Chương I TỎNG QUAN 1. So’ lược về ung thư 1. Ung thư là gì I heo Viẹn Ung thư Quôc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute), ung thư là tên gọi chung cac bẹnh hen quan đên việc phân chia tê bào ~ộ* cách vô tổ chức và lan 11 uyên sang các mô xung quanh. Ung thư có thể bắt đầu ờ bẩỉ cứ nơi nào trong cơ thể, thông thường, tê bào bình thường phát triển và phân chia thảnh các tế bào mới khi cơ thê cân.
Khi các tế bào già đi hoặc trở nên hư hỏng, chúng bắt đẩu chết theo chu trình (hiện tượng apoptosis) và các tế bào mới sẽ thay thế vị trí cùa chúng. Khi ung thư phát triên, các tế bào sẽ trở nên bất thường, không đi theo chu trinh apoptosis mà tiếp tục tăng sinh không kiểm soát và hình thành các khối u. Thông thường gồm có khối u lành tính và khối u ác tính. Đối với khối u lành tính thì không lây lan hoặc xâm nhập các mô lân cận và khi được loại bô thì u lành tính thường không phát triển trở lại.
Trái lại, khối u ác tính có thể lây lan hoặc xâm nhập vào các mô gần đó, ngoài ra, khi khôi u này phát triên đên giai đoạn di căn chủng có thể đi đến những nơi khác trong cơ thể thông qua việc phá vờ và xàm nhập vào mạch máu hoặc hệ thống bạch huyêt, chúng sẽ tạo thanh các khôi u mơi ơ xa khôi u ban đầu. Các tế bào ung thư khác với tế bào bình thường, chúng phát triển vượt khỏi sự kiểm soát và trờ nên xâm lân. Trong khi các tê bào bình thường trướng thành và phát triển thành các tề bào chuyên biệt với chức năng cụ thề còn các tê bào ung thu thì không có chúc năng. Ngoài ra, các tế bào ung thư có thể bỏ qua các tín hiệu thông thường cho phép các tế bào ngỉmg phàn chia hoặc bắt đầu một quá trinh được gọi là chết theo chương trình (hay hiện tượng apoptosis) mà cơ thê sứ dụng đề loại bó các tê bào không cần thiết.
Quá trinh apoptosis trong cơ thể Apoptosis, hay gọi là sự chết tế bào theo chu trinh, rất cẩn thiết cho sự phát triên các tê bào binh thường. 1 ín hiệu này cho phép tế báo lự húy sau khi phát hiện các sai hỏng trong DNA, ngăn chặn các đột biến gây hại cho tế bão và toản bộ cơ thể. Tuy nhiên, trong tê bào ung thư, quá trình apoptosis bị ngăn chặn dẫn đến việc bất từ của tế bào ung thư, đông thời kéo theo việc duy trì các đột biến tron 2 cơ thể. Ung thư có thê được xem như là kết quả cùa một l:ạ: các thay dổi di truyền, trong dó một tê bào bình thường biên thành một tế bào ác linh và lẫn tránh quá trình apoptosis là một trong những thay đổi quan trọng dẫn đến '_ng thư.
Có nhiều cách để một tế bào ác tính có thể làm giảm quá trình apoptosis hoặc có thể kháng lại quá trình apoptosis. Các tế bào ung thư có thể tránh được quá trình apoptosis bang cách: Làm mất cân bằng của các protein pro - apoptotic và anti - apoptotic; giàm chức nãng của enzyme protease dạng cysteine - aspartic (là một họ của protease cysteine đóng vai trò quan trọng trong quá trình chết theo chu kỳ của tế bào, hoại tử và sưng viêm); suy giảm tín hiệu thụ thể gây chết. Dựa vào các nghiên cứu về cách thức để các tế bào ung thư có thể lẫn tránh được quá trình apoptosis, các loại thuốc hoặc các chiến lược điều trị làm khôi phục lại các con đường tín hiệu apoptosis theo hướng bình thường có tiềm năng loại bỏ tế bào ung thư (Rebecca SY Wong, 2011). Quá trình apoptosis đóng một vai trò quan trọng trong chu trình sống của tế bào và sự hình thành ung thư.
