Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây nhãn 1.1 Nguồn gốc Nhãn (Dimocarpus longan Lour) họ Bồ Hòn (Sapindaceae) là một giống cây trồng nhiệt đới, có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc và được trồng phổ biến ở những nước nhiệt đới lân cận như Việt Nam, Thái Lan, An Độ, Philippines. Theo Vũ Công Hau (1996), Việt Nam có vườn nhãn đại ở vùng ven biến gan Cà Ná, cách Phan Rang 30 km về phía Nam. Nhãn được trồng từ độ cao trung bình đến 1.000 m ở các dãy núi từ Malaysia đến phía nam Trung Quốc và được trồng chủ yếu ở một số nước châu Á. Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Đài Loan là những quốc gia có diện tích trồng nhãn lớn.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Đặc điểm rễ Nhãn có bộ ré ăn rất sâu và rộng.
Ở những vùng đất tơi xốp bộ rễ của cây có thé cắm sâu xuống từ 4 — 5 m. Còn ở những vùng đất nông hơn thì bộ rễ của cây có thé lan rộng ra so với tán cây khá lớn, tuy nhiên bộ rễ của cây đều tập trung vào phần lớn trong tán lá cây.2 Đặc điểm thân cành Nhãn là cây thân gỗ, có chiều cao trung bình 7 —13 m, có tán cây khá rộng, cây thường được trồng bằng hạt và ghép cành, những cây trồng bằng phương pháp chiết cành thường có tán hẹp hơn so với những cây trồng bằng hạt. Tùy thuộc vào đặc tính của từng giông nên sô tán cây sẽ rộng hay hẹp.3 Đặc điểm lá Lá kép hình lông chim có khoảng 5 — 6 cặp lá chét, lá có màu xanh đậm, mặt trên láng bóng, mặt dưới màu xanh nhạt. Lá non có màu đỏ đậm, lá thành thục có màu xanh đậm và dai đến 15 — 20 cm, tùy theo giống nhãn sẽ có chiều dai lá khác nhau.4 Đặc điểm hoa Phát hoa dai từ 30 — 40 cm, có nhiều nhánh nhưng không có lá.
Hoa nhỏ, có từ 5 — 6 đài hoa, cánh hoa có màu vàng nâu và có đĩa mật. Một phát hoa có đến 350 hoa. Trên một phát hoa có hoa đực và hoa cái. Hoa đực thật ra là hoa lưỡng tính nhưng noãn sao bị thoái hóa, hoa đực có từ 7 — 8 nhị và một noãn sao nhỏ nhưng không có vòi nhụy.
Hoa cái cũng là hoa lưỡng tính nhưng nhị đực không nứt dé tung phan hoa, hoa cái có noãn sảo phát