phần mở đầu tập Kể chuyện bản Mường (Quắm tố mướng). Quê tổ của người Thái là đất Mường Lò. Từ đó họ mở rộng dần thế lực sang vùng Mường Then huyền thoại. Đất Mường Then thuộc ngọn nguồn của ba con sông Nặm Rôm, Nặm Núa, Nặm U (là một nhánh của Nặm Khong – sông Mê Kông) thuộc vùng lưu vực 2.
Người Thái từ đây vượt sang phía đông tới lưu vực sông Mã, rồi tiến hành những cuộc chinh phạt mở rộng địa giới của mình sang tận đất Lào, hình thành nên những vùng Chiềng Đông, Chiềng Tòng (tức Xiêng Đông, Xiêng Thong - nơi trung tâm của Luông Prabăng bây giờ). Do địa bàn cư trú và những cuộc di dân lớn trong lịch sử, dân tộc Thái chịu những ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa và nhân chủng của các cư dân địa phương nơi họ đi qua, nói một cách khác thì người Thái - dân tộc chủ nhân của Tây Bắc, trong lịch sử đã có quá trình hỗn dung và tiếp biến văn hóa bởi các dân tộc anh em để tạo nên sắc thái văn hóa riêng biệt của cả vùng Tây Bắc. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Miền Tây Bắc là nơi sinh sống của hơn 20 dân tộc anh em như: Thái, Mường, Mông, Dao, Si La, Khơmú, La Ha, Xinh Mun, Mảng, Kháng, Lào, Lự, Bố Y, Cống, Tày, Nùng, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Hoa, La Chí, La Hủ, Lô Lô, Kinh… Trừ người Kinh đầu tiên vốn là những người nông dân từ miền xuôi lên tham gia khởi nghĩa ở Điện Biên do Hoàng Công Chất lãnh đạo vào thế kỷ XVIII và con cháu của họ ở lại đây, còn phần lớn các dân tộc là những cư dân xa xưa của Tây Bắc, một vài dân tộc đến Tây Bắc cách đây 200 - 300 năm. Từ sau năm 1954, người Thái hầu như đã sinh sống ổn định trên các vùng đất mà cha ông dày công khai phá và gây dựng.
Họ duy trì những luật tục riêng, những sắc thái văn hóa - xã hội riêng theo từng nhóm. Theo vùng địa lý, các nhóm Thái sống đan cài với nhau và với cộng đồng dân cư của các dân tộc khác. Họ coi quê tổ của mình là đất Mường Lò, phía Bắc tỉnh Yên Bái (nay là thị xã Nghĩa Lộ và ba huyện Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu thuộc tỉnh Yên Bái). Ngoài ra, phần lớn người Thái sống ở các tỉnh thuộc phía Tây và phía Nam đất Tổ gồm các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (và một số lượng không đáng kể sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên mà chủ yếu là ở huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng) [45.
Trong những điều tự nhiên - xã hội (điều kiện thiên di, điều kiện địa lý, sinh hoạt…) nhất định, người Thái sinh sống lâu đời và dần gắn kết thành những vùng văn hóa. Hiện nay, sự phân hóa hai ngành Thái Đen và Thái Trắng thành 6 nhóm như trên “là kết quả của một quá trình thiên di, xáo động, trên những diễn biến lịch sử lâu dài và phức tạp (…) từ một nhóm Thái (Tày) cổ xưa nhất mà thiên di đi mỗi người một ngả. Rồi đến địa vực cư trú mới của mình, từng nhóm một tiếp xúc với điều kiện tự nhiên và đặc biệt chịu ảnh hưởng của các dân tộc xung quanh để rồi xa dần cái nguyên gốc của mình. Và cũng từ đó xuất hiện các nhóm Thái ở mỗi một địa phương khác nhau” [45, tr.
Mặc dù có sự phân hóa như vậy, nhưng về cơ bản người Thái vẫn là một tộc người có sự thống nhất trên cả ba khía cạnh - ý thức về người đồng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tộc hay ý thức tộc người qua một tên gọi chung nhất là Phủ Thăy (người Thái) - ngôn ngữ chung (tiếng Thái) - và nền văn hóa chung. Không gian văn hóa Thái vùng Tây Bắc 1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội Tây Bắc là vùng núi cao hiểm trở bậc nhất ở nước ta, những đứt gẫy của kiến tạo địa chất tạo nên hệ thống núi và sông ngòi chạy theo hướng Tây bắc - Đông nam, hệ thống núi giáp với biên giới Việt - Lào ở phía Tây và dãy Hoàng Liên Sơn kề sát với bờ phải sông Hồng ở phía đông mà người Thái mệnh danh là Khau Phạ (Sừng Trời) tạo cho Tây Bắc một vùng địa lý tự nhiên và khí hậu riêng biệt. Từ dòng Nặm Tao, người Thái tạt vào bên phải, chiếm lấy đất Nghĩa Lộ làm bàn đạp để rồi tiến mãi đến tận Điện Biên Phủ, giáp Lào.
Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức Mường Trời và trở thành "cố đô" của nhiều đời tù trưởng. Vậy nên, dòng Nặm Tao hiển nhiên là địa đầu phía Đông và biên giới Lào là địa đầu phía Tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Giữa hai điểm đó con sông Đà phát nguyên từ phía Bắc kẻ một đường chéo Tây Bắc - Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình rồi hợp lưu với dòng Nặm Tao ở ngã ba Việt Trì để làm nên sông Cái - sông Hồng của châu thổ phì nhiêu. Trên đường đi, sông Đà - tên Thái là Nặm Tè - tiếp nhận lượng nước của biết bao suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na hợp lưu với nó ở ngay tỉnh lị Lai Châu.
