Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Trần Thanh Hùng (Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn của TS. Đoàn Văn Điều, tập trung vào đề tài "Khảo sát mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của các giáo viên mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh".
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng vào những năm cuối thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển, vấn đề xúc cảm và giáo dục xúc cảm cho con người—đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên—đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà tâm lý học và xã hội học. Quan niệm truyền thống về trí tuệ thường chỉ tập trung vào khía cạnh nhận thức lý tính mà xem nhẹ vai trò của xúc cảm trong việc hoàn thiện nhân cách và quyết định sự thành đạt xã hội. Tại Việt Nam, khái niệm trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence - EI) bắt đầu được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong việc hình thành và giáo dục xúc cảm cho trẻ em ngay từ lứa tuổi mầm non. Xúc cảm là nền tảng cốt lõi hình thành tình cảm, đạo đức và nhân cách con người. Quá trình giáo dục xúc cảm ở trường mầm non diễn ra thông qua các hoạt động phong phú như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi dân gian, đóng kịch, trò chơi học tập, lao động tự phục vụ và hoạt động ngoại khóa. Người giáo viên mầm non giữ vai trò định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động này. Do đó, để giáo dục xúc cảm và hình thành trí tuệ cảm xúc cho trẻ đạt hiệu quả, bản thân người giáo viên mầm non phải có năng lực trí tuệ cảm xúc vững vàng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các mức độ của một số biểu hiện năng lực trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về trí tuệ xúc cảm.
- Tìm hiểu mức độ khả năng nhận biết và thấu hiểu được các cảm xúc của bản thân ở các giáo viên mầm non.
- Tìm hiểu mức độ khả năng phản ứng một cách độc lập đối với các xúc cảm của bản thân ở các giáo viên mầm non.
- Tìm hiểu giáo viên mầm non thường là những người sống hướng nội hay hướng ngoại.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường mức độ trí tuệ cảm xúc.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc.
- Khách thể nghiên cứu: Các giáo viên mầm non đang công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giả thuyết nghiên cứu: Phần lớn các giáo viên mầm non có khả năng cao trong việc phản ứng lại trước những cảm xúc của mình một cách độc lập mà không bị chi phối bởi những cá nhân khác. Môi trường giáo dục mầm non đòi hỏi giáo viên phải tự tin vào khả năng cảm hóa trẻ bằng các tác động sư phạm và biểu hiện xúc cảm tương ứng; sự tự tin này là yếu tố quyết định khả năng độc lập biểu hiện phản ứng xúc cảm.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: Về mặt không gian và dung lượng mẫu, đề tài tập trung khảo sát trên địa bàn Quận Tân Bình (38 giáo viên) và Quận Thủ Đức (35 giáo viên) với tổng số khách thể khảo sát thực tế là 73 giáo viên mầm non. Về mặt nội dung, đề tài giới hạn tìm hiểu một số biểu hiện trọng tâm của trí tuệ cảm xúc gồm: khả năng nhận biết và thấu hiểu xúc cảm bản thân; khả năng làm chủ xúc cảm và phản ứng độc lập; xu hướng biểu hiện cách sống hướng nội hay hướng ngoại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc đối chiếu các trường phái tâm lý học về trí tuệ và cảm xúc:
Về lý thuyết trí tuệ: Tác giả phân tích tiến trình từ quan niệm truyền thống (Francis Galton năm 1869 khởi xướng nghiên cứu duy vật khách quan về hoạt động não bộ và hệ thần kinh; Alfred Binet năm 1905; William Stern với quan niệm trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân trước điều kiện mới) đến quan niệm hiện đại. Quan niệm hiện đại gồm mô hình tổng thể các đơn vị chức năng của David Wechsler (1956), Thuyết Ba nhân tố trí tuệ (Triarchic Theory of Intelligence, 1986) của Robert Sternberg (trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo, trí tuệ ngữ cảnh), Thuyết Đa trí tuệ (1984) của Howard Gardner (8 loại trí tuệ), và lý thuyết Trí tuệ xã hội (Social Intelligence - SI).
Về khái niệm cảm xúc: Tác giả dẫn chiếu định nghĩa từ Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng), Random House Dictionary, Nguyễn Khắc Viện, và John D. Mayer. Cảm xúc được xác định là một quá trình tâm lý có tính chất nhất thời, nảy sinh trong tình huống nhất định thông qua các rung động tâm lý phản ánh mối liên hệ giữa kích thích với nhu cầu của chủ thể.
