đặt vấn đề “Khảo sát sàng lọc tác dụng ức chế xơ gan của cao chiết và các phân đoạn chiết dược liệu trên gan chuột bị gây xơ bằng CCl4.” nhằm góp phần tìm và chứng minh tác dụng trị liệu của cây Râu mèo và cây Nghể vào việc phòng và ức chế bệnh xơ gan. Đề tài được thực hiện với mục tiêu cụ thể: - Chuẩn bị cao chiết và phân đoạn chiết từ dược liệu - Khảo sát sàng lọc tác dụng hạ enzym gan và ức chế xơ gan của cao chiết và phân đoạn dược liệu. 1 Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về thực vật học 2.
Cây Râu mèo Cây Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon aristatus (Blume. Thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) hay còn được gọi bằng những tên khác như: Orthosiphon gradiflorus (Blume.), Orthosiphon longiflorum (Ham.), Orthosiphon spiralis (Lous., Ocinum aristatus (Blume., Clerodendralthus spicatus (Thums.1: Cây Râu mèo Ở mỗi địa phương, mỗi vùng cây Râu mèo còn có tên gọi khác nhau. Ở Việt Nam cây Râu mèo còn được gọi là: bông bạc, é mùi, trứng hoang…. Đặc điểm hình thái thực vật Cây Râu mèo là cây thân thảo, sống lâu năm, cao 0,5 – 1 m.
Thân đứng ít phân nhánh, hình vuông, nhẵn hoặc ít lông. Ở một số chủng, cuống và gân chính có màu tía. Lá mọc đối, dài 4 – 6 cm, rộng 2,5 – 4 cm, cặp lá trước mọc thành hình chữ thập đối với cặp lá sau, gốc lá tròn, đầu nhọn, mép khía răng to, cuốn lá dài 3 – 4 cm. Cụm hoa tận cùng mọc thẳng, mọc thành chùm, màu hoa lúc non thì trắng, sau ngả sang màu tím, dài 8 – 10 cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa.
Hoa nở suốt mùa hè, quả nhỏ và nhẵn. Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhụy của hoa thò ra giống râu con mèo. [4] * Phân loại Cây Râu mèo thuộc chi Orthosiphon họ Hoa môi (Lamiaceae), là họ lớn nhất trong bộ Hoa môi, gồm hơn 200 chi và khoảng 3500 loài, phân bố ở khắp các vùng có khí hậu khác nhau trên thế giới nhưng đặc biệt nhiều ở Địa Trung Hải, Tiểu Á và Trung Á. [24] Sơ đồ hệ thống phân loại (Xem sơ đồ 2.1) 2 * Phân bố Chi Orthosiphon có khoảng 80 loài được phân bố rộng rãi ở Châu Á, Châu Phi.
Ở Việt Nam tác giả Phạm Hoàng Hộ đã xác định được 8 loài. [7] Cây Râu mèo mọc tự nhiên và phân bố Ngành Ngọc Lan (hạt kín) phổ biến ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như: Magnoliophyta Indonesia, Malaysia, Thái Lan. [7, 10] Tại thành phố Hồ Chí Minh, Râu mèo Lớp Ngọc Lan (2 lá mầm) Magnoliopsida được trồng nhiều ở Thủ Đức, một số vườn thuốc nam ở các quận huyện nội thành, các tỉnh đồng Phân lớp Cúc bằng sông Cửu Long cũng trồng rất nhiều. Ngoài ra, Râu mèo còn có ở các tỉnh miền núi như: Cao Bộ Hoa môi Bằng, Thanh Hóa, Hà Tây, Lâm Đồng, Phú Yên, Lamiales Phan Rang, Hà Nam …[7, 10] Họ Hoa môi * Bộ phận sử dụng Lamiaceae Cây Râu mèo được thu hái cả cây về làm thuốc, trừ phần rễ.
