Đặt vấn đề Bò H’Mông (hay còn gọi là bò Mèo) là một giống bò quý, có năng suất và chất lượng thịt cao được nuôi nhiều ở vùng núi cao các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng Giống bò H'Mông là vật nuôi phổ biến của đồng bào Mông và có nhiều đặc điểm ưu việt, được người Mông chọn lọc, thuần dưỡng từ lâu đời. Bò đã thích ứng với điều kiện sống trên vùng cao núi đá, khí hậu lạnh và khan hiếm thức ăn, nước uống. Bò vàng vùng cao là vốn gen giống địa phương được đặt tên theo người nuôi phổ biến là người H'Mông. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của FAO trong phân loại các giống vật nuôi hiện nay, đó là: Một nhóm động vật ở một vùng địa lý nào đó có một số đặc điểm sinh học giống nhau và được nhân dân địa phương xem là một kiểu hình thì được xem như là một giống.
Thực tiễn cho thấy, con bò H'Mông gắn liền với văn hóa người Mông, đó là con vật của đời sống tâm linh, một nguồn sức kéo quan trọng và rất thích hợp với canh tác nương rẫy ở vùng cao nên được người Mông trân trọng và nuôi dưỡng, chăm sóc rất chu đáo. Có thể nói kinh nghiệm nuôi bò, huấn luyện bò để cày, kéo của người Mông được coi là tốt nhất trong các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Con bò là niềm kiêu hãnh của nhiều gia đình người Mông, dù cuộc sống của họ còn nhiều gian khó. Trong những năm qua, khi đất nước phát triển, sự giao lưu kinh tế xã hội phát triển rộng khắp ở mọi vùng miền, nhiều giống vật nuôi mới trong đó có giống bò đã xâm nhập và trao đổi nguồn gen với bò H'Mông dẫn tới xu hướng lai tạp.
Mặt khác, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong điều kiện mới được tăng lên góp phần tác động làm cho giống bò H'Mông đứng trước n 2 nguy cơ bị thoái hoá do nhiều nguyên nhân: do tập quán chăn nuôi thả rông thành đàn, tự do giao phối, vấn đề cận huyết kéo dài do không luân chuyển đực giống, bò là tài sản của dân nên họ thường bán đi những bò to để được nhiều tiền, giữ lại bò bé, dẫn đến khối lượng cơ thể bị giảm dần. Về công tác quản lý chưa có sự vào cuộc của cơ quan chuyên môn để hình thành hệ thống chọn lọc, quản lý giao phối và nhân giống nhằm gìn giữ những đặc tính ưu việt của phẩm giống và phát huy tiềm năng di truyền của chúng. Vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển giống bò này là hết sức cần thiết, trong đó chọn lọc những bò đực có tầm vóc to làm giống để nâng cao sức sản xuất của đàn con sinh ra nhằm khai thác và phát triển giống bò H'Mông một cách có hiệu quả, góp phần phát triển chăn nuôi bò H'Mông năng suất, chất lượng cao, có tính bền vững, thân thiện với môi trường vùng cao. Từ thực tế của chăn nuôi bò H’Mông hiện nay đang bị giảm về số lượng và năng suất do việc chọn lọc, quản lý đàn bò chưa được chú trọng.
Vấn đề cần đặt ra trong thời điểm hiện nay là nhân giống thuần và khai thác nguồn gen bò H’Mông để phát triển đàn bò cả về số lượng và chất lượng. Từ những lý do trên, em tiến hành đề tài "Khảo sát khả năng sinh trưởng của các bê sinh ra từ đàn bò H'Mông hạt nhân nuôi tại huyện Pắc Nặm – tỉnh Bắc Kạn " nhằm góp phần vào việc chọn lọc, khai thác, phát triển tốt nguồn gen vật nuôi quý của địa phương và Việt Nam. Mục tiêu và yêu cầu đề tài 1.1 Mục tiêu đề tài - Đánh giá được hiện trạng đàn bò H’Mông hạt nhân nuôi tại địa phương. - Đánh giá được khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân.
Yêu cầu đề tài - Đánh giá được khả năng sinh trưởng của đàn bê sinh ra từ đàn bò hạt nhân.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân nhằm chọn lọc khai thác tốt nguồn gen bò hạt nhân.2 Ý nghĩa thực tiễn Nắm bắt được khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân từ đó giúp người chăn nuôi biết ảnh hưởng của đàn bò hạt nhân tới thế hệ đàn con để có các biện pháp nâng cao chất lượng đàn con của đàn bò địa phương. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở bò 2.
Tính trạng số lượng Tính trạng số lượng được gọi là tính trạng đo lường. Tuy nhiên, có một số tính trạng mà giá trị của nó thu được băng cách đếm số con đẻ ra trong một lứa, số trứng đẻ ra trong một chu kỳ… vẫn được coi là tính trạng số lượng. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng, hầu như các thay đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật là sự thay đổi của tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau: - Tính trạng số lượng biến thiên liên tục.