Về trí tuệ cảm xúc và các mô hình cấu trúc:
- Mô hình năng lực tâm thần thuần túy (Mental ability models): Peter Salovey và John D. Mayer (1990) định nghĩa trí tuệ cảm xúc gồm 5 thành tố (nhận biết cảm xúc bản thân; phát hiện và đặt tên cảm xúc; thấu cảm/đồng cảm; ra quyết định cân bằng lý trí - cảm xúc; quản lý các mối quan hệ người - người); Boyatzis (1999); Edward De Bono (trí tuệ trực giác, linh cảm, phi logic).
- Mô hình hỗn hợp (Mixed models): Reuven Bar-On (1995, 1997) đưa ra chỉ số EQ (Emotional Quotient) dựa trên tổ hợp năng lực phi nhận thức và kỹ năng ứng phó sức ép; Daniel Goleman (1995, 1997, 2001) với cấu trúc ma trận 2x2 gồm Năng lực cá nhân (nhận biết mình, tự kiểm soát/quản lý mình) và Năng lực xã hội (nhận biết quan hệ xã hội, quản lý/điều khiển quan hệ); H. Steve (1996).
- Cơ chế vận hành: Sơ đồ tiến trình cảm xúc của L.S. Greenberg (Kích thích $\rightarrow$ Chú ý $\rightarrow$ Pha trộn cảm xúc $\rightarrow$ Xu hướng hành động $\rightarrow$ Hành vi / Suy nghĩ).
- Các nghiên cứu trong nước: Tác phẩm của Ngô Công Hoàn, Dương Thị Hoàng Yến, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Quang Uẩn và Đỗ Thu Hiền.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, khái quát hóa các công trình, tài liệu chuyên ngành tâm lý học.
- Phương pháp điều tra bằng trắc nghiệm: Sử dụng các bài test trích từ tác phẩm "Self-scoring Emotional Intelligence tests" của tác giả Mark Daniel thuộc Hội Tâm lý học MENSA (Hoa Kỳ), được Việt hóa:
- Test "Are you emotionally literate?" (Khả năng nhận biết và thấu hiểu cảm xúc bản thân): Gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm tình huống, mỗi câu tính điểm từ 1 đến 3 (thang điểm dao động từ 12 đến 36 điểm).
- Test "Are you independent?" (Khả năng phản ứng độc lập đối với các cảm xúc bản thân): Gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm tình huống, thang điểm từ 12 đến 36 điểm.
- Test "Are you extrovert or introvert?" (Xu hướng sống hướng nội hay hướng ngoại).
- Phương pháp trò chuyện (phỏng vấn sâu): Sử dụng bảng câu hỏi vấn đáp gồm 10 nội dung phỏng vấn trực tiếp giáo viên về trải nghiệm xúc cảm, phản ứng khi trẻ chống đối/không nghe lời, áp lực công việc, sự ảnh hưởng từ đồng nghiệp và các biện pháp thấu hiểu tâm lý trẻ mầm non.
- Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu, tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), và kiểm định mối liên hệ độc lập Chi-square ($\chi^2$).
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực nghiệm thu thập từ mẫu khảo sát 73 giáo viên mầm non tại Quận Tân Bình (n = 38) và Quận Thủ Đức (n = 35), TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu trí tuệ từ cách tiếp cận thần bí thời cổ đại đến các lý thuyết tâm lý học thế kỷ XIX–XX. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ quan niệm truyền thống (đồng nhất trí tuệ với tư duy trừu tượng hoặc khả năng học tập) sang quan niệm hiện đại (trí tuệ thích ứng, đa trí tuệ, trí tuệ xã hội). Chương này cũng điểm lại mốc thời gian xuất hiện thuật ngữ "Emotional Intelligence" từ luận văn năm 1985 tại Mỹ, các công trình học thuật nền tảng của Salovey và Mayer (1990), tác phẩm phổ biến của Daniel Goleman (1995), trắc nghiệm EQ của Bar-On (1997), cùng các công trình nghiên cứu tâm lý học trong nước tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: trí tuệ, cảm xúc và trí tuệ cảm xúc. Tác giả phân tích sâu hai nhóm quan điểm lớn về cấu trúc trí tuệ cảm xúc (mô hình thuần năng lực tinh thần và mô hình hỗn hợp), đồng thời phân tích 4 biểu hiện cốt lõi: khả năng nhận biết/đánh giá cảm xúc bản thân; khả năng nhận biết/đánh giá cảm xúc người khác (thấu cảm); khả năng điều chỉnh cảm xúc bản thân và người khác; năng lực sử dụng cảm xúc để định hướng hành động. Tiếp đó, tác giả luận giải vai trò của cảm xúc đối với nhận thức (là động lực và là người hướng đạo) cùng 5 chức năng cơ bản theo L.S. Greenberg: cung cấp thông tin, sắp xếp hành động, xác định bản chất quan hệ xã hội, làm nổi bật sự thông minh và đem lại ý nghĩa cho đời sống.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu thập từ 73 giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh qua các phương pháp trắc nghiệm và thống kê toán học:
- Khảo sát mức độ nhận biết và thấu hiểu cảm xúc bản thân (Trắc nghiệm 12 câu, thang điểm 12–36):
- Điểm trung bình toàn mẫu đạt $\bar{X} = 23,32$ với độ lệch chuẩn $SD = 2,49$.