Nhiều chiến lược điều trị ung thư mới nhắm vào mục tiêu apoptosis rất khả thi và có thể được sử dụng trong điều trị các loại ung thư khác nhau. Các khám phá quan trọng gần đây đã mở ra những cánh cửa mới liên quan đến thuốc chống ung thư. Một số nghiên cửu cũng đã được đưa vào điều trị phổi hợp liên quan đến các thuốc chống ung thư thông thường ưong một số thử nghiệm làm sàng, góp phần nâng cao phương thức điều trị các loại ung thư hiện có (Rebecca SY Wong, 2011). Ung thư gan Ung thư gan là ung thư thường gập nhất cùa hệ gan mật.
Ưng thư gan có thể là ung thư gan nguyên phát hoặc ung thư gan thứ phát, trong dó ung thư gan nguyên phát chiếm 80% trường hợp. Phân loại ung thư gan 1. Ung thư gan nguyên phát Là dạng ung thư băt đâu trong tê bào gan, được chia thánh nhiều loại khác nhau dựa trên các loại tế bào trở thành ung thư. Các loại bao gồm: - Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Đây là hình thức phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát ở cả trẻ em và người lớn.
- Cholangiocarcinoma: Đây là loại ung thư bẳt đẩu trong ống giống như ống mật nhỏ trong gan, đôi khi được gọi là ung thư ống mật. - u nguyên bào gan: Đây là loại hiếm cùa ung thư gan ảnh hưởng đến trẻ em dưới 4 tuổi. Hầu hết trẻ em bị u nguyên bào gan đều có thể điều trị thành công. - Angiosarcoma hoặc hemangiosarcoma: Là những bệnh ung thư hiếm, chủng bắt đầu xâm nhập vào các mạch máu của gan và phát triển rat nhanh chóng.
Ung thư gan thứ phát Là tình trạng khối u từ các khu vực khác trên cơ thể di căn tới gan. Đặc biệt, gan là một “mảnh đất màu mỡ” cho ung thư lan rộng vì tại đây có nguồn cung cấp máu dồi dào và có các chất dịch cơ thể giúp thúc đẩy quá trình tăng trường te bào. Nguy cơ ung thư gan thứ phát phụ thuộc vào vị trí ban đầu của khối ung thư. Ví dụ, ung thư đường tiêu hóa thường lây lan đến gan thông qua các mạch máu.
Hau hết ung thư gan thứ phát có nguồn gốc từ đại tràng, trực tràng, tụy, dạ dày, thực quàn, vú, phổi và một số vị trí khác trong cơ thể. Một số yếu tố ành hưởng đến tỳ- lệ mẳc ung thư di căn gan, bao gồm độ tuổi, giới tính của bệnh nhàn, vị trí ung thư ban đầu, loại mô học, và thời gian phát triên của khôi u (1 ran 1hl Phương Chi va ctv, 2016). Các giai đoạn phát triển của ung thư gan Ung thư gan sẽ phát triển qua 4 giai đoạn sau: Giai đoạn 1: ơ giai đoạn này, ung thư gan la rnộl khôi u được hạn chế trong gan và không phát triên đê xâm nhập vào mạch máu. Giai đoạn 2: Ung thư bắt đầu phát triển, chúng có thế xám nhập vào các mạch máu xung quanh hoặc có thể hình thành nhiều khối u nhó tron 2 2an.
