Chương 1 TỎNG QUAN 1. Giới thiệu chung về bệnh Dịch tả heo Châu Phi Bệnh Dịch tả heo Châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever - ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và rất dễ lây lan do virus gây ra, virus ASF có thể tồn tại thời gian dải trong chất tiết, dịch tiết, máu, mô và phân, cũng có thé nhân lên trong các vecto của nó như ve mềm Ornithodoros spp. và có sức đề kháng cao trong môi trường (Martinez và ctv., 2015; Olesen và ctv., 2018; Natalia và ctv. Bệnh Dịch tả heo Chau Phi xảy ra trên heo thuộc họ Asfarviridae gây ra, có độc lực khác nhau giữa các chủng và rất khó bị bất hoạt về mặt vật lý và hóa học.
Virus ASF thường xuất hiện ở dạng cấp tính như sốt xuất huyết. Các dạng bán cấp tính và mãn tính của bệnh cũng ton tại. Virus ASF có thé gây chết heo với tỷ lệ lên tới 100% và heo ở mọi lứa tuôi đều bị ảnh hưởng. Heo khỏi bệnh có khả năng mang virus trong thời gian dai và có thể trở thành vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thê loại trừ được bệnh nếu dé xảy ra bệnh Dich tả heo Châu Phi (FAO, 2021).
Tác nhân gây bệnh Bệnh Dịch tả heo Châu Phi do virus thuộc họ Asfarviridae, giỗng Asfivirus, kích thước khá lớn, đường kính khoảng 200 nm, với bộ gen ADN 2 sợi, có vỏ bọc ngoài. Virus ASF mang bộ gen ADN sợi đôi với chiều đài khoảng 170 đến 193 kbp, mã hóa từ 151 đến 167 ORFs, trong đó 110 vùng được bảo tồn cao (Jia và ctv. Đường kính virus khoảng 200 nm và được bao bởi nhiều cấu trúc màng phức tạp (Dixon và Chapman, 2008). Các protein cấu trúc được mã hóa có liên quan đến sự xâm nhiễm và nhân lên của virus.
Một số nghiên cứu cho thấy có hơn 50 protein chứa trong virus ASF và đóng vai trò trong sự xâm nhiễm như pp220, pp62, p72, p54, p30, CD2v, p10, p12, p14. Trong đó p54 va p30 mang tính khang nguyên rat quan trọng của virus, được tông hợp ở giai đoạn sớm sau khi nhiễm. p72 là thành phần chính của vỏ capsid va được chứng minh có tính kháng nguyên 6n định cao giữa những chủng phân lập từ các vùng khác nhau. CD2v giúp virus “lan tránh” miễn dịch vật chủ, đóng vai trò trong cơ chế sinh bệnh của virus ASF (Jia và ctv.
Vỏ ngoài chất béo ' lipid Vỏ bọc capside hình khối 20 mặt với 1892 đến 2172 capsomere Lới chất béo lipid bên trong Màng bọc nhân bên trong Chất nhân ADN mạch kép Hình 1. Mô hình hat virion virus ASF (Nguồn: Salas, Andrés, 2013) Đoạn gen có kích thước từ 70 - 193 kbp, có 3 protein cấu trúc quan trọng là p72, p54 và p32, tham gia trong quá trình chuyên hóa của acid nucleic, DNA nhân lên, chỉnh sửa và tái tổ hợp trong đoạn mRNA đóng vai trò bản sao thực hiện tiễn trình, tham gia trong việc sửa đổi đoạn protein và có vai trò trong việc điều tiết phản ứng của hệ miễn địch, tham gia trong quá trình chết trình tự (Cục Thú y, 2019). Dựa vào sự sai khác ở vùng gen mã hóa protein capsid p72, chủng virus ASF được phan thành 24 kiểu gen (Quembo và ctv. Sức đề kháng của virus Dịch tả heo Châu Phi Virus ASF tồn tại rất lâu ở những điều kiện khác nhau.
