). Mục tiêu đưa chỉ số tiêu tốn thức ăn đạt 1,70 - 1,75 kg thức ăn/kg tăng trọng lợn con, khống chế hao mòn thể trọng mẹ dưới 15% và rút ngắn thời gian phối giống lại xuống 5 - 7 ngày. Thời gian triển khai ngay từ quý I hàng năm. Chủ thể thực hiện: Chủ trang trại chăn nuôi nái sinh sản và bộ phận R&D tại các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc.
  2. Nâng cấp và chuyển đổi cấu trúc chuồng trại: Chuyển đổi từng bước từ chuồng hở sang hệ thống chuồng kín có giàn lạnh làm mát (cooling pad) và kiểm soát tiểu khí hậu tự động. Mục tiêu nâng quy mô nái bình quân lên trên 250 nái/trại, giảm tỷ lệ loại thải nái do stress nhiệt xuống dưới 20%. Lộ trình thực hiện từ năm 2019 đến 2025. Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp và chủ gia trại quy mô vừa và lớn.
  3. Chuẩn hóa cơ cấu đàn và quản lý giống hậu bị: Duy trì tỷ lệ nái hậu bị thay thế hàng năm ổn định ở mức 25 - 30% tổng đàn nái cơ bản; thực hiện tuyển chọn nghiêm ngặt nái hậu bị đạt khối lượng 130 - 140 kg và độ dày mỡ lưng 16 - 20 mm khi phối giống lần đầu ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3. Mục tiêu đạt năng suất trên 24 con cai sữa/nái/năm. Thời gian áp dụng thường xuyên theo từng lứa đẻ. Chủ thể thực hiện: Đội ngũ kỹ thuật viên quản lý đàn giống tại trang trại.
  4. Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nhân lực: Tổ chức định kỳ các khóa tập huấn chuyên sâu về sinh lý dinh dưỡng, kỹ thuật phối trộn thức ăn và cân bằng axit amin cho chủ trang trại và công nhân (hiện có tới 72,88% người làm chăn nuôi chưa qua đào tạo chuyên ngành chăn nuôi - thú y). Mục tiêu 100% cán bộ kỹ thuật tại trại làm chủ công nghệ quản lý khẩu phần theo từng giai đoạn tiết sữa. Thời gian thực hiện định kỳ hàng quý. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu khoa học của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Chủ trang trại và người trực tiếp quản lý trại lợn nái: Cung cấp công thức phối trộn thức ăn chi tiết (sử dụng ngô, khô đỗ, cám mỳ, DDGS, L-Lysine) và định mức 2,75 g Lysine TH/Mcal ME để áp dụng trực tiếp cho chuồng kín lẫn chuồng hở, giải quyết triệt để tình trạng nái còi cọc sau cai sữa và tối ưu hóa lợi nhuận đàn con.
  2. Chuyên gia dinh dưỡng và giám đốc R&D tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi: Sử dụng số liệu cân bằng axit amin theo tỷ lệ chuẩn của NRC (2012) làm tài liệu gốc để phát triển và hoàn thiện các dòng sản phẩm cám nái nuôi con cao cấp, phù hợp với đặc thù giống lợn lai LY nuôi tại vùng khí hậu nhiệt đới Việt Nam.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng động vật (CRD), kỹ thuật điều tra chọn mẫu phân tầng xã hội học và quy trình xử lý dữ liệu sinh học chuyên sâu bằng phần mềm Minitab 14.
  4. Cán bộ quản lý ngành chăn nuôi và khuyến nông viên cấp tỉnh: Sử dụng bức tranh số liệu thực địa tại Thái Nguyên, Thanh Hóa và Đồng Nai để tham mưu chính sách tái cơ cấu chăn nuôi, định hướng phát triển chuỗi liên kết trang trại khép kín và xây dựng các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật cho địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ Lysine tiêu hóa trên năng lượng trao đổi (Lysine TH/ME) tối ưu cho nái lai Landrace $\times$ Yorkshire nuôi con là bao nhiêu? Theo kết quả thực nghiệm, mức tối ưu là 2,75 g Lysine TH/Mcal ME (tương đương 1,12% Lysine tổng số trong khẩu phần có 18,11% protein thô và 3256 kcal ME/kg). Mức dinh dưỡng này đem lại hiệu quả vượt trội so với các mức 2,29 và 2,51 g/Mcal, giúp tối đa hóa khả năng tiết sữa của nái mẹ và tốc độ tăng trưởng của đàn con.