- Phân loại mức độ: Mức trung bình chiếm ưu thế tuyệt đối với 64 giáo viên (87,7%); mức thấp có 7 giáo viên (9,6%); mức cao chỉ có 2 giáo viên (2,7%).
- Tương quan nhân khẩu học:
- Theo lứa tuổi: Điểm trung bình cao nhất ở nhóm 20–25 tuổi ($\bar{X} = 24,00$, gồm 2 giáo viên đạt điểm cao nhất 28 điểm); nhóm 30–35 tuổi đạt $\bar{X} = 23,69$; nhóm 25–30 tuổi đạt $\bar{X} = 23,12$; nhóm trên 35 tuổi đạt $\bar{X} = 22,84$. Kiểm định $\chi^2$ cho thấy mức độ nhận biết cảm xúc bản thân độc lập với lứa tuổi.
- Theo thâm niên công tác: Nhóm 1–3 năm có điểm trung bình cao nhất ($\bar{X} = 23,74$, có 2 giáo viên đạt 28 điểm); nhóm 4–6 năm đạt $\bar{X} = 23,55$; nhóm 7–9 năm đạt $\bar{X} = 23,19$; nhóm trên 10 năm đạt $\bar{X} = 23,00$. Kiểm định $\chi^2$ khẳng định mức độ biểu hiện độc lập với thâm niên nghề nghiệp.
- Theo trình độ chuyên môn: Giáo viên có trình độ Cao đẳng (n = 12) đạt điểm trung bình $\bar{X} = 24,00$ ($SD = 2,40$), trong đó 16,7% (2 giáo viên) đạt loại cao và 66,7% đạt loại trung bình. Giáo viên trình độ Trung học/Trung cấp (n = 61) có điểm trung bình $\bar{X} = 23,18$ ($SD = 2,95$), với 91,8% đạt loại trung bình và không có giáo viên nào đạt loại cao. Kiểm định $\chi^2$ cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ chuyên môn và năng lực nhận biết, thấu hiểu cảm xúc bản thân.
- Theo địa bàn cư trú: Giáo viên Quận Tân Bình đạt điểm trung bình cao hơn Quận Thủ Đức gần 1 điểm (cả 2 cá nhân đạt mức cao đều thuộc Tân Bình). Tuy nhiên, kiểm định $\chi^2$ xác nhận mức độ biểu hiện độc lập với địa bàn khảo sát.
- Khảo sát khả năng phản ứng một cách độc lập đối với các cảm xúc bản thân (Trắc nghiệm tình huống):
Kết quả ghi nhận qua các tình huống trắc nghiệm cho thấy xu hướng phản ứng độc lập và khả năng kiểm soát cảm xúc của giáo viên:
- Tình huống đám đông reo hò ủng hộ bài diễn văn: 40 giáo viên chọn mua bản in về nhà đọc để xem xét cẩn trọng (54,8%), 20 giáo viên tự đồng tình (27,4%), 13 giáo viên reo hò theo đám đông (17,8%).
- Tình huống sử dụng điện thoại lúc nghỉ ngơi: 38 giáo viên hiếm khi tắt nguồn vì nhu cầu sử dụng (52,1%), 26 giáo viên thường xuyên tắt nguồn/gác máy khi nghỉ ngơi hoặc ở nhà hàng (35,6%), 9 giáo viên không bao giờ tắt (12,3%).
- Tình huống thức ăn nhà hàng bị nguội/quá mặn: 62 giáo viên gọi phục vụ lại và nhã nhặn yêu cầu đổi món khác (84,9%), 7 giáo viên im lặng không nói được gì (9,6%), 4 giáo viên im lặng ăn xong rồi đòi giảm giá (5,5%).
- Tình huống buổi tối yên tĩnh: 35 giáo viên cảm thấy vui thú, là dịp tĩnh tâm nạp lại năng lượng (47,9%), 31 giáo viên cảm thấy không chịu nổi và bị hụt hẫng (42,5%), 7 giáo viên không chịu đựng được nếu thiếu radio, tivi hay điện thoại (9,6%).