- Phân bố tần suất giá trị của tính trạng số lượng là phân bố chuẩn. - Là tính trạng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen có một tác động nhỏ. - Chịu tác động rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh. Sự di truyền của tính trạng số lượng Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di truyền của Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với tính trạng chất lượng nên phương pháp nghiên cứu của di truyền học số lượng khác với phương pháp nghiên cứu của di truyền học Mendel (Trần Đình Miên và cs, 1994) [36].
Ở các đời lai, tính trạng số lượng không phân ly theo một tỷ lệ nhất định, kết quả đó hầu như đối lập với quy luật di truyền Mendel. Do vậy nhiều nhà nghiên cứu di truyền trước đây cho rằng sự di truyền tính trạng số lượng không tuân theo quy luật di truyền Mendel. Đến năm 1908 các công trình nghiên cứu của Nilsson - Ehle mới xác định được tính trạng số lượng biến thiên liên tục và di truyền theo đúng quy luật của tính trạng chất lượng có biến dị gián đoạn. n 5 Tức là các định luật cơ bản về di truyền của Meldel (trích theo Trần Đình Miên và Cs, 1994) [5].
Bộ phận di truyền liên quan tới các tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng hoặc di truyền sinh trắc hay di truyền thống kê. Do đặc trưng của tính trạng số lượng nên phương pháp nghiên cứu di truyền số lượng khác với phương pháp nghiên cứu di truyến chất lượng. Đối tượng nghiên cứu không dừng lại ở mức độ cá thể mà phải mở rộng ở mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể. Sự sai khác giữa các cá thể không thể chỉ là sự phân loại và phải có sự đo lường từng cá thể.
Cơ sở di truyền tính trạng số lượng được thiết lập bởi các công trình nghiên cứu của Fisher (1918); Wright 1926, Haldane 1932 (trích theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [10], Đặng Vũ Bình (2002) [1]. Để giải thích sự di truyền tính trạng số lượng Nilsson - Ehle (1908) (trích theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [10], Đặng Vũ Bình (2002) [1], đã đưa ra thuyết đa gen với nội dung sau: tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như: Sự phân ly, tổ hợp và liên kết… Mỗi gen thường có tác dụng nhỏ đối với các tính trạng kiểu hình, nhưng nhiều gen có giá trị cộng gộp lớn hơn. Tác dụng của các gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể cộng gộp hoặc không cộng gộp. Ngoài ra còn có thể có các kiểu tác động ức chế khác nhau giữa các gen nằm ở các locus khác nhau.
Trong thực tế nếu biết được chính xác số lượng gen quyết định tính trạng số lượng có thể đề ra các phương pháp trực tiếp nghiên cứu các tính trạng số lượng đó. Theo Morgan 1911, Wright 1933 (trích theo Phan Cự Nhân, 1977) [6], quá trình hình thành tính trạng của gia súc không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện môi trường. n 6 Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype). Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment).
Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Trong đó: P: Giá trị kiểu hình G: Giá trị kiểu gen E: Sai lệch môi trường. Sai lệch môi trường của một quần thể bằng không, do đó giá trị trung bình kiểu hình bằng giá trị trung bình kiểu gen. Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, các gen có hiệu ứng riêng biệt rất nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu.
Phân tích giá trị tính trạng số lượng cho thấy: muốn cải tiến năng suất của vật nuôi cần phải tác động cải tiến di truyền (G) bằng cách tác động vào hiệu ứng cộng gộp thông qua các biện pháp chọn lọc. Tác động vào các hiệu ứng trội và át chế bằng các biện pháp tạp giao. Tác động về mặt môi trường bằng các cải tiến điều kiện chăn nuôi, nâng cao chất lượng thức ăn, cải tiến chuồng trại và các điều kiện môi trường, tăng cường biện pháp thú y. Theo Holroyd, 1988 [14], tính trạng số lượng thể hiện bằng các giá trị đo lường và được xác định bằng các tham số thống kê riêng.
Theo Nguyễn Văn Thiện 1995 [10], khi nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng người ta thường dùng các tham số thống kê mô tả cũng như xác định các mối tương quan phụ thuộc tuyến tính. Đặc điểm sinh trưởng của bò 2. Khái niệm sinh trưởng Theo Rouse (1982), Driesch (1990), thì sinh trưởng là sự tăng khối lượng của cơ thể do các xoang và các tế bào trong cơ thể đều tăng (trích theo Trần Đình Miên và Cs, 1992) [4]. n 7 Theo Lee (1988) sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: tế bào phân chia, tăng thể tích và các chất giữa tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất.