CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU I. Trí thông minh là một trong những mặt cơ bản, nhân lõi của đời sống tâm lý con người, đã từ lâu được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Nó không phải là một thuộc tính cá nhân có thể quan sát được một cách trực tiếp như chiều cao hay cân nặng cuả một người mà được đo đạc trên cơ sở những thông tin gián tiếp thu nhận qua những phương pháp nhất định. Mỗi phương pháp đo đạc trí tuệ được xây dựng trên cơ sở quan niệm lý thuyết về bản chất , cấu trúc cũng như biểu hiện cuả nó.
Có thể tóm tắt các lý thuyết về trí tuệ thành 2 quan niệm chính yếu sau: 1.1 Trí thông minh theo quan niệm truyền thống Thời xa xưa, con người chưa hiểu biết mấy về trí tuệ của mình, do đó họ xem nó như là một năng lực tinh than và đã gán cho nó tính chất thần bí, siêu nhiên. Cái năng lực tỉnh thần ấy, lúc bấy giờ chưa được hiểu về bản chất, đã được ám chỉ một cách mơ hề, thấp thoáng trong các câu nói nổi tiếng như: “Hay tự biết minh” (Socrates); “T6i tư duy, vậy là tôi tổn tại” (Descartes). Nhìn chung, trước đây người ta chưa có định nghĩa rõ ràng về "trí tuệ”, chỉ phân biệt các bộ phận riêng biệt của tâm lý gồm: lí trí, ý chí và tình cảm. Khi khoa học Tâm lý ra đời thì quan niệm về trí thông minh cũng như phương pháp đo đạc nó theo hướng khách quan đã làm cho người ta ngày càng thấy rõ bản chất của trí tuệ.
Vào năm 1869, Francis Galton với tác phẩm “Su đi truyền cud tài năng " đã khởi xướng xu thế nghiên cứu trí tuệ con người một cách thực sự duy vật và khách quan khi ông bộc lộ quan điểm cho rằng : 0í tuệ liên quan đến não không 6 phải theo kiểu gan tiết ra mật mà nó liên quan đến hoạt động cud não bộ. hệ thống thân kinh và các giác quan, cụ thể là liên quan đến tốc độ tiếp nhận, xử lý và đáp ng cud con người đối với kích thích từ môi trường lên não bộ. [11,12] Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nhà tâm lý học ý thức được rằng giưã trí tuệ, học tập và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Họ cho rằng, mỗi người đều phải học tập để bảo toàn cơ thể, để phát triển nhân cách, để khẳng định mình trong xã hội và để phát triển như một thực thể tinh than.
Họ cũng có quan niệm như trên khi dé cập đến chức năng của trí tuệ. Vì thế, “ Trí thông mình là năng lực học tập” được nói đến là chuyện bình thường. Tuy nhiên, nhiều công trình thực nghiệm đã chỉ ra rằng : trí thông minh và học tập là không đồng nhất với nhau mà chỉ có mối quan hệ chặt chẽ mà thôi. Nhìn nhận tư duy là biểu hiện cuẩ tính tích cực, tạo ra hình ảnh về thế giới khách quan và bản thân, các nhà tâm lý học như N.
coi trí tuệ là năng lực tư duy, tức là khả năng sử dụng có hiệu quả các thao tác tự duy để giải quyết những vấn đề đặt ra. Theo cách hiểu thứ hai này thì chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm và các kí hiệu tượng trưng .Stern, nha tâm lý học Đức, thưà nhận trí tuệ người là năng lực chung thống nhất đã cho chúng ta một cái nhìn khác : “Trí tuệ là năng lực chung của một cá nhân biết đặt tu duy của minh mot cách có ý thức vào những yêu cầu mới. Đây là năng lực thích ứng tinh thần chung đốt với nhiệm vụ và điều kiện mới của đời sống. Quan điểm này coi tri tuệ là năng lực thích ứng - thích nghỉ cud cá nhân.
Đây được xem là quan niệm khá phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Bởi lẽ, chúng ta không thể xem xét trí tuệ bên ngoài sự tác động qua lại của cú nhân với môi trường xung quanh. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng : sự tác động qua lại này của cá nhân không phải là một sự thích nghỉ đơn gián mà là mọt vự tích cực mang tính tích cực. luôn vận động biến đối không nuững và chịu su chỉ phối bởi nhiều yếu tố.
các quan điểm cơ bản trên đây trong vấn đẻ nghiên cứu về trí tuệ là không loại trừ lẫn nhau. Mỗi quan điểm đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó được cho là quan trọng nhất. Thế nhưng, không một định nghĩa nào ở trên chứa đựng được hết bản chất của trí tuệ con người. Ngày nay, các nhà khoa học nghiên cứu về trí tuệ có xu hướng cho rằng : con người ta có nhiều loại trí tuệ.
