Khảo Sát Tác Dụng Ức Chế Xơ Gan Của Cao Chiết Cây Râu Mèo Và Cây Nghể

Chuyên khảo phân tích Kl le thi ngoc dung 912015s, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Khoa Học Ứng Dụng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2010

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về thực vật học

2.2. Cây Râu mèo

2.2.1. Đặc điểm hình thái thực vật

2.2.2. Thành phần hóa học

2.3. Tổng quan về chống oxi hóa

2.3.1. Khái niệm về gốc tự do

2.3.2. Vai trò của gốc tự do

2.3.3. Mô hình gan trong thử nghiệm invivo

2.3.4. Cơ chế gây độc của CCl4

2.3.5. Tại sao lại chọn gan trong mô hình in vitro và in vivo?

2.3.6. Sự hình thành xơ ở gan

2.3.7. Tác hại của rượu đối với bệnh xơ gan

3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguyên vật liệu nghiên cứu

3.2. Nguyên liệu nghiên cứu

3.3. Thú thử nghiệm

3.4. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Xử lý nguyên liệu

3.5.2. Thử sinh học

3.5.2.1. Thí nghiệm 1: Khảo sát sơ bộ nồng độ gây độc của CCl4
3.5.2.2. Thí nghiệm 2: Khảo sát độc tính của cao chiết
3.5.2.3. Thí nghiệm 3: Sàng lọc cao EtOAc của cây Râu mèo và cây Nghể

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả xử lý nguyên liệu

4.2. Kết quả chiết xuất

4.3. Kết quả thử sinh học

4.3.1. Thí nghiệm 1: Khảo sát sơ bộ nồng độ gây độc CCl4

4.3.2. Thí nghiệm 2: Khảo sát độc tính của cao chiết

4.3.3. Thí nghiệm 3: Sàng lọc in vivo cao EtOAc của cây Râu mèo và Nghể

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng ức chế xơ gan từ cây Râu mèo và cây Nghể

Cây Râu mèo và cây Nghể đã được sử dụng trong y học cổ truyền với nhiều tác dụng khác nhau. Nghiên cứu gần đây cho thấy hai loại cây này có khả năng ức chế xơ gan, một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Việc tìm hiểu tác dụng của chúng không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về dược liệu mà còn mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh xơ gan.

1.1. Tác dụng của cây Râu mèo trong điều trị xơ gan

Cây Râu mèo chứa nhiều hợp chất chống oxi hóa mạnh, có tác dụng làm hạ men gan. Nghiên cứu cho thấy cao chiết từ cây này có khả năng ức chế xơ gan hiệu quả ở chuột thí nghiệm.

1.2. Cây Nghể và tác dụng chữa bệnh gan

Cây Nghể cũng được biết đến với nhiều tác dụng dược lý, bao gồm khả năng thanh nhiệt và giải độc. Nghiên cứu cho thấy cây Nghể có thể hỗ trợ trong việc điều trị các bệnh lý liên quan đến gan.

II. Vấn đề xơ gan và thách thức trong điều trị

Xơ gan là một trong những bệnh lý gan phổ biến, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Việc điều trị xơ gan gặp nhiều khó khăn do nguyên nhân gây bệnh đa dạng và phức tạp. Cần có những phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn để cải thiện tình trạng bệnh nhân.

2.1. Nguyên nhân gây xơ gan phổ biến

Các nguyên nhân chính gây xơ gan bao gồm viêm gan virus, lạm dụng rượu và bệnh lý chuyển hóa. Hiểu rõ nguyên nhân giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp.

2.2. Thách thức trong điều trị xơ gan

Việc điều trị xơ gan thường gặp khó khăn do bệnh tiến triển âm thầm. Nhiều phương pháp điều trị hiện tại chưa mang lại hiệu quả cao, cần nghiên cứu thêm các liệu pháp mới.