  2. Khẩu phần 2,75 g Lysine TH/Mcal ME cải thiện năng suất lợn con như thế nào? Khẩu phần này nâng cao đáng kể khối lượng cai sữa của lợn con tính theo từng cá thể và theo cả ổ. Tốc độ tăng khối lượng hàng ngày (ADG) của lợn con theo mẹ tăng lên, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn xuống mức tối ưu: 1,75 kg thức ăn/kg tăng trọng trong điều kiện chuồng kín và 1,70 kg thức ăn/kg tăng trọng trong điều kiện chuồng hở.

  3. Vì sao cần hạn chế tối đa việc hao hụt thể trọng của nái trong giai đoạn nuôi con? Nếu nái thiếu hụt lysine và năng lượng, cơ thể sẽ phân giải protein mô cơ để tạo sữa, dẫn đến sụt cân từ 20 đến 35 kg. Tình trạng này làm suy thoái bao noãn, kéo dài thời gian chờ phối giống từ 10 đến 15 ngày, làm giảm số trứng rụng và trực tiếp làm giảm số con sơ sinh ở lứa đẻ tiếp theo.

  4. Hiệu quả sử dụng khẩu phần thí nghiệm có sự khác biệt lớn giữa chuồng kín và chuồng hở không? Cả hai kiểu chuồng đều phản hồi tích cực nhất với mức 2,75 g Lysine TH/Mcal ME. Chuồng kín giúp kiểm soát vi khí hậu ổn định, đạt tiêu tốn thức ăn 1,75 kg/kg tăng trọng; trong khi chuồng hở đạt 1,70 kg/kg tăng trọng. Điều này chứng minh công thức dinh dưỡng có tính thích ứng sinh học cao trên nhiều mô hình hạ tầng chuồng trại khác nhau.

  5. Thực trạng cơ cấu giống lợn nái sinh sản tại các trang trại Việt Nam hiện nay ra sao? Khảo sát 59 trang trại cho thấy nái lai giữa Landrace và Yorkshire chiếm tỷ lệ áp đảo 96,26%, nái thuần chỉ chiếm dưới 3,5%. Phần lớn các trang trại (84,75%) tổ chức chăn nuôi khép kín để nuôi lợn thịt thương phẩm, sử dụng đực giống ngoại Duroc hoặc PiDu (chiếm 86,30%) nhằm tạo ra con lai 3 hoặc 4 máu năng suất cao.

Kết luận

  • Đàn lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire chiếm vị trí chủ lực (96,26%) trong cơ cấu trang trại chăn nuôi tại Việt Nam, chủ yếu vận hành theo chuỗi khép kín sản xuất lợn thịt (84,75%).
  • Khẩu phần ăn tối ưu cho nái lai nuôi con được xác định ở mức tỷ lệ 2,75 g Lysine tiêu hóa/Mcal ME (1,12% Lysine, 18,11% protein thô, 3256 kcal ME/kg).
  • Tỷ lệ dinh dưỡng 2,75 g Lysine TH/Mcal ME giúp giảm tiêu tốn thức ăn xuống 1,70 - 1,75 kg/kg tăng trọng lợn con, gia tăng tầm vóc cai sữa và giảm thiểu sự hao hụt khối lượng nái.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, giúp rút ngắn thời gian động dục lại của nái về 5 - 7 ngày và nâng cao số con cai sữa/nái/năm đạt mức trên 24 con.
  • Lộ trình tiếp theo cần tập trung chuyển giao công thức vào sản xuất thức ăn công nghiệp và nâng cấp chuồng kín đồng bộ giai đoạn 2019 - 2025; các trang trại nên áp dụng ngay định mức dinh dưỡng này để tối ưu hóa năng suất và chi phí chăn nuôi.