Đặt vấn đề Ngày nay, đời sống con người ngày một phát triển nên nhu cầu vui chơi giải trí ngày một gia tăng và phong phú, đặc biệt là cây cảnh lá. Bộ lá của các cây cảnh lá rất dep, nhiều màu sắc khác nhau, tuôi tho dai, trồng được quanh năm. Những loại cây cảnh này rất phù hợp cho việc trang trí trong nhà và văn phòng làm việc. Một số cây cảnh trên thé giới đã có giá trị lịch sử, được sử dung làm vật phong thuỷ về sự an lành và vẻ đẹp cảnh quan.
Như ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh sử dụng cây cảnh dé trang trí truyền thống vào ngày lễ quốc khánh, ngày lễ kỷ niệm, dé làm tăng tính trang trí, sự phố biến của thực vật. Hiện nay, tốc độ mở rộng nhanh nhất cây cảnh là loại cây trồng dé trong nhà và cây trồng trong vườn (Mariani va ctv, 2011). Agleonema có đầy đủ tat cả những yêu tổ quan trọng đó và là giống cây có hình dang đẹp, đầy màu sắc, chịu hạn và độ ầm tương đối thấp (Yeh va ctv, 2007). San xuat Aglaonema thương mai hau như chỉ bắt đầu từ việc giâm cành.
Tuy nhiên, nhân giống bằng phương pháp cắt cảnh có thé truyền mầm bệnh từ cây gốc sang cây giâm. Nuôi cay mô thích hợp hon dé nhân nhanh cây khoẻ mạnh. Phần lớn nuôi cấy mô không thành công với Aglaonema là do nhiễm vi sinh vật nội sinh (Chen va ctv, 2003). Trong thời gian gần đây, vạn lộc là loại cây rất được ưa chuộng bởi lá của nó rất bat mắt, lá hình trứng rộng, màu đỏ hồng với các đốm xanh trên mặt lá và phần viền có màu xanh.
Lá non của cây vạn lộc có màu hồng nhạt và cảng già yếu càng chuyển sang màu đỏ hồng. Cuống lá xanh, đây là đặc điểm riêng biệt phân biệt cây vạn lộc với những cây gần giống nó. Chúng thuộc thân cỏ, mọc thành khóm, cao khoảng 20 - 30 cm trồng được trong chậu đất hoặc thủy canh trong bình thủy tinh, cây phù hợp trang trí dé bàn hoặc trong phòng khách, phòng làm việc trông rất đẹp. Cây vạn lộc ngoài ý nghĩa phong thủy còn có tác dụng thanh lọc không khí, hấp thụ những chất hữu cơ gây bệnh cho con người.
Vẻ đẹp quyến rũ, mang nhiều ý nghĩa và lợi ích cho đời sông của chúng ta, nên cây vạn lộc đang là mặt hàng thu hút trên thị trường cây cảnh. Vì vậy, dé tài: khảo sát sự nhân nhanh chdi và tạo rễ của cây vạn lộc được nghiên cứu dé tạo ra nguồn mẫu có tỉ lệ sống cao với hệ số nhân chổi nhiều góp phần hoàn thiện quá trình nhân giống tao cây vạn lộc hoàn chỉnh in vitro. Mục tiêu đề tài Xác định được nồng độ dung dịch javel thích hợp dé xử lí mẫu đốt thân cây van lộc, tạo được nguồn mẫu sống sạch dé làm vật liệu tiến hành thí nghiệm khảo sát chất điều hòa sinh trưởng, từ đó tìm ra nồng độ kinetin cho sự phát sinh chồi từ đốt thân, nồng độ BA tối ưu cho khả năng nhân nhanh chéi và nồng độ NAA tối ưu cho kha năng tạo rễ của cây vạn lộc. Nội dung thực hiện Nội dung 1: khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dich javel trong quy trình xử lí mẫu.