III. Phương pháp chiết xuất và nghiên cứu tác dụng của cây Râu mèo

Phương pháp chiết xuất cao từ cây Râu mèo được thực hiện bằng cách sử dụng dung môi EtOAc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao chiết này có tác dụng ức chế xơ gan rõ rệt trên mô hình chuột thí nghiệm.

3.1. Quy trình chiết xuất cao từ cây Râu mèo

Quy trình chiết xuất bao gồm các bước như thu hái, sấy khô và chiết xuất bằng dung môi. Kết quả cho thấy cao chiết EtOAc có hoạt tính sinh học cao.

3.2. Kết quả nghiên cứu tác dụng ức chế xơ gan

Nghiên cứu cho thấy cao chiết từ cây Râu mèo có khả năng làm giảm men gan và ức chế sự phát triển của xơ gan ở chuột thí nghiệm.

IV. Phương pháp nghiên cứu tác dụng của cây Nghể

Cây Nghể cũng được nghiên cứu với mục tiêu xác định tác dụng ức chế xơ gan. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng cao chiết từ cây Nghể có tác dụng tích cực trong việc cải thiện chức năng gan.

4.1. Quy trình chiết xuất và thử nghiệm

Quy trình chiết xuất từ cây Nghể tương tự như cây Râu mèo, với các bước chiết xuất và thử nghiệm in vivo để đánh giá tác dụng.

4.2. Kết quả nghiên cứu tác dụng của cây Nghể

Kết quả cho thấy cao chiết từ cây Nghể có khả năng làm giảm men gan và hỗ trợ trong việc điều trị xơ gan hiệu quả.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về tác dụng ức chế xơ gan từ cây Râu mèo và cây Nghể mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thuốc điều trị. Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của các dược liệu này.

5.1. Ứng dụng trong y học cổ truyền

Cây Râu mèo và cây Nghể đã được sử dụng trong y học cổ truyền, giúp điều trị nhiều bệnh lý, trong đó có xơ gan.

5.2. Kết quả nghiên cứu và triển vọng tương lai

Nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn của cây Râu mèo và cây Nghể trong điều trị xơ gan, cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển thành thuốc.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về tác dụng ức chế xơ gan từ cây Râu mèo và cây Nghể đã mở ra nhiều cơ hội mới trong điều trị bệnh gan. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định hiệu quả và an toàn của các dược liệu này trong y học hiện đại.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu dược liệu

Nghiên cứu dược liệu không chỉ giúp phát triển thuốc mới mà còn bảo tồn và phát huy giá trị của nguồn tài nguyên thiên nhiên.

6.2. Hướng đi mới trong điều trị xơ gan

Việc ứng dụng các dược liệu như cây Râu mèo và cây Nghể trong điều trị xơ gan có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe cộng đồng.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề “Khảo sát sàng lọc tác dụng ức chế xơ gan của cao chiết và các phân đoạn chiết dược liệu trên gan chuột bị gây xơ bằng CCl4.” nhằm góp phần tìm và chứng minh tác dụng trị liệu của cây Râu mèo và cây Nghể vào việc phòng và ức chế bệnh xơ gan. Đề tài được thực hiện với mục tiêu cụ thể: - Chuẩn bị cao chiết và phân đoạn chiết từ dược liệu - Khảo sát sàng lọc tác dụng hạ enzym gan và ức chế xơ gan của cao chiết và phân đoạn dược liệu. 1 Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về thực vật học 2.

Cây Râu mèo Cây Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon aristatus (Blume. Thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) hay còn được gọi bằng những tên khác như: Orthosiphon gradiflorus (Blume.), Orthosiphon longiflorum (Ham.), Orthosiphon spiralis (Lous., Ocinum aristatus (Blume., Clerodendralthus spicatus (Thums.1: Cây Râu mèo Ở mỗi địa phương, mỗi vùng cây Râu mèo còn có tên gọi khác nhau. Ở Việt Nam cây Râu mèo còn được gọi là: bông bạc, é mùi, trứng hoang…. Đặc điểm hình thái thực vật Cây Râu mèo là cây thân thảo, sống lâu năm, cao 0,5 – 1 m.