Giai đoạn 3: Giai đoạn này có thể thấy ung thư bao gồm một số khối u lớn hơn trong gan hoặc ung thư có thể là một khối u lớn đã phát triển đề xảm nhập tĩnh mạch chính của gan và các cấu trúc gần đó, chẳng hạn như túi mật. Giai đoạn 4: Đen giai đoạn này, ung thư đã di căn đến những khu vực khác trong cơ thể và hình thành khối u tại khu vực mới nảy Trân Thị Phương Chi và ctv, 2016). Tình hình ung thư gan ở Việt Nam và thế giới Theo thống kê của WHO, vào năm 2012, trên toàn thể giới có 14,1 triệu trường hợp mắc ung thư mới, 8,2 triệu ca tử vong, 32,6 triệu người còn song sau khi được chẩn đoán mắc ung thư (trong phạm vi 5 năm kể từ khi được chần đoán mắc bệnh). Trong đó, 57% (8 triệu) trường hợp mắc ung thư mới, 65% (5,3 triệu) ca tử vong xảy ra phổ biến ở những khu vực kém phát triển.
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 110.000 trường hợp mắc ung thư mới và hơn 73% trong số đó tử vong, là một trong những nước có tỷ lệ tử vong do ung thư cao nhất trên thế giới (theo báo cáo cùa Bệnh viện Bạch Mai năm 2014). Trong đó các loại ung thư phổ biến với tỳ- lệ số ca mắc và từ vong cao bao gồm: Ung thư phổi (1,59 triệu ca tử vong); Ung thư gan (745.000 ca tử vong); Ung thư dạ dày (723.000 ca tử vong); Ung thư đại trực tràng (694.000 ca tử vong); Ung thư vú (521.000 ca tử vong); Ung thư thực quản (400.000 ca từ vong). Những thống kê gần đây cho thấy, nước ta cỏ tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B rất cao khoảng 15 đến 20% (khoảng 10 triệu người dang bị nhiễm bệnh). Trong những năm gần đây, mỗi năm, Việt Nam có 10.000 ca mắc bệnh gan mới và là quốc gia có tỷ lệ người mắc bệnh ung thư gan hàng đầu thế giới.
Phần lớn các bệnh nhân đều phát hiện bệnh trong giai đoạn trề nên việc chữa trị không còn hiệu quả. ở các nuớc đang 6 phát trien như nước la, hơn 90% dân số đều nhiễm virus viêm gan A (HAV). Khoảng 40% nguời viêm gan siêu vi B mãn tính chết vi biến chứng xơ gan, ung thư gan. Giói thiệu về cây trâm bầu 1.
Phân loại Trâm bâu có tên khoa học là Combretum quadrangulare Cây trảm bầu hay còn gọi là chân bầu, chưng bầu, tim bầu, sang kê, song re (Cairh jchia). Phân loại học của cây trâm bầu: Ngành Magnoliophyta. - 7 Magnoliopesida, bộ Myrtales, họ Combretaceae (họ Bàng), chi Com-re:um. loài Comhretum quadrangulare (Phan Nhật Trường, 2012).
Cây trâm bầu (Combretum quadrangulare) (Nguồn: Theo Baomoi. Đặc điếm thực vật Cay tram nau thuộc loại cây gồ nhò hay cáy nhờ. Thân cỏ nhiều canh ngan, canh non có 4 cạnh và có 4 gờ dọc dạng cánh, có lóng râi rác, cành già lác dac co gai. Lá thường mọc đôi nhau có hình trứng ngược, đẩu lả nhọn hoặc có khi tròn hơi rộng ra, gôc lá thuôn, nhẵn và sần sùi ở mặt trén, sần sũi vã rái rác có lông ở mặt dưới, gân bên 7 đên 9 dôi, cuống lá dài 5 đến 6 mm chiều dái lá rứ 6 đến 10 cm, rộng 3 đên 4,5 cm.
Hoa trâm bâu nhỏ, có màu vàng và mọc thành C"-im ở nsọn hoặc nách lá, hoa dài từ 4 đên 5 cm. Quả dài khoảng 2 cm, rộng 8 đến 9 mm. cỏ 4 cánh mỏng màu xanh. Hạt có hình thoi, cây trâm bầu từ lúc nảy mầm đến khoảng 1 nãm sau thì có quà, đến năm thứ 3 thì cho quả rộ (Võ Văn Chi, 2013).
Đặc điểm sinh trưởng Cây trâm bầu mọc nhiều ven kênh rạch ở vùng đồng báng, ven rừng tràm và hài đảo.