Nội dung 2: khảo sát nồng độ kinetin đến quá trình phát triển chồi từ đốt thân. Nội dung 3: khảo sát nồng độ BA cho khả năng nhân nhanh chồi. Nội dung 4: khảo sát nồng độ NAA cho khả năng tạo rễ. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về cây vạn lộc 2. Nguồn gốc của cây vạn lộc Nguồn gốc và lịch sử cụ thể của vạn lộc có thể không được ghi chép cụ thé như một số loại cây được trồng rộng rãi khác. Chi Aglaonema, mà Aglaonema rotundum pink thuộc về, có nguồn gốc từ các khu rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam A, bao gồm các quốc gia như Malaysia, Indonesia và Thái Lan. Những loài thực vật này thường được tìm thay ở tầng dưới của rừng nhiệt đới.
Aglaonema rotundum pink có thé là giống được trồng hoặc giống lai được phát triển dé có tán lá màu hồng đặc biệt. Quá trình canh tác các giống cụ thé bao gồm nhân giống và nhân giống chọn lọc dé tạo ra va nhân mạnh những đặc điểm mong muốn. Việc trồng trot và lai tạo các loài Aglaonema, bao gồm cả việc phát triển các giống như bài viết đang nghiên cứu (Aglaonema rotundum pink), thường được thực hiện bởi những người làm vườn, vườn ươm và những người đam mê cây trông. Phân loại Gidi : Plantae Ngành : Angiospermae Bộ Ễ Alismatales Họ : Araceae Chi : Aglaonema Loai : Aglaonema rotundum pink 2 Hình 2.
Cay Vạn lộc 2. Đặc điểm thực vật của cây vạn lộc Cây vạn lộc thuộc loài cây thảo mộc lâu năm có thân thắng đứng và thân cây rụng, có thể mọc đọc theo mặt đất. Đây là một trong những loài cây chứa đựng sắc tố và hình dạng hoa văn lá đẹp nhất trên thế giới, sự kết hợp màu sắc hài hòa và tươi sáng, chẳng hạn như màu xanh lá cây và màu cam, xanh lá cây và đỏ, xanh lá cây và vàng, xanh lá cây và trắng, xanh lá cây và hồng. Hau hết các loại cây vạn lộc có rễ màu xanh, thân day 1 - 5 cm, có thể vươn cao tới 50 cm, kiểu phát hoa Spadix (Mariani va ctv, 2011), hoa chủ yếu có màu trang va thường nở vào tháng 3 đến tháng 7.
Van lộc cũng chứa một số chất độc hại gọi là canxi tỉnh thể oxalate để bảo vệ thân khỏi kẻ thù, điều này chính là tác nhân gây ra một số kích ứng trên da. Đặc điểm nỗi bật là có màu hồng trên lá. Các sắc thái của màu hồng có thé khác nhau và thường được pha trộn với các màu khác như màu xanh lá cây. Hình trứng rộng, có kích thước vừa phải.
Loại cây này có thói quen sinh trưởng rậm rạp, tạo ra nhiều thân hoặc chồi từ gốc. Vạn lộc thích ánh sáng gián tiếp hoặc ánh sáng lọc, chịu được điều kiện ánh sáng yếu nên phù hợp với môi trường trong nhà. Là loài cây ưa âm, phát triển mạnh ở nhiệt độ từ 18 - 27 °C và có xu hướng ưa độ âm cao. Các loài vạn lộc được coi Hình 2.
Lá cây vạn lộc Hình 2. Hoa cây vạn lộc 2. Tổng quan về nuôi cấy mô tế bào thực vật 2. Khái niệm nuôi cấy mô Nuôi cấy mô tế bảo thực vật là một phạm trù khái niệm chung cho tất cả các loại nuôi cay nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật, trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng (Ngô Xuân Bình, 2009).
Nuôi cay mô, tê bảo thực vật còn gọi là nuôi cây thực vật in vitro (trong ông nghiệm) dé phân biệt với các quá trình nuôi cấy cây trong điều kiện tự nhiên ngoài ống nghiệm (Ngô Xuân Bình, 2009). Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật Haberlandt (1902) là người đầu tiên đề xuất phương pháp nuôi cấy tế bào thực vật dé chứng minh tính toàn thé của chúng. Theo ông, mỗi tế bào từ một co thé da bao đều chứa đủ thông tin di truyền dé phát triển thành một cá thé hoàn chỉnh. Do đó, mỗi tế bảo riêng lẻ của một cơ thé da bào đều mang trong mình toàn bộ lượng thông tin di truyền cần thiết của sinh vật đó.
