phần mở đầu của cuốn từ điển ―Tổng quát về phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ‖. Trước tiên là tìm hiểu về đặc điểm tính bất phong bế và tính mơ hồ của từ ngữ ghi thời gian, rồi quy nạp phân tích hình loại kết cấu của từ ngữ ghi thời gian, đã liệt kê tường tận các loại phương thức kết cấu; và bản báo cáo đã dành nhiều nội dung luận thuật các phương thức ký thời và nội hàm văn hóa phong phú của nó; phần cuối bài đã khảo sát lịch thời (thời gian, thời đoạn) về phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ, đã trình bày, thể hiện phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ một cách rõ ràng. Bài ―Nghiên cứu về từ chỉ thời gian trong Hán thư‖ (2004) của Đặng Thụy Lệ đã sử dụng phương pháp miêu tả trạng thái tĩnh, phân tích khá toàn diện về danh từ, phó từ và tính từ biểu thị thời 10 gian trong Hán thư, và đã phân tích tỉ mỉ tình hình sử dụng đại thể của từ chỉ thời gian và đã miêu tả về nội hàm và phạm vi từ chỉ thời gian trong Hán thư. Bài nghiên cứu ―Một nhóm từ chỉ thời gian trong tiếng Hán cận đại‖ (1997) của Phạm Phan, đã khảo sát 21 từ chỉ thời gian chỉ xưng quãng thời gian sát gần thời điểm nói trong tiếng Hán cận đại, từ góc độ cộng thời và lịch thời trong một phạm vi khép kín, như ―thích tài, thích gian, kháp tài, cang tài, đầu lí,…‖; đã phân tích sự khác biệt của tỉ suất sử dụng, kết cấu trong và chức năng ngữ pháp, cùng với quan hệ đối ứng giữa phương thức kết cấu với chức năng ngữ pháp, chức năng tả nghĩa của những từ ngữ đó; rồi còn khảo sát sự biến hóa phát triển của những từ chỉ thời gian đó theo góc độ lịch thời.2 Nghiên cứu từ ngữ chỉ thời điểm và thời đoạn trong tiếng Hán Nghiên cứu từ ngữ chỉ ―thời điểm, thời đoạn‖ là một trong những tiêu điểm nghiên cứu ―từ ngữ chỉ thời gian‖, kết quả nghiên cứu rất phong phú.
―Thời điểm‖ và ―thời đoạn‖ là sự phân loại về mặt ngữ nghĩa của từ thời gian. Quan điểm cơ bản của giới học thuật về thời điểm và thời đoạn là: Thời điểm là một điểm trong thời gian, biểu thị vị trí của thời gian, có thể dùng để trả lời câu hỏi ―什么候(lúc nào)‖. Ví dụ: 星期一(Thứ 2),9 点(9 giờ), 今天(hôm nay),明年(năm ngoái), 公元年(năm công lịch, năm âm lịch)…. Thời đoạn là một độ dài ngắn của thời gian, có thể dùng để trả lời câu hỏi ―bao nhiêu lâu‖.