Virus bị bất hoạt ở 60°C trong 30 phút. Hiệu giá virus bị giảm khi bị tác động bởi các chất sát trùng như formaldehyde 1%, NaOH 2% và para-phenolic. Virus có thé được phân lập từ huyết thanh và máu khi được giữ ở nhiệt độ phòng trong vòng 18 tháng. Virus tồn tại trong khoảng pH rộng từ 4 - 13 (EFSA, 2010).
Virus ASF có thé tổn tại thời gian dài, có thể nhiều năm ở điều kiện đông lạnh hoặc bảo quản ở 40°C (Dixon, 2005). Trong các sản phẩm từ thịt, virus có thể tồn tại vài tuần đến vài tháng trong thịt đông lạnh hoặc thịt chưa nấu chín. Khi thịt được nấu ở 70°C trong 30 phút thì virus bị bat hoạt (Beltran-Alcrudo và ctv. Virus ASF trong thịt và nội tạng sống đông lạnh có khả năng sống sót trong khoảng thời gian kéo dài từ 103 đến 118 ngày, nhưng theo Adkin và ctv., 2014 cho rang virus ASF van có thé lây nhiễm cho đến 1.
Virus ASF sống được trong khoảng thời gian 84 đến 155 ngày trong thịt được bảo quản ở 4 - 89C. Các mẫu lá lách bị nhiễm bệnh được lưu trữ trong tủ lạnh van còn lây nhiễm trong 204 ngày và khi chôn trong đất vào tháng 6 ở độ sâu 8 cm virus ASF vẫn còn lây nhiễm trong 280 ngày. Tủy xương (trong thịt có xương) vẫn còn lây nhiễm trong 180 - 188 ngày, da và mỡ trong 300 ngày, nội tang trong 105 ngày, tuy nhiên nhiệt độ mà các mẫu này được lưu trữ không được nêu rõ mặc dù nó là một yếu tố chính cho khả năng sống sót của virus (Adkin và ctv. Sự sống sót của virus ASF trong thịt chế biến khô được chế biến chỉ giới hạn ở giăm bông, thịt vai, thị dui, thịt hun khói va salami, bụng heo và thịt bắp (McKercher và ctv., 1978; Mebus và ctv., 1987; Mellor và ctv., 1987; Petrini và ctv., 2019; Sindryakova va ctv.
Trong nhiều trường hợp, những con heo rừng bị bệnh chết, mầm bệnh thường vẫn lây nhiễm trong môi trường đến khi chúng phân hủy hoàn toàn. Đặc biệt, virus từ xác heo rừng nhiễm trong đất và có thể tồn tại đến 112 ngày. Tính cảm nhiễm virus từ môi trường nay phụ thuộc nhiều yếu tố như tính nhạy cảm, cường độ và tần xuất tiếp xúc với môi trường nhiễm bệnh của heo rừng, nơi chúng sinh sống, phát triển. Việc xử lý xác của chúng sẽ có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu dịch bệnh ASF (Chenais và ctv.
Virus ASF rất ôn định với sự thay đôi nhiệt độ và pH môi trường. Nó có thé chịu đựng được pH từ 4 đến 13 và có thê tồn tại nhiều năm ở 4 - 20°C. Khả năng tồn tại của virus trong một số điều kiện được trình bày ở bảng 1. Tuy nhiên, virus ASF có thé bị bat hoạt ở 60°C trong vòng 30 phút và nhạy cảm với tia tử ngoại cũng như nhiều chất sát trùng thương mại.