Điều nay có ý nghĩa là néu được đặt trong điều kiện thích hợp, mỗi tế bao có khả năng phát triển thành một cơ thé sinh vật đây đủ. Hơn 50 năm sau, các nghiên cứu nuôi cây mô và tế bào thực vật đã đạt được những thành tựu đang kể, chứng minh rằng tế bào có khả năng tồn tại và phát triển độc lập. Công trình nổi bật bao gồm việc tạo rễ từ mảnh mô cây thuốc lá (Miller và Skoog, 1953), tạo phôi và cây cà rốt hoàn chỉnh từ tế bào đơn nuôi cấy, tách tế bảo trần và tái sinh cây hoàn chỉnh từ tế bào trần lá cây thuốc lá (Takebe, 1971). Kỹ thuật tạo dòng (cloning) tế bào don lập trong điều kiện in vitro đã làm rõ rằng các tế bao soma, khi đặt trong điều kiện thích hợp, có khả năng phân hoá và phát triển thành một cơ thể thực vật đầy đủ.
Các giai đoạn của quá trình vi nhân giống Vi nhân giống là kỹ thuật nuôi cay mô ứng dụng nhân giống cây trồng trong điều kiện vô trùng. Kỹ thuật này được thực hiện dé sản xuất số lượng lớn cay ghép đồng đều và không có mầm bệnh trong thời gian ngắn và không gian nhỏ (Chen và ctv, 2013). Theo Nguyễn Đức Lượng va ctv (2002), quá trình nhân giống in vitro được chia thành các giai đoạn sau Giai đoạn 1 là chuẩn bị cây mẹ. Khi chọn cây mẹ phải chú ý xác định đúng cây cần nhân giống.
Cây mẹ phải sạch bệnh và tốt nhất là chọn cây trồng trong nhà kính hoặc trong phòng tăng trưởng. Cây mẹ phải được bón phân và phun thuốc trừ sâu bệnh chu đáo. Giai đoạn 2 là khử trùng mẫu cấy. Hầu hết các mô hay cơ quan thực vật đều có thé sử dụng dé nuôi cây nhưng mức độ thành công phụ thuộc vào hệ thống môi trường sử dụng, loài thực vật được nuôi cấy và sự khử trùng mẫu cấy thành công.
Mục tiêu của giai đoạn này là thu được một lượng lớn các mẫu cấy vô trùng và vẫn còn khả năng tăng trưởng. Khử trùng bề mặt mẫu cấy bao gồm rửa mẫu, tiếp theo là khử trùng mẫu cấy. Giai đoạn 3 là giai đoạn tang sinh mô Tạo phôi soma: việc tạo ra tế bào có khả năng sinh phôi giúp cho việc nhân dòng thực vật một cách nhanh chóng. Trong quá trình này, một tế bào đơn có thể được cảm ứng trở thành một phôi và từ đó phát triển thành một cây nguyên vẹn.
Các phôi soma là những tổ chức đơn giản được tạo ra từ tế bào soma nhưng sự phát sinh hình thái lại tương tự như phôi hữu tính. Việc sinh phôi từ tế bào soma hiện nay đã được thực hiện thành công ở một số loài trong đó có cà rốt, Pentunia và một số loài khác. Phôi soma thường được sinh ra từ mô sẹo hơn là từ huyền phù tế bào. Tăng cường sự phát triển chồi bên: chồi bên và chéi ngọn có thể được cảm ứng phát triển in vitro bằng cách làm tăng sự phát triển của những chỗi dạng hiện hữu.
Một mẫu cấy có mang một chéi đơn sẽ phát triển thành một chỗi hay thành một cụm chồi tùy thuộc vào loài thực vật và môi trường cấy.