Một người có thể kém về trí tuệ loại này nhưng lai xuất sắc về trí tuệ loại khác. các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách tiếp cân mới về vấn dé trí tuệ người. Đây chính là cơ sở để hình thành nên một quan niệm mới về trí tuệ, khác xa với quan niệm truyền thống mà chúng ta đã đề cap ở trên.2 Trí tuệ theo quan niệm hiện đại Chính sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá vào những năm cuối thế kí XX đã làm cho các nhà tâm lý học nhận ra rằng : trí tuệ không phải là một cơ cấu khép kín, không thay đổi và chỉ mang tính bẩm sinh di truyền. Trí tuệ cud con người không phải chỉ thể hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ mang tính hàn lâm, mà còn thể hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ trong cuộc song hằng ngày.
nó là kết quả tương tác cud con người với môi trường sống, đồng thời cũng là tiền dé cho sự tương tác ấy. Trí tuệ theo nghĩa này được biểu thị bởi thuật ngữ tiếng Anh “sự thông thái ”. Theo quan niệm mới này, các nhà tâm lý học đương dai đã không ngừng nghiên cứu để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện nhất về trí tuệ con người. Wechsler (1956) cho rằng : trí tuệ là một tổng thể cua nhiều đơn vị chức năng trí tuệ.
song không phải đơn thuần là tổng số các khả năng, mà là kết quả của sự phối hợp các khả năng đó. Các chức năng này khác nhau và có thể đo được. ông cũng thưà nhận rằng : trí tuệ của cá nhân cũng phụ thuộc vào các điều kiện văn hoá xã hội, môi trường cá nhân sinh ra và lớn lên. Theo Robert Sternberg, trong thuyết “Ba nhân tốtrí tuệ” (Triarchic theory of intelligence_ 1986), trí tuệ tổn tại dưới ba dạng : khả năng phân tích (tri tuệ phân tích), khá năng sáng tạo (trí tuệ sáng tạo), và khả năng hành động (trí tuệ ngữ cảnh).
Ông cho rằng có một số người phát triển tốt cả ba khả năng, số khác chỉ phát triển tốt ở một hoặc hai mặt. Chính vì thế, những học sinh khác nhau sẽ biểu hiện khác nhau về khả năng trong các lĩnh vực khác nhau nơi nhà trường. [II] Kế thưà và phát triển các quan điểm trên, Howard Gardner (1984) cho rằng trí tuệ người có 8 loại : trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic-toán, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ về bản thân, trí tuệ về người khác, trí tuệ không gian, trí tuệ vận động-cơ thể, trí tuệ tự nhiên. theo quan niệm mới, sự thông thái là kết qua tương tác của con người với môi trường sống, đặc biệt là môi trường xã hội.
Sống trong một cộng đồng với nhiều người khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, có sự thưà nhận và đánh giá đúng các chuẩn mực xã hội cũng như sự chuẩn đoán phù hợp về hành động cua người khác để từ đó tổ chức, đặt kếhoạch và quyết định về hành động cua mình. Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có một thành tố trí tuệ khác nua, ngoài trí thông minh và trí sáng tạo, đó là trí tuệ xã hội (Social Intelligence = SI) |4, 36]. Tri tuệ xã hội được xem là một dạng trí tuệ, được định nghĩa là : “ năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác. Nó diễn ra trong hoạt động cùng người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã hội nhất định".
Theo đó, trí tuệ xã hội được tạo nên bởi 3 thành tố : tự nhận thức về bản thân; năng lực xã hội (nhận thức, xúc cảm, vận động); trí tuệ xúc cảm. từ những phân tích trên đã cho chúng ta thấy rõ rằng, trong sự hình thành và phát triển trí tuệ cá nhân, vai trò ảnh hưởng của các yếu tốchủ thể như : xu hướng, hứng thú, nhu cầu, sự say mê, ý chi,. là không nhỏ, đặc biệt là yếu tố xúc cám của cá nhân. Các xúc cảm của con người mang tinh trí tuệ khi nó là động lực thúc đẩy hoặc kìm ham một hành động trí tuệ nào đó và là người hướng đạo cho hành động đó.
xúc cảm hau như ảnh hưởng đến moi mặt cuả đời sống con người. Càng ngày, các nhà tâm lý học càng đánh giá cao vai trò cud nó, đặc biệt từ những năm 90 của thế ki XX vừa qua, với sự chú ý rộng rãi khái niệm “ Trí tuệ cảm xúc ”. Vào năm 1985, một sinh viên theo học ngành khoa học xã hội nhân văn tại một trường Đại học cud Mỹ đã dé cập đến khái niệm “Emotional Intelligence” (rí tué xúc cảm) trong bài luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói, khái niệm “eri tué xúc cảm” bắt đầu xuất hiện từ lúc này.
[19] Sau đó, vào năm 1990, thuật ngữ “ Trí tuệ cảm xúc ” được hai nhà tâm lý học My là Peter Salovey (trường đại học Yale) và John Mayer (trường đại học New Hampshire) chính thức sử dụng trong công trình nghiên cứu của họ về lĩnh vực này trong 2 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành. Hai tác giả này cho rằng sở dĩ người này thành công hơn người kia là ở khả năng nhận ra và phân biệt những xúc cảm cua mình và cud người khác, từ đó có khả năng hay không trong việc giải quyết các vấn dé về xúc cảm [19]. Cũng trong năm 1990 này, hai tác gid John Mayer và Peter Salovey đã cho ra đời 2 bài trắc nghiệm có thể đo lường “í tuệ cảm xúc”. Tuy nhiên, do những nghiên cứu cua họ chỉ tiến hành trong phạm vi chuyên ngành nên tên tuổi cud họ rất ít người biết đến .