MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Năm 1784, James Watt và các trợ lý của mình phát minh ra động cơ hơi nước đã mở đường cho sự bùng nổ của cuộc CMCN lần thứ nhất với điểm bắt đầu là ở Anh sau đó lan rộng ra châu Âu và Mỹ. Đến cuối thế kỷ XIX, trong thời điểm chiến tranh thế giới lần I nổ ra, cuộc CMCN lần thứ hai diễn ra nhờ dầu mỏ và phát minh ra động cơ đốt trong kéo theo sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép. Nhờ cuộc CMCN lần thứ 2 này mà thế giới được hưởng tiêu chuẩn sống hiện đại và chất lượng chưa từng có trong khi dân số tăng trưởng nhanh.
Mặc dù còn nhiều tranh cãi, những cuộc CMCN lần thứ 3 được cho là bắt đầu từ khoảng năm 1969 khi nhiều cơ sở hạ tầng điện tử, số hóa và máy tính được phát triển mạnh. Theo tờ Gartner, CMCN 4.0, xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013, được xây dựng trên nền tảng cuộc CMCN lần thứ Ba, là sự hợp nhất các công nghệ, làm mờ đi ranh giới giữa các các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Trang web Zing.vn đã trích dẫn lời của Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới mang đến cái nhìn đơn giản hơn về CMCN 4.0 như sau: "CMCN đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.
Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc CMCN Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học". Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của CMCN 4.0 hiện "không có tiền lệ lịch sử". Khi so sánh với các cuộc CMCN trước đây, 4.0 đang tiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính.
Hơn nữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Và 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị. Một vấn đề cấp thiết đặt ra cho Việt Nam trong thời điểm này là liệu rằng Việt Nam có nắm bắt được cơ hội này giống như Singapore trước đó để vươn lên thành “con rồng Châu Á” trong thế kỷ 21 hay không? Rất nhiều khó khăn đã được đặt ra trước mắt khi trong 2 cuộc CMCN trước đó các nước đã nắm bắt được cơ hội trong khi Việt Nam đã hầu hết trải qua khoảng thời gian đó trong thời kỳ chiến tranh. Vì thế, để có bước nhảy vọt trong CMCN 4.0, Việt Nam cần chuẩn bị sẵn sàng cả nhân lực và vật lực để có thể đạt được tốc độ đột phát trong cuộc CMCN 4.
Và để chuẩn bị sẵn sàng thì khoa học và công nghệ chính là thứ mà lực lượng lao động - nhất là lực lượng lao động trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước cần nắm vững để có thể quyết định được vị thế của Việt Nam trong cuộc CMCN 4. Để đạt được điều đó, đổi mới giáo dục - đặc biệt là giáo dục ĐH - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nắm vững đổi mới của khao học công nghệ - chính là khâu then chốt. Nhiều tài liệu nghiên cứu gần đây, các chuyên gia đều nhấn mạnh tới việc đã đến lúc cần phải nâng cao kết quả ĐTTS ở Việt Nam, cần đầu tư đúng mức cho ĐTTS bởi thực trạng kết quả đào tạo và muốn nâng cao chất lượng TS phải nâng cao chuẩn đầu ra, phải yêu cầu cao hơn về kết quả công bố của NCS - đặc biệt là công bố quốc tế; gắn ĐTTS với nghiên cứu. Để lượng hóa kết quả đánh giá quá trình NCKH trong suốt quá trình tham gia ĐTTS, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy chế Tuyển sinh và đào tạo trình độ TS trong đó yêu cầu điều kiện về công bố quốc tế cho cả NCS và người hướng dẫn nhằm gắn công bố thành nhiệm vụ của NCS.
Đây cũng là xu hướng hợp thời đại so với giáo dục đại học và ĐTTS trên thế giới. Nhiều nghiên cứu trước đây đã khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa ĐTTS và nghiên cứu trong quá trình làm TS như trong nghiên cứu của: (Kyvik, S. & Smeby, 1994), (Rowland, 1996), 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Jane Robertson & Carol H. Ngoài ra, National Research Council (1981) đã nhắc đến ảnh hưởng của NCS tới sự phát triển của trường Đại học khi khẳng định NCS góp phần thiết yếu cho việc NCKH của trường Đại học là điều không phải bàn cãi và “Without them research in universities would lose much of its vitality and certainly move at a slower pace” - thiếu đi các NCKH của NCS, trường đại học có thể mất đi ít nhiều “sinh khí” và sẽ phát triển chậm hơn (National Research Council, 1981).
Hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam, có 235 trường ĐH, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện NCKH được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ TS (TS), 33 trường Cao đẳng sư phạm và 2 trường Trung cấp sư phạm - số liệu được thống kê bởi Bộ Giáo dục và đào tạo trong năm học 2016-2017 (Thống kê của Bộ GD-ĐT năm 2016-2017, n. Tổng quy mô sinh viên đại học năm học 2016-2017 là 1.879 sinh viên, giữ ổn định so với năm học 2015-2016, phần lớn trong số đó tập trung theo học các ngành thuộc Khối ngành VIII: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và Khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật. Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ ĐH là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật”. Có thể thấy rằng, thông qua các ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục, dường như chúng ta đang đi đúng hướng, bắt nhịp được với xu thế của cuộc CMCN lần thứ 4.0 đang diễn ra khắp nơi cũng như trong tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội trên thế giới.
Tuy nhiên, dù đã có định hướng đúng trong xu hướng của cách ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học, nhưng để có thể có “sản phẩm đầu ra” chất lượng thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó quan trọng bậc 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất là trình độ và chất lượng của đội ngũ giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại trường đại học. Dù quan trong là thế, nhưng những thống kê của Bộ GD&ĐT về chất lượng giảng viên sẽ khiến nhiều người giật mình “tính đến hết năm học 2016-2017, tỷ lệ giảng viên có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) và trình độ TS trong toàn hệ thống vẫn ở mức thấp (tỷ lệ TS trong toàn ngành giáo dục ĐH mới đạt khoảng 22%), đặc biệt là tỷ lệ giảng viên có trình độ TS của các trường cao đẳng sư phạm còn quá thấp (chiếm khoảng 3,4%). Chất lượng đội ngũ giảng viên vẫn còn là dấu hỏi lớn khi nhiều cán bộ giảng viên không có đề tài nghiên cứu, chưa có bài báo đăng trên tạp chí khoa học có uy tín trong nước và nước ngoài, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế.; ngoài ra số lượng giảng viên cơ hữu của các trường ngoài công lập vẫn còn thiếu (15.158 người chiếm khoảng 20% tổng số giảng viên trong toàn quốc) và đã ở độ tuổi cao, chưa đủ mạnh để nâng cao và tạo niềm tin về chất lượng đào tạo của bộ phận này trong hệ thống”. Theo GS Nguyễn Xuân Hãn Việt Nam hiện đang có khoảng 24.500 TS tuy nhiên số lượng công bố quốc tế của ta kém xa so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia (năm 2016, bằng 1/2 Thái Lan, 1/5 Singapore, 1/5 Malaysia).
Mặt khác, việc nghiên cứu Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào “ngoại lực”, tức là có tới 80% các công trình khoa học đứng tên chung hoặc hợp tác với người nước ngoài. Trong bảng xếp hạng các hệ thống giáo dục đại học năm 2017, Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp Việt Nam ở vị trí thứ 84, kém rất xa Thái Lan (thứ 57) và Philippines (thứ 55). Những số liệu trên có thể cho thấy chất lượng và hiệu quả của quá trình ĐTTS của nước ra hiện đang còn nhiều vấn đề mà công luận gọi là “bằng thật bằng giả”, “vàng thau lẫn lộn” gây nhức nhối trong xã hội suốt hơn 20 năm qua. Có thể thấy đánh giá của Bộ GD-ĐT rằng chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước là hoàn toàn xác đáng.
Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực có trình 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ cao để bổ sung cho đội ngũ giảng viên của các trường đại học Việt Nam có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Quan trọng và cấp thiết là thế, nhưng ĐTTS như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất mới là vấn đề cần được xem xét đến. Chính vì lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu khảo sát các nhân tố chủ yếu tác động đến chất lượng đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội” nhằm chỉ ra những nhân tố tác động đến hiệu quả và kết quả ĐTTS - với trường hợp cụ thể là ĐHQGHN, qua đó có thể khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình đào tạo qua đó có thể nâng cao kết quả ĐTTS ở ĐHQGHN. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát - Nghiên cứu luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả ĐTTS; - Đánh giá thực trạng kết quả ĐTTS trong các trường ĐH hiện nay và làm rõ vai trò của ĐTTS trong hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực nghiên cứu tại trường đại học; - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu đến kết quả ĐTTS ở ĐHQGHN; 2.