Các chất sát trùng như formaldehyde 1% có thé tiêu diệt virus sau 6 ngày, NaOH 2% trong 1 ngày (Đỗ Tiến Duy, 2019). Thời gian tồn tại của virus ASF (Cục Thú y, 2019; FAO, 2017) Loại sản phẩm Thời gian virus tồn tại Thịt có xương, thịt nghiền 105 ngày Thịt chế biến ở nhiệt độ 70°C trong 30 phút 0 Thịt khô 300 ngày Thịt xông khói, bỏ xương 30 ngày Thịt đông lạnh 1.000 ngày Thịt mát 110 ngày Thịt chất lượng kém (hỏng) 105 ngày Da/Mỡ (kề cả đã khô) 300 ngày Máu ở nhiệt độ lạnh 4°C 18 tháng Phân heo ở nhiệt độ thường 11 ngày Thực phẩm thừa bỏ đi (có thịt heo) 15 tuần Chuéng heo nhiễm bệnh 1 tháng Bảng 1. Bảng tổng hợp thông tin về chất khử trùng đối với virus ASF (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018) Đối tượng cần sát trùng Chất khử trùng/hóa chất/quy trình Thú sống Làm chết heo (trợ tử nhân đạo) Xác thú Chôn hoặc đốt ; ; Xà phòng va chat tây rửa, tac nhân oxy hóa va Nhà nuôi thú/các dụng cụ nuôi 2 kiêm Các hoát chất diệt côn trùng Diệt ve, mòng (organophosphates và synthetic pyrethroids) để diệt ve Con người Xà phòng và chất tây rửa Các dụng cụ điện Phun Formaldehyde Thức ăn Chôn hoặc đốt Chất thải, phân Chôn hoặc đốt, axit hoặc kiềm Nhà ở của người Xà phòng, chất tây, các tác nhân oxy hóa Máy móc Xà phòng, chất tây, và kiềm. Phương tiện vận chuyền Xà phòng, chất tây, và chất kiềm.
Quần áo Xà phòng, chat tay chất oxy hóa và kiềm. Máy bay Xà phòng, chất tây và thuốc sát trùng đa năng. Theo Beltrán-Alcrudo và ctv (2017), cho rằng phải thường xuyên làm sạch và khử trùng đối với các cơ sở, trang trại và thiết bị chăn nuôi. Chất hữu cơ cần được làm sạch khỏi chuồng trại, thiết bị, xe c6,.
trước khi khử trùng. Phương tiện và giày dép, thiết bị. của nhân viên phải được khử trùng khi ra vao trang trại. Các chất khử trùng được chứng minh là có hiệu qua bao gồm chất tay rửa, hypoclorit và glutaraldehyde.
Virus ASF nhạy cảm với ether va chloroform. Virus ASF bị bất hoạt trong vòng 30 phút bởi 8/1.000 natri hydroxit, hypoclorit - 2,3% clo, 3/1.000 formalin, 3% ortho-phenylphenol và các hợp chất iốt (OIE, 2013). Các sản phẩm thương mại hiệu quả cũng có sẵn. Tác động môi trường của các tác nhân này cần được xem xét.
Thiết bị không thé khử trùng dé dàng nên được phơi dưới ánh sáng mặt trời. Theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2020 đối với khu vực chăn nuôi định kỳ phun thuốc sát trùng ít nhất 2 lần/tuần; phun thuốc sát trùng trong chuồng muôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch và ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh; phun thuốc sát trùng trên heo ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dich sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nha sản xuất. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuông, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa heo vào nuôi. Phương tiện vận chuyên trước và sau khi vào chuồng nuôi phải được khử trùng, tiêu độc.
Chất thải phải được thu gom hàng ngày, chuyên đến nơi tập trung và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoa chất, hoặc xử lý bằng sinh học phù hợp. Chat thai rắn trước khi đưa ra ngoài phải được xử lý đảm bảo vệ sinh theo quy định hiện hành của thú y. Chat thai lòng phải được xử lý bằng hóa chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp. Cơ sở giết mé heo định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca giết mô heo.
Cơ sở sơ chế, chế biến thịt heo, sản pham thịt heo định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử tring sau mỗi ca sản xuat. Nhận xét và gợi ý sử dụng nhóm khử trùng ASF (Gallina và ctv., 2010; Shirai và ctv., 2000; OIE, 2019) TT Nhóm thuốc khử tring Khuyến cáo đối tượng sử dụng Nong độ khuyến cáo 8/1.000; xử lý chất độn 1 Sut (NaOH) \ : ¬ , : chuông, nên chuông, chât thải khác Vôi tôi (Ca(OH)›), vôisống Néng độ khuyến cáo > 1%; Xử lý chất độn (CaO) chuông, nền chuồng, chat thải khác; Xử lý bề Vôi sống (CaO) khi ngân mặt nền chuồng, vách chuồng hay một diện nước (HHO) sẽ tạo Ca(OHb tích bê mặt rât lớn khác.