Dược liệu sau khi thu hái được Chi Orthosiphon ốn định bằng cách phơi hoặc sấy khô.1: Vị trí cây Râu mèo trong 2. Thành phần hóa học hệ thống phân loại Trong thân cây Râu mèo chứa nhiều nhóm hợp chất khác nhau: Các glucosid đắng, orthosiphonnin, saponin, alkaloid, tinh dầu, tannin, flavonoid, cholin, betain, alcol triterpen, acid hữu cơ như: tartaric, citric, acid glycolis, …[6, 8] • Saponin Saponin được tìm thấy trong thành phần của cây Râu mèo lần đầu tiên 1933 do P. Caparis và CH Fevrier.V và cộng sự đã tiến hành định lượng thành phần saponin. Kết quả cây Râu mèo chứa 4,5% saponin trong dịch chiết butanol.
3 Thành phần saponin trong cây Râu mèo được gọi tên là orthosiphonosides A, B, C, D, E có màu tím hồng với thuốc thử acid phosphotungstic ở nhiệt độ 105 – 1100C. [22] • Glucosid đắng Cây Râu mèo được Van Itallie nghiên cứu từ năm 1886, tác giả đã lấy ra một chất glucosid đắng gọi là orthosiphon chất này ít tan trong cồn và tan nhiều trong nước. Sau đó nhiều tác giả như A. Gruber (Đức), Lecdurg Krober (Đức) cũng tìm thấy thành phần này và thêm muối K+ trong cây Râu mèo, có ý kiến cho rằng đây là hoạt chất chính gây tác dụng lợi tiểu.
[1] • Các flavonoid Trong cây Râu mèo, thành phần hóa học được biết rõ nhất là flavonoid. 9 chất flavon ở dạng aglycon đã được phân lập từ cây Râu mèo, trong đó có chất Sinensetin chiếm hàm lượng lớn trong cây. Ngoài 9 flavon còn có 2 flavonoid glycoside kaempferol 3 – O – β glucosid và quercetin 3 – O – β glucosid.2: Khung của flavonoid Bảng 2.1: Các gốc hóa học trong các chất Flavonoid của cây Râu mèo Các dẫn xuất của Flavonoid R1 R2 R3 R4 1 H H3C H H 2 H H3C H CH3 3 H3C H H CH3 4 H3C H3C H H 5 H3C H3C H CH3 6 H H3C OH CH3 4 7 H H3C OH CH3 8 H3C H3C OH CH3 9 H3C H3C OCH3 CH3 Trong một nghiên cứu gần đây của tác giả Yasuhiro Tezuka làm trên đối tượng là cây Râu mèo tại Việt Nam đã tìm ra được 5 chất orthosiphon mới (Hình 2.3), ngoài ra còn có các staminolacton, nor – staminolacton mới cũng được tìm thấy.3: 5 chất orthosiphon mới • Các dẫn chất của acid caffeic Chủ yếu là các acid rosmarinic, acid cichoric… Acid rosmarinic Acid cichoric Hình 2.4: Các dẫn chất của acid caffeic 5 • Các diterpenoid Các orthosiphol, neo – orthosiphol, seco – orthosiphol; Các staminol, nor – staminol, nor – staminon; Các staminolacton, nor – staminolacton; Các siphonol (trong cây Râu mèo có đến hơn 50 chất thuộc nhóm này). Các thành phần khác như: betain, cholin, β - sitosterol.
Tác dụng dược lý • Tác dụng lợi tiểu Những nghiên cứu đầu tiên về dược lực đối với cây Râu mèo được thực hiện ở Pháp bởi Perinelle (1887), Lecbre và Decaux F. Sau này còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng dược lực và chỉ rõ tác dụng lợi tiểu của cây Râu mèo (đã được khẳng định ở Cuba). Đến năm 1926, Cây Râu mèo được đưa vào Dược điển Hà Lan rồi đến Dược điển Đức, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Pháp đưa vào năm 1965. Tuy nhiên thành phần gây tác dụng lợi tiểu chưa xác định rõ, nên vấn đề này các tác giả có nhiều ý kiến chưa thống nhất.E Maguire đã phân tích và xác định được chất của cây Râu mèo có ích trong y học.