Sát với biên giới Lào là dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa để xuôi về biển. Vậy nên, đất Tây Bắc còn được đồng bào gọi là đất "ba con sông", tạo nên ba dải "nước màu: trắng, xanh, đỏ". Bởi vì sông Mã lắm thác ghềnh nên nhiều sóng bạc đầu. Lại còn có truyền thuyết dòng sông là nữ thần canh giữ mỏ bạc mà xưa kia người Thái - La Ha thường khai thác.
Dòng Nặm Tè (sông Đà) chảy giữa các triền núi đá grannít, sâu thẳm xanh đen một màu. Còn dòng Nặm Tao mang nặng phù sa thì chính người Kinh cũng gọi là sông Hồng. Ba con sông tự nhiên nhưng trở thành biểu tượng riêng của vùng đất. Chúng lại có ba màu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nắng, của cây và của đất.
Chúng biến thành những tín hiệu văn hóa vùng mà người dân bản địa lấy đó làm tự hào, để phân biệt với người vùng muối (Kinh), người vùng sông Lô, sông Chảy (Tày, Nùng). Tây Bắc là miền núi cao hiểm trở, hùng vĩ, các dãy núi chạy theo hướng tây bắc - đông nam trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180km, rộng 30km, cao từ 1500m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông 2.983m, dãy Hoàng Liên Sơn được người Thái gọi là “sừng trời” (khau phạ) chính là bức tường thành. Nó nằm bên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao. Dòng Nậm Tao chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc.
Theo sử huyền thoại Thái thì tổ tiên họ là Tạo Xuông - Tạo Ngần bay từ trên trời xuống và phải vượt qua con sông rộng, lắm sóng dữ, ghềnh thác. Qua con sông là đến địa phận của trần gian. Khó khăn là thế nên tên thần thoại của dòng Nặm Tao là dòng "Sông Đắng - sông Xối" (Nặm ta Khôm - Nặm Ta Khái), còn theo các nhà dân tộc học thì dòng sông là con đường mà theo đó tổ tiên của người Thái thiên di vào Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV. Vùng Tây Bắc Bắc Bộ với núi non trùng điệp, nhiều núi cao hiểm trở trở thành một địa bàn trọng yếu về kinh tế và quốc phòng của Việt Nam, "phên dậu thứ hai án ngữ phía Tây" (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi).
Miền Tây Bắc được tạo thành bởi một khối núi cao vững chắc, sừng sững trong gió lạnh và sương mù, tiếp giáp với miền Vân Nam (Trung Quốc) ở phía bắc và Phong Xa Lỳ - Sầm Nưa (Lào) ở phía nam, chạy dài cho đến tận thung lũng sông Cả ở địa đầu dãy Trường Sơn. Về địa bàn lãnh thổ, vùng này bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và miền núi Thanh Hóa, Nghệ An. Những người dân đồng bằng ngày trước theo những đoàn thuyền buồm ngược sông Đà lên đến Chợ Bờ (Hòa Bình) để giao lưu buôn bán với miền Tây Bắc mà không dám tiến xa hơn vào vùng đất đầy gian nan thử thách “nước Sơn La, ma Hòa Bình”, “rừng thiêng nước độc” này. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về sau, miền Tây Bắc phát triển, trở thành “hòn ngọc của Tổ quốc”, người từ dưới xuôi đi lên miền Tây Bắc có thể theo các hướng: đi đường bộ qua đất Hòa Bình, vượt qua nhiều đèo dốc để đến được cao nguyên Mộc Châu – cửa ngõ miền Tây Bắc; đi đường sắt theo chuyến xe lửa từ Hà Nội lên Lào Cai dọc theo thung lũng sông Hồng cũng đồng thời đi dọc theo phía đông của miền Tây Bắc; đi đường sông theo sông Đà, sông Thao, sông Hồng lên Tây Bắc.
Núi rừng và cao nguyên miền Tây Bắc được che phủ bởi hệ thống thực vật phong phú, nhưng có một loại cây trở thành biểu tượng cho xứ sở sương mù, bám chặt rễ trên các sườn núi để bảo vệ đất màu, đó là cây ban và vào mùa xuân thì hoa ban nở trắng rừng Tây Bắc. Địa hình từ thung lũng sông Hồng đến biên giới Tây Bắc - Lào rất phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi, dòng sông, khe suối. Dãy núi Hoàng Liên Sơn đồ sộ, dài 180 km chạy từ biên giới Trung Quốc đến Vạn Yên, rộng 30 km với các đỉnh núi cao từ 2. Dãy núi Sông Mã ở biên giới phía tây dài đến 500 km có những đỉnh núi cao 1800 m, một phần chạy sang cả Sầm Nưa (Lào) và lan đến miền thượng du Thanh - Nghệ Tĩnh với những đỉnh núi cao từ 1200m đến 1500m.
Giữa hai mạch núi đồ sộ đó là những miền cao nguyên đá vôi chạy từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, dài chừng 400 km, cao từ 600m đến hơn 1000m. các dãy núi và cao nguyên đó đều chạy song song với nhau và với thung lũng sông Hồng, theo hướng tây bắc - đông nam. Con sông Hồng từ xưa người Thái Tây Bắc gọi là sông Nặm Tao, nơi khởi nguồn và cũng là nơi địa đầu phía đông và phía tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Vùng từ sông Đà đến sông Mã cũng rộng lớn và đồ sộ như vùng núi Hoàng Liên Sơn.
Trong vùng có nhiều cao nguyên. Có lẽ người ta biết đến Tây Bắc nhiều nhất là qua các cao nguyên nổi tiếng.