Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở bò Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên bò cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel. Các tính trạng như: màu sắc lông, da (trắng, đen, vàng) là những tính trạng chất lượng, còn các tính trạng như: tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, nhịp đẻ, tỷ lệ nuôi sống,.thuộc nhóm tính trạng số lượng, là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau, (Nguyễn Văn Thiện,1995) [36].
Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment). Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, các gen có hiệu ứng riêng biệt rất nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu. Sai lệch môi trường của một quần thể bằng không, do đó giá trị trung bình kiểu hình bằng giá trị trung bình kiểu gen.
Muốn cải tiến năng suất của vật nuôi cần phải tác động cải tiến di truyền (G) bằng cách tác động vào hiệu ứng cộng gộp thông qua các biện pháp chọn lọc. Tác động về mặt môi trường bằng các cải tiến điều kiện chăn nuôi, nâng cao chất lượng thức ăn, cải tiến chuồng trại và các điều 4 kiện môi trường, tăng cường biện pháp thú y, tác động vào các hiệu ứng trội và át chế bằng các biện pháp lai tạo. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [36], khi nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng người ta thường dùng các tham số thống kê mô tả cũng như xác định các mối tương quan phụ thuộc tuyến tính để đánh giá các tính trạng thể hiện ở các thế hệ sau. Đặc điểm sinh trưởng của bò 1.
Khái niệm sinh trưởng Gatner (1992) cho rằng quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích của các tế bào tạo nên sự sống. Theo Lee (1988) sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: Tế bào phân chia, tăng thể tích và các chất giữa tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất. Như vậy, sự sinh trưởng của sinh vật phải thông qua ba quá trình: Phân chia tế bào để tăng số lượng tế bào; tăng thể tích tế bào; tăng thể tích giữa các tế bào (trích theo Trần Đình Miên và cs, 1992) [24]. Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay của toàn bộ cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007) [6].
Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể đó là sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới, sự hoàn thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể, đó là sự phát triển toàn diện của cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền. Trần Cừ và cs,(1975) [9]. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của bò Cũng như các loài gia súc khác, sinh trưởng và phát dục của bò tuân thủ theo các quy luật chung, đó là quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều, quy luật sinh trưởng và phát dục có tính chu kỳ. Quy luật sinh trưởng, phát dục theo giai đoạn: Sinh trưởng và phát dục cùng diễn ra trong cơ thể trong sự phát triển chung không tách rời nhau, không mâu thuẫn với nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể gia súc trải qua hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn có một đặc thù về sinh trưởng và phát dục riêng. Giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ): Theo Nguyễn Trọng Tiến và cs, (2001) [42], giai đoạn trong bào thai của bò được tính từ lúc trứng được thụ tinh tạo thành hợp tử cho đến khi con vật được sinh ra, thời gian này kéo dài khoảng 285 ngày và chia ra làm các thời kì. Đó là thời kì phôi thai (1 - 34 ngày); thời kì tiền thai (35 - 60 ngày); thời kì thai (61 - 285 ngày). Trong giai đoạn phôi thai này người ta lại chia ra thành các giai đoạn nhỏ hơn đó là: Thời kỳ phôi bắt đầu được tính từ khi trứng và tinh trùng gặp nhau tạo thành hợp tử cho đến lúc hình thành bào thai.
Thời kỳ này ở bò là 60 ngày; thời kỳ tiền thai thời gian được tính từ khi hợp tử bám chắc vào niêm mạc tử cung đến khi xuất hiện các nét đặc trưng về giải phẫu, sinh lý trao đổi chất của lá phôi như: ống tiêu hoá, ống tim, hệ thần kinh, màng treo ruột, giai đoạn này dinh dưỡng bắt đầu qua hệ tuần hoàn. Trong chăn nuôi gia súc cái mang thai ở thời kỳ này cần chú ý cung cấp đủ dinh dưỡng để gia súc mẹ đảm bảo dinh dưỡng cung cấp cho thai. (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [3] Thời kỳ thai nhi: Thời gian của thời kỳ này tính từ khi kết thúc tiền thai đến khi con non được sinh ra. Thời kỳ này hình thành tứ chi miệng, móng, mắt, có lông ở da và đuôi sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở giai đoạn cuối thời kỳ này.
Thời kỳ này không nên cho mẹ ăn thức ăn có chứa kích tố, nhu cầu bào thai cao cần nuôi dưỡng tốt, hai tuần trước khi đẻ cho ăn tốt hơn, gia súc làm việc cho nghỉ khi gần đẻ từ 2 - 2,5 tháng trước khi đẻ. 6 Thai luôn sinh trưởng và phát dục tuỳ theo từng giai đoạn. Giai đoạn 60 ngày toàn bộ các cơ quan đã hình thành, hợp tử bình quân nặng 3 microgam và sau 60 ngày đạt 8-18 gam. Cường độ sinh trưởng của thai càng về cuối càng giảm đi nhiều nhưng khối lượng tuyệt đối tăng rất nhanh, nhất là từ tháng thứ 7 đến khi đẻ.