Năm 1993 Shut và Zwaving đã nghiên cứu dược lý học của một số lipophilic flavonoid từ cây Râu mèo cho thấy thành phần sinensetin và hydroxil 5, 6, 7, 4 – tetramethoxiflavone thể hiện hoạt tính lợi tiểu nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn. [10] • Tác dụng ức chế khối u Theo nghiên cứu của Yasuhiro thì hầu hết các flavonoid và diterpenoid được tách ra từ cây Râu mèo có tác dụng độc đối với tế bào ung thư biểu mô gan chuột nhắt 26 – L5. [26] 6 • Tác dụng chống oxi hóa Trong một khảo sát mới đây trên một số cây thuốc ở Việt Nam cho thấy cây Râu mèo có hoạt tính chống oxi hóa mạnh. Các khảo sát đã sàng lọc in vitro hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan của 3 cao toàn phần methanol, n – butanol, EtOAc và 9 phân đoạn được tách từ cao toàn phần EtOAc đồng thời đối chiếu, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy cao EtOAc có tác dụng chống oxi hoá mạnh nhất và các phân đoạn hợp chất trong cao EtOAc có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.
[14] Tiếp tục thử nghiệm in vivo hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan của cao EtOAc với các nồng độ 0,1 mg/ml; 0,5 mg/ml; 1 mg/ml, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan tốt nhất ở nồng độ 1 mg/ml. Cây Nghể Cây Nghể thuộc họ Rau răm (họ Nghể, hay họ Kiều Mạch), (Polygonaceae). Một số cây trong họ Rau răm phổ biến như: Kiều Mạch (Fagopyrum), Chút Chít (Rumex), Đại Hoàng (Rheum), Nghể, và Rau răm (Polygonum), Hà Thủ Ô Đỏ,…. Họ Rau răm được đặt tên theo hình dạng của hạt; chẳng hạn như hạt của cây Đại Hình 2.5: Cây nghể Hoàng có tiết diện ngang là một hình tam giác.
[30] Trong y học cổ truyền, Nghể đồng, Nghể bà được dùng làm gia vị, bổ, làm lành vết thương. Nghể chàm có tác dụng hạ nhiệt trong các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, viêm họng, cúm. Đặc điểm hình thái thực vật [2, 10] Nghể là loại cây thân thảo một năm, có thân mọc thẳng, cao 40 – 70 cm, rộng 1,5 cm, nhiều cành và có rãnh dọc. Lá của cây Nghể có vị tương tự như hồ tiêu, cuống lá 4 – 7 8 mm, phiến lá dày hình mũi mác hay hình elip mũi mác có kích thước 4 – 8 x 0,5 – 25 cm, cả hai mặt không lông, đôi khi có lông nhỏ màu trắng và cứng ép sát gân giữa, gốc lá hình nêm, mép lá có lông mịn, chóp lá nhọn.
Các hoa tự thụ phấn trong chồi, không nở, có mặt tại các nách lá, bẹ chìa hình ống dài 1 – 1,5 cm, giống như màng mỏng, có lông cứng, và nhỏ thưa thớt, cụt đỉnh có lông ngắn. Cụm hoa mọc trên đầu cành hay ở nách lá, dạng bông rủ xuống, dài 3 – 8 cm. Các lá bắc xanh lục, hình phễu, dài 2 – 3 mm, mép dạng màng có lông mịn ngắn thưa thớt, mỗi lá 3 – 5 hoa. Các cuống nhỏ dài hơn lá bắc, bao hoa màu xanh lục có màu trắng hay hồng ở phía trên và chia 5 hoặc 4 phần, có điểm mạch hỗ trong suốt màu nâu; lá và cánh hoa hình elip, dài 3 – 3,5 mm.
Nhị hoa không thò ra. Quả bế không thò ra, trong bao hoa, màu nâu đen, trong mờ hình trứng, hai mặt lồi hay mặt cắt tam giác, dài 2 – 3 mm, có các hõm nhỏ dày đặc. Cây Nghể ra hoa vào tháng 5 – 9, kết quả vào tháng 6 – 10. * Phân loại Cây Nghể có tên khoa học là Polygonum toenzymtosum Willd.
(hay Polygonum pulchrum blume), hay được biết đến với nhiều tên khác nhau: Nghể lông dày, Nghể lông, Nghể trâu,…. Đây là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1120 loài. Họ Nghể là loài cây thân thảo, cây bụi, cây thân gỗ nhỏ. Các cơ quan sinh sản đơn tính ở trên cùng một cây hay ở trên hai cây khác nhau.
[30] Họ Rau răm được chia thành hai phân họ là Polygonoideae và Eriogonoideae.