Thân đứng ít phân nhánh, hình vuông, nhẵn hoặc ít lông. Ở một số chủng, cuống và gân chính có màu tía. Lá mọc đối, dài 4 – 6 cm, rộng 2,5 – 4 cm, cặp lá trước mọc thành hình chữ thập đối với cặp lá sau, gốc lá tròn, đầu nhọn, mép khía răng to, cuốn lá dài 3 – 4 cm. Cụm hoa tận cùng mọc thẳng, mọc thành chùm, màu hoa lúc non thì trắng, sau ngả sang màu tím, dài 8 – 10 cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa.

Hoa nở suốt mùa hè, quả nhỏ và nhẵn. Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhụy của hoa thò ra giống râu con mèo. [4] * Phân loại Cây Râu mèo thuộc chi Orthosiphon họ Hoa môi (Lamiaceae), là họ lớn nhất trong bộ Hoa môi, gồm hơn 200 chi và khoảng 3500 loài, phân bố ở khắp các vùng có khí hậu khác nhau trên thế giới nhưng đặc biệt nhiều ở Địa Trung Hải, Tiểu Á và Trung Á. [24] Sơ đồ hệ thống phân loại (Xem sơ đồ 2.1) 2 * Phân bố Chi Orthosiphon có khoảng 80 loài được phân bố rộng rãi ở Châu Á, Châu Phi.

Ở Việt Nam tác giả Phạm Hoàng Hộ đã xác định được 8 loài. [7] Cây Râu mèo mọc tự nhiên và phân bố Ngành Ngọc Lan (hạt kín) phổ biến ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như: Magnoliophyta Indonesia, Malaysia, Thái Lan. [7, 10] Tại thành phố Hồ Chí Minh, Râu mèo Lớp Ngọc Lan (2 lá mầm) Magnoliopsida được trồng nhiều ở Thủ Đức, một số vườn thuốc nam ở các quận huyện nội thành, các tỉnh đồng Phân lớp Cúc bằng sông Cửu Long cũng trồng rất nhiều. Ngoài ra, Râu mèo còn có ở các tỉnh miền núi như: Cao Bộ Hoa môi Bằng, Thanh Hóa, Hà Tây, Lâm Đồng, Phú Yên, Lamiales Phan Rang, Hà Nam …[7, 10] Họ Hoa môi * Bộ phận sử dụng Lamiaceae Cây Râu mèo được thu hái cả cây về làm thuốc, trừ phần rễ.

Dược liệu sau khi thu hái được Chi Orthosiphon ốn định bằng cách phơi hoặc sấy khô.1: Vị trí cây Râu mèo trong 2. Thành phần hóa học hệ thống phân loại Trong thân cây Râu mèo chứa nhiều nhóm hợp chất khác nhau: Các glucosid đắng, orthosiphonnin, saponin, alkaloid, tinh dầu, tannin, flavonoid, cholin, betain, alcol triterpen, acid hữu cơ như: tartaric, citric, acid glycolis, …[6, 8] • Saponin Saponin được tìm thấy trong thành phần của cây Râu mèo lần đầu tiên 1933 do P. Caparis và CH Fevrier.V và cộng sự đã tiến hành định lượng thành phần saponin. Kết quả cây Râu mèo chứa 4,5% saponin trong dịch chiết butanol.

3 Thành phần saponin trong cây Râu mèo được gọi tên là orthosiphonosides A, B, C, D, E có màu tím hồng với thuốc thử acid phosphotungstic ở nhiệt độ 105 – 1100C. [22] • Glucosid đắng Cây Râu mèo được Van Itallie nghiên cứu từ năm 1886, tác giả đã lấy ra một chất glucosid đắng gọi là orthosiphon chất này ít tan trong cồn và tan nhiều trong nước. Sau đó nhiều tác giả như A. Gruber (Đức), Lecdurg Krober (Đức) cũng tìm thấy thành phần này và thêm muối K+ trong cây Râu mèo, có ý kiến cho rằng đây là hoạt chất chính gây tác dụng lợi tiểu.