- Khảo sát xu hướng sống hướng nội hay hướng ngoại: Đánh giá định lượng xu hướng tính cách và phong cách giao tiếp sư phạm của giáo viên trong môi trường giáo dục mầm non.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng tổng hợp về trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non:
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm khách thể |
Số lượng (n) |
Điểm trung bình ($\bar{X}$) |
Tỷ lệ xếp loại Cao (%) |
Tỷ lệ xếp loại Trung bình (%) |
Tỷ lệ xếp loại Thấp (%) |
| Toàn bộ mẫu khảo sát |
Chung toàn mẫu |
73 |
23,32 |
2,7% (2 GV) |
87,7% (64 GV) |
9,6% (7 GV) |
| Trình độ chuyên môn |
Cao đẳng |
12 |
24,00 |
16,7% (2 GV) |
66,7% (8 GV) |
16,7% (2 GV) |
|
Trung học / Trung cấp |
61 |
23,18 |
0,0% (0 GV) |
91,8% (56 GV) |
8,2% (5 GV) |
| Lứa tuổi |
20 – 25 tuổi |
18 |
24,00 |
11,1% (2 GV) |
77,8% (14 GV) |
11,1% (2 GV) |
|
25 – 30 tuổi |
17 |
23,12 |
0,0% (0 GV) |
94,1% (16 GV) |
5,9% (1 GV) |
|
30 – 35 tuổi |
13 |
23,69 |
0,0% (0 GV) |
100,0% (13 GV) |
0,0% (0 GV) |
|
Trên 35 tuổi |
25 |
22,84 |
0,0% (0 GV) |
84,0% (21 GV) |
16,0% (4 GV) |
| Thâm niên nghề nghiệp |
1 – 3 năm |
19 |
23,74 |
10,5% (2 GV) |
78,9% (15 GV) |
10,5% (2 GV) |
|
4 – 6 năm |
11 |
23,55 |
0,0% (0 GV) |
90,9% (10 GV) |
9,1% (1 GV) |
|
7 – 9 năm |
16 |
23,19 |
0,0% (0 GV) |
93,8% (15 GV) |
6,3% (1 GV) |
|
Trên 10 năm |
27 |
23,00 |
0,0% (0 GV) |
92,6% (25 GV) |
7,4% (2 GV) |
| Địa bàn công tác |
Quận Tân Bình |
38 |
23,76 |
5,3% (2 GV) |
89,5% (34 GV) |
5,3% (2 GV) |
|
Quận Thủ Đức |
35 |
22,86 |
0,0% (0 GV) |
85,7% (30 GV) |
14,3% (5 GV) |
Các đóng góp chính được ghi nhận từ kết quả nghiên cứu:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm đầu tiên về mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của đội ngũ giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra rằng phần lớn giáo viên mầm non (87,7%) có khả năng nhận biết và thấu hiểu cảm xúc ở mức trung bình; họ luôn nỗ lực làm chủ cảm xúc bản thân dù đôi khi còn cứng nhắc hoặc lúng túng trong một số tình huống sư phạm.
- Chứng minh bằng kiểm định thống kê mối liên hệ thuận giữa trình độ đào tạo chuyên môn với năng lực trí tuệ cảm xúc: nhóm giáo viên trình độ cao đẳng có điểm trung bình cao hơn và chiếm toàn bộ các trường hợp đạt xếp loại cao.
- Làm rõ tính độc lập giữa mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc với các yếu tố lứa tuổi, thâm niên công tác và địa bàn cư trú.
- Đề xuất định hướng bồi dưỡng tâm lý học sư phạm, chú trọng rèn luyện kỹ năng nhận thức và làm chủ cảm xúc cho giáo viên mầm non trong quá trình đào tạo và đào tạo lại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Giới hạn về nguồn lực và thời gian: Mẫu khảo sát dừng lại ở quy mô 73 giáo viên mầm non tại 2 quận (Tân Bình và Thủ Đức), chưa bao quát toàn bộ các cơ sở giáo dục mầm non trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công cụ đo lường: Đề tài chủ yếu sử dụng các bài trắc nghiệm tự đánh giá (Self-scoring Tests) của tổ chức Mensa được Việt hóa, chưa phối hợp sâu với các thang đo chuẩn hóa quốc tế đa chiều khác về trí tuệ cảm xúc.
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng quy mô và phạm vi mẫu khảo sát trên nhiều quận/huyện và các loại hình trường mầm non (công lập, tư thục, quốc tế).