Ví dụ: 三天(3 ngày), 两个月 (2 tháng), 五年(5 năm), 一会儿(một lúc), 片刻(một lát)… Hai thuật ngữ ―thời điểm‖ và ―thời đoạn‖ lần đầu tiên xuất hiện là ở cuốn ―Yếu lược văn pháp Trung Quốc‖ của ông Lữ Thúc Tương. Cuốn sách này cho rằng: Từ thời gian thực chỉ (ví dụ như 晋太元中 năm Tấn Thái) và từ thời gian xưng đại (như 将来 sắp tới, 今 hôm nay, 昔 hôm qua) đều là thời điểm; ngoài ra 11 còn thời đoạn, biểu thị thời gian dài hay ngắn, hoặc dùng các đơn vị như (年 năm, 日 ngày, 月 tháng) và phía trước có các từ định lượng hoặc từ bất định lượng như ―三年 3 năm‖, ―数日 số ngày‖; hoặc biểu thị sự nhanh chậm, như ―一会儿 một lát, 好久 lâu rồi, dài, 、久 lâu… Việc đưa ra thuật ngữ ―thời điểm‖ và ―thời đoạn‖ mang nhiều ý nghĩa, đặt nền móng nghiên cứu sâu hơn về thời điểm và thời đoạn cho các học giả và có đóng góp quan trọng tiên phong đối với việc nghiên cứu từ chỉ thời gian. Trong cuốn ―Ngữ pháp Hán ngữ hiện đại giảng giải‖ đã chia từ chỉ thời gian thành hai loại là thời điểm và thời đoạn, đồng thời đã định nghĩa rõ ràng cho thời điểm và thời đoạn từ góc độ ý nghĩa: ―Từ thời gian có 2 loại. Một loại biểu thị lúc nào, ‗ví dụ như: 一九五四年(năm 1954), 昨天(hôm qua),星期六下午(chiều thứ 7)…‘ để nói vị trí thời gian, sự sớm muộn của thời gian, đây gọi là ‗thời điểm‘.
Một loại biểu thị thời gian bao nhiêu, như „五年(5 năm), 三年(3 năm)… để nói độ dài ngắn của thời gian, sự tạm thời hay dài hạn của thời gian, đây gọi là ‗thời đoạn‘. Trong cuốn ―Ngữ pháp giảng nghĩa‖ của Châu Đức Hi cũng nói đến vấn đề thời điểm và thời đoạn: ― ‗今天(ngày nay), 星期一(thứ 2)‟ thể hiện ‗thời điểm‘ , tức là vị trí thời gian, sự sớm muộn của thời gian. ‗一会儿(một lúc),半天 (nửa ngày),两个(2 tiếng), 两个月(2 tháng)‘ biểu thị thời lượng, tức độ dài ngắn của thời gian.3 Khái quát ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt Khác với tiếng Hán, trong tiếng Việt tất cả các loại ý nghĩa thời gian hữu quan ( thời, thời điểm, thời đoạn, tần số) đều được biểu hiện bằng các biểu thức thời gian độc lập. Các biểu thức thời gian này hoặc tồn tại như các đơn vị từ vựng (hôm qua, 12 hôm nay, bây giờ.) hoặc được tạo thành tự do trong lời nói như là các ngữ (vào mùa xuân, vào tháng ba.) liên hợp (ngày 25 tháng 4 năm 1991.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về từ ngữ chỉ thời gian Trong sự nhận thức về thời gian, người Việt thường sử dụng từ để biểu thị các khoảng thời gian ngắn như: khắc, canh, giây, phút, giờ, …đến những từ chỉ các khoảng thời gian dài như: năm, thập kỷ, thế kỷ, ….
Đó là những từ chỉ thời gian. Tuy nhiên, việc phân loại từ chỉ thời gian hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về kết quả phân loại và thuật ngữ để gọi tên. Sau đây là một số quan điểm nổi bật của các tác giả về từ chỉ thời gian; 1.1 Quan điểm chia từ chỉ thời gian gồm 2 loại: danh từ và phụ từ (phó từ) Với các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt tập 2), từ chỉ thời gian gồm có hai loại: danh từ và phụ từ (phó từ). Cụ thể như sau: Quan niệm của tác giả Nguyễn Kim Thản: Danh từ chỉ thời gian là một nhóm nhỏ thuộc lớp danh từ không chỉ cá thể.
Có các danh từ chỉ thời gian như sau: khi, hồi, lúc, …. Đặc điểm là bao giờ chúng cũng được đặt trực tiếp sau số từ. Phó từ chỉ thời gian gồm: sẽ, đã, từng, có, vừa, mới, rồi, vẫn, còn, lại, sắp, …là những phó từ có tác dụng làm dấu hiệu thời gian. [23, tr 318] Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban (trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2): Danh từ đơn vị thời gian: Bao gồm danh từ chỉ đơn vị thời gian xác định và danh từ chỉ khoảng thời gian không xác định: thiên niên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm, tháng, tuần, ngày, giờ, phút, giây, …; dạo, khi, hồi, lúc, chốc, hôm, vụ, mùa.