Thông thường khi thai được 5 tháng khối lượng dao động đạt từ 2 - 4 kg; ở 7 tháng khối lượng dao động từ 12 - 16 kg; khi đẻ ra khối lượng bê sơ sinh có thể đạt được 25 - 40 kg. Như vậy, trong 2 - 2,5 tháng cuối khối lượng của thai tăng 13 - 24 kg, tức là bằng 2/3 đến 3/4 khối lượng sơ sinh (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006) [43]. - Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ) thời gian của giai đoạn này được tính từ khi con vật sinh ra cho đến khi con vật già cỗi và chết, giai đoạn này được chia làm bốn thời kỳ là: + Thời kỳ bú sữa: Được tính từ khi con vật sinh ra đến khi thôi bú, ở thời kỳ này con vật còn non chủ yếu sống dựa vào dinh dưỡng của mẹ (sữa mẹ). Ngoài sữa là nguồn thức ăn chính cần tập cho gia súc ăn sớm, ăn các thức ăn thực vật để bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết và tạo điều kiện kích thích bộ máy tiêu hoá phát triển và hoàn thiện dần.
Thời kỳ bú sữa của bê, nghé kéo dài 4 - 6 tháng; + Thời kỳ thành thục: Được tính từ khi cai sữa đến khi con vật có biểu hiện về tính dục, thời kỳ này dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào loài và tính biệt. Đặc điểm của giai đoạn này là gia súc có tốc độ sinh trưởng nhanh và dinh dưỡng tách khỏi mẹ. + Thời kỳ trưởng thành: Ở thời kỳ này con vật đã phát triển hoàn thiện, hoàn chỉnh về mọi mặt con vật có khả năng sinh sản và sản xuất cao nhất, thời kì này hình thành lượng mỡ dự trữ bởi vậy tất cả bò nuôi hướng thịt đều khai thác con vật ở giai đoạn này, chỉ chọn lại đàn bò giống bổ sung cho đàn sinh sản để tiếp tục phát triển đàn bò hướng thịt. 7 + Thời kỳ già cỗi: Được tính tiếp theo kỳ trưởng thành đến khi con vật chết vì già, đặc điểm của giai đoạn này là khả năng sinh sản của gia súc cái giảm dần rồi mất hẳn, con đực không bị mất nhưng cũng bị giảm sức khoẻ và sức sản xuất.
Thời kỳ này bắt đầu sớm hay muộn phụ thuộc vào tuổi và điều kiện sống. Quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều: Sự phát triển của vật nuôi không phải là lớn dần các cơ quan, bộ phận mà tuân theo quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Điều này được biểu hiện rõ rệt ở sự thay đổi về tốc độ phát triển của các bộ phận theo độ tuổi: Bộ phận này phát triển mạnh ở độ tuổi này thì độ tuổi khác lại phát triển chậm, chính sự phát triển không đồng đều của các bộ phận theo tuổi như vậy đã tạo nên sự cân đối của cơ thể. Biểu hiện rõ nhất của sự phát triển không đồng đều là sự tăng khối lượng của cơ thể, tăng nhiều hay ít là sự cân bằng của các quá trình oxi hoá trong trao đổi chất, có giữ được nhiều ở một nhịp độ nào đó hay không.
Đồng thời cũng do sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt hay không. Sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở thành phần hoá học của cơ thể gia súc. Ở bò thời kỳ bào thai trong tháng thứ nhất tăng 600 lần, tháng thứ 9 tăng 1,5 lần, khi sơ sinh tỷ lệ vật chất khô trong cơ thể là 25,81% còn lúc 6 tháng là 30,93% lúc 12 tháng tuổi là 36,25%. Sự phát triển không đồng đều còn biểu hiện ở khả năng thích ứng với ngoại cảnh khác nhau của cơ thể gia súc tuỳ theo từng độ tuổi sự thay đổi điều kiện sống ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của con vật, trước tiên là hoạt động của thần kinh, từ đó ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, làm cho chức năng cấu tạo của từng tế bào và các bộ phận cơ thể cũng thay đổi theo.
Quy luật sinh trưởng, phát dục theo chu kỳ Sự sinh trưởng phát dục của sinh vật nói chung và gia súc nói riêng không phải là tuyến tính. Sự tăng khối lượng thường diễn ra theo chu kỳ, 8 mỗi chu kỳ khoảng 12 ngày. Một số quá trình khác trong cơ thể cũng diễn ra theo nhịp điệu như chu kỳ động dục, sự đồng hóa và dị hóa. Quy luật ưu tiên các chất dinh dưỡng đối với sự phát triển của các cơ quan bộ phận theo thứ tự não, thần kinh trung ương, xương, cơ quan tiêu hóa, tổ chức cơ, tổ chức mỡ, khi các chất dinh dưỡng dư thừa thì tích lũy mỡ.