- Kết hợp phân tích sâu hơn dữ liệu định tính từ các biên bản phỏng vấn trực tiếp giáo viên về các tình huống ứng xử với trẻ cá biệt, trẻ khó hòa nhập.
- Xây dựng và thử nghiệm thực nghiệm các chương trình tập huấn, can thiệp tâm lý nhằm nâng cao chỉ số trí tuệ cảm xúc cho giáo viên mầm non.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Giáo dục Mầm non: Tham khảo khung lý luận tổng quan về lịch sử nghiên cứu trí tuệ cảm xúc (từ Salovey, Mayer, Goleman, Bar-On đến Greenberg), phương pháp thiết kế công cụ đo lường và quy trình xử lý số liệu bằng SPSS.
- Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non và giảng viên đào tạo giáo viên: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ thực tiễn để xây dựng chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng làm chủ xúc cảm và ứng phó áp lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non.
- Người làm đề tài nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc: Tham khảo bảng câu hỏi đàm thoại 10 câu hỏi tình huống sư phạm mầm non và hệ thống trắc nghiệm tình huống thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát trên 73 giáo viên mầm non cho thấy mức độ nhận biết và thấu hiểu cảm xúc bản thân tập trung ở mức nào?
Phần lớn giáo viên mầm non đạt mức trung bình với 64 người (chiếm tỷ lệ 87,7%). Tỷ lệ đạt mức cao rất thấp, chỉ có 2 người (chiếm 2,7%), và mức thấp có 7 người (chiếm 9,6%). Điểm số trung bình toàn mẫu là 23,32 trên thang điểm tối đa 36.
2. Trình độ chuyên môn có ảnh hưởng đến khả năng nhận biết cảm xúc của giáo viên mầm non hay không?
Có. Kiểm định thống kê $\chi^2$ cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa giữa trình độ chuyên môn và năng lực nhận biết cảm xúc. Nhóm giáo viên có trình độ Cao đẳng đạt điểm trung bình 24,00 điểm (có 16,7% đạt loại cao), trong khi nhóm trình độ Trung học chỉ đạt điểm trung bình 23,18 điểm (91,8% ở mức trung bình và không có cá nhân nào đạt mức cao).
3. Lứa tuổi và thâm niên công tác có quyết định mức độ trí tuệ cảm xúc của giáo viên không?
Không. Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy mức độ nhận biết và thấu hiểu cảm xúc của giáo viên mầm non độc lập với lứa tuổi và thâm niên nghề nghiệp. Nhóm giáo viên trẻ tuổi (20–25 tuổi) và nhóm mới vào nghề (1–3 năm thâm niên) đạt điểm trung bình nhỉnh hơn ($\bar{X} = 24,00$ và $\bar{X} = 23,74$) so với nhóm có thâm niên trên 10 năm ($\bar{X} = 23,00$).
4. Đề tài đã sử dụng những công cụ trắc nghiệm cụ thể nào để đo lường trí tuệ cảm xúc?
Tác giả sử dụng các bài test trích từ tác phẩm "Self-scoring Emotional Intelligence tests" của Mark Daniel thuộc tổ chức MENSA (Hoa Kỳ) gồm 3 bài: "Are you emotionally literate?" (đo khả năng nhận biết/thấu hiểu cảm xúc bản thân), "Are you independent?" (đo khả năng phản ứng độc lập trước cảm xúc), và "Are you extrovert or introvert?" (đo xu hướng sống hướng nội hay hướng ngoại).
5. Khi đối diện với tình huống bất như ý trong đời sống (như thức ăn nhà hàng quá mặn hoặc nguội), đa số giáo viên mầm non phản ứng ra sao?
Theo kết quả khảo sát tình huống số 6 ở trắc nghiệm tính độc lập cảm xúc, có 62/73 giáo viên (chiếm 84,9%) lựa chọn cách xử lý điềm tĩnh, làm chủ cảm xúc bằng việc gọi người phục vụ lại và nhã nhặn yêu cầu đổi phần thức ăn khác; chỉ có 9,6% không nói được gì và 5,5% giữ im lặng để đòi giảm giá.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thanh Hùng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc và tiến hành khảo sát thực nghiệm trên 73 giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu xác định phần lớn giáo viên đạt mức độ trí tuệ cảm xúc trung bình ($87,7%$), có khả năng phản ứng độc lập và kiểm soát cảm xúc tốt trong các tình huống ứng xử. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định trình độ đào tạo chuyên môn là yếu tố có mối liên hệ mật thiết với năng lực cảm xúc của giáo viên, trong khi lứa tuổi và thâm niên không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.