[1] • Các flavonoid Trong cây Râu mèo, thành phần hóa học được biết rõ nhất là flavonoid. 9 chất flavon ở dạng aglycon đã được phân lập từ cây Râu mèo, trong đó có chất Sinensetin chiếm hàm lượng lớn trong cây. Ngoài 9 flavon còn có 2 flavonoid glycoside kaempferol 3 – O – β glucosid và quercetin 3 – O – β glucosid.2: Khung của flavonoid Bảng 2.1: Các gốc hóa học trong các chất Flavonoid của cây Râu mèo Các dẫn xuất của Flavonoid R1 R2 R3 R4 1 H H3C H H 2 H H3C H CH3 3 H3C H H CH3 4 H3C H3C H H 5 H3C H3C H CH3 6 H H3C OH CH3 4 7 H H3C OH CH3 8 H3C H3C OH CH3 9 H3C H3C OCH3 CH3 Trong một nghiên cứu gần đây của tác giả Yasuhiro Tezuka làm trên đối tượng là cây Râu mèo tại Việt Nam đã tìm ra được 5 chất orthosiphon mới (Hình 2.3), ngoài ra còn có các staminolacton, nor – staminolacton mới cũng được tìm thấy.3: 5 chất orthosiphon mới • Các dẫn chất của acid caffeic Chủ yếu là các acid rosmarinic, acid cichoric… Acid rosmarinic Acid cichoric Hình 2.4: Các dẫn chất của acid caffeic 5 • Các diterpenoid Các orthosiphol, neo – orthosiphol, seco – orthosiphol; Các staminol, nor – staminol, nor – staminon; Các staminolacton, nor – staminolacton; Các siphonol (trong cây Râu mèo có đến hơn 50 chất thuộc nhóm này). Các thành phần khác như: betain, cholin, β - sitosterol.

Tác dụng dược lý • Tác dụng lợi tiểu Những nghiên cứu đầu tiên về dược lực đối với cây Râu mèo được thực hiện ở Pháp bởi Perinelle (1887), Lecbre và Decaux F. Sau này còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng dược lực và chỉ rõ tác dụng lợi tiểu của cây Râu mèo (đã được khẳng định ở Cuba). Đến năm 1926, Cây Râu mèo được đưa vào Dược điển Hà Lan rồi đến Dược điển Đức, Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Pháp đưa vào năm 1965. Tuy nhiên thành phần gây tác dụng lợi tiểu chưa xác định rõ, nên vấn đề này các tác giả có nhiều ý kiến chưa thống nhất.E Maguire đã phân tích và xác định được chất của cây Râu mèo có ích trong y học.

Năm 1993 Shut và Zwaving đã nghiên cứu dược lý học của một số lipophilic flavonoid từ cây Râu mèo cho thấy thành phần sinensetin và hydroxil 5, 6, 7, 4 – tetramethoxiflavone thể hiện hoạt tính lợi tiểu nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn. [10] • Tác dụng ức chế khối u Theo nghiên cứu của Yasuhiro thì hầu hết các flavonoid và diterpenoid được tách ra từ cây Râu mèo có tác dụng độc đối với tế bào ung thư biểu mô gan chuột nhắt 26 – L5. [26] 6 • Tác dụng chống oxi hóa Trong một khảo sát mới đây trên một số cây thuốc ở Việt Nam cho thấy cây Râu mèo có hoạt tính chống oxi hóa mạnh. ™ Các khảo sát đã sàng lọc in vitro hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan của 3 cao toàn phần methanol, n – butanol, EtOAc và 9 phân đoạn được tách từ cao toàn phần EtOAc đồng thời đối chiếu, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy cao EtOAc có tác dụng chống oxi hoá mạnh nhất và các phân đoạn hợp chất trong cao EtOAc có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.

[14] ™ Tiếp tục thử nghiệm in vivo hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan của cao EtOAc với các nồng độ 0,1 mg/ml; 0,5 mg/ml; 1 mg/ml, so sánh với chất chuẩn silymarin kết quả cho thấy hoạt tính chống oxi hoá, tác dụng làm hạ enzym gan tốt nhất ở nồng độ 1 mg/ml. Cây Nghể Cây Nghể thuộc họ Rau răm (họ Nghể, hay họ Kiều Mạch), (Polygonaceae). Một số cây trong họ Rau răm phổ biến như: Kiều Mạch (Fagopyrum), Chút Chít (Rumex), Đại Hoàng (Rheum), Nghể, và Rau răm (Polygonum), Hà Thủ Ô Đỏ,…. Họ Rau răm được đặt tên theo hình dạng của hạt; chẳng hạn như hạt của cây Đại Hình 2.5: Cây nghể Hoàng có tiết diện ngang là một hình tam giác.

[30] Trong y học cổ truyền, Nghể đồng, Nghể bà được dùng làm gia vị, bổ, làm lành vết thương. Nghể chàm có tác dụng hạ nhiệt trong các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, viêm họng, cúm. Đặc điểm hình thái thực vật [2, 10] Nghể là loại cây thân thảo một năm, có thân mọc thẳng, cao 40 – 70 cm, rộng 1,5 cm, nhiều cành và có rãnh dọc. Lá của cây Nghể có vị tương tự như hồ tiêu, cuống lá 4 – 7 8 mm, phiến lá dày hình mũi mác hay hình elip mũi mác có kích thước 4 – 8 x 0,5 – 25 cm, cả hai mặt không lông, đôi khi có lông nhỏ màu trắng và cứng ép sát gân giữa, gốc lá hình nêm, mép lá có lông mịn, chóp lá nhọn.

Các hoa tự thụ phấn trong chồi, không nở, có mặt tại các nách lá, bẹ chìa hình ống dài 1 – 1,5 cm, giống như màng mỏng, có lông cứng, và nhỏ thưa thớt, cụt đỉnh có lông ngắn. Cụm hoa mọc trên đầu cành hay ở nách lá, dạng bông rủ xuống, dài 3 – 8 cm. Các lá bắc xanh lục, hình phễu, dài 2 – 3 mm, mép dạng màng có lông mịn ngắn thưa thớt, mỗi lá 3 – 5 hoa. Các cuống nhỏ dài hơn lá bắc, bao hoa màu xanh lục có màu trắng hay hồng ở phía trên và chia 5 hoặc 4 phần, có điểm mạch hỗ trong suốt màu nâu; lá và cánh hoa hình elip, dài 3 – 3,5 mm.

Nhị hoa không thò ra. Quả bế không thò ra, trong bao hoa, màu nâu đen, trong mờ hình trứng, hai mặt lồi hay mặt cắt tam giác, dài 2 – 3 mm, có các hõm nhỏ dày đặc. Cây Nghể ra hoa vào tháng 5 – 9, kết quả vào tháng 6 – 10. * Phân loại Cây Nghể có tên khoa học là Polygonum toenzymtosum Willd.

(hay Polygonum pulchrum blume), hay được biết đến với nhiều tên khác nhau: Nghể lông dày, Nghể lông, Nghể trâu,…. Đây là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1120 loài. Họ Nghể là loài cây thân thảo, cây bụi, cây thân gỗ nhỏ. Các cơ quan sinh sản đơn tính ở trên cùng một cây hay ở trên hai cây khác nhau.

[30] Họ Rau răm được chia thành hai phân họ là Polygonoideae và Eriogonoideae.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