Trong số những danh từ chỉ khoảng thời gian không xác định, có những từ thường không xuất hiện trực tiếp sau số từ số đếm xác định. Những từ này chỉ đứng sau ―những, một‖ (với ý nghĩa phiếm định) và ―một, đôi‖ (phiếm định), nhưng tuyệt đại đa số đứng trước các từ chỉ định ―ấy, nọ, này‖ [2, tr 30] Phụ từ: 13 Nhóm từ chỉ cách thức diễn ra trong thời gian của hoạt động, trạng thái gồm có: -Ý chỉ tính chất cấp thời như: ngay, liền, tức khắc, tức thì, … và tính chất không cấp thời như: dần, dần dần, từ từ, … -Ý chỉ sự duy trì trong thời gian như: nữa, hoài, luôn, mãi, …. Quan điểm chia từ chỉ thời gian thành 2 loại: thực từ và hƣ từ. Theo quan điểm của các tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung [2, tr 34], hệ thống từ loại tiếng Việt có thể phân chia thành hai mảng lớn: thực từ và hư từ.
Thực từ gồm: danh từ, động từ, đại từ. Trong đó: - Danh từ chỉ ý nghĩa sự vật là thời gian: hồi, dạo, buổi, vụ, mùa. - Động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, thôi hết, …. - Đại từ: + Đại từ xác chỉ thời gian: bây giờ, giờ, bấy giờ, bấy, nãy, ….
+ Đại từ phiếm chỉ thời gian: bao lâu, bao giờ, …. - Hư từ gồm: phó từ và kết từ. Trong đó: + Phó từ chỉ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, sắp, …. Phó từ chỉ thời gian chỉ quan hệ về thời gian với quá trình hay đặc trưng trong cách phản ánh của tư duy.
Quan hệ thời gian được xác định theo một điểm mốc tương ứng với thời điểm thực tại, hoặc tương ứng với thời điểm phản ánh, hoặc tương ứng với thời gian giữa các quá trình hay các đặc trưng. Phó từ chỉ thời gian còn xác định tính hiện thực hoặc phi hiện thực của hành động, trạng thái, tính chất theo quan hệ thời gian. Qua quá trình khảo sát những quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về từ chỉ thời gian, người viết nhận thấy rằng, các tác giả có sự trình bày và phân loại một cách cụ thể, rõ ràng và có tính hệ thống. Tuy nhiên, có trường hợp, cùng một tác giả nhưng ở hai công trình khác nhau lại đưa ra những quan điểm không giống nhau.
Đó là trường hợp của tác giả Diệp 14 Quang Ban trong hai quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1‖ và ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2‖. Ở quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 1‖, ông phân từ chỉ thời gian làm 4 loại. Ở quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2‖, ông lại phân từ chỉ thời gian thành 2 loại Về tiêu chí phân loại: cùng một từ, nhưng các tác giả lại xếp vào các từ loại khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp từ ―đã‖, ―đang‖, thì có tác giả lại xếp vào lớp động từ chỉ thời gian (Hữu Đạt), có tác giả lại xếp vào lớp phó từ (hay phụ từ) chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Hữu Ngọc).
Ngoài ra, việc gọi tên cũng chưa có sự thống nhất giữa các tác giả. Cùng một từ chỉ thời gian nhưng một số tác giả gọi là phụ từ chỉ thời gian (Lê Biên, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt -tập 2), Nguyễn Đức Dân (Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn). Một số tác giả khác lại gọi là phó từ chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Hữu Quỳnh). Cũng có trường hợp như ở tác giả Diệp Quang Ban, ông vẫn chưa có sự thống nhất trong việc gọi tên.
Chẳng hạn, trong cuốn ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 1‖, ông gọi là phó từ, đến quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2‖, ông lại gọi là phụ từ. Như vậy, qua việc phân loại về từ chỉ thời gian chúng ta thấy vẫn còn khá phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa các nhà ngôn ngữ học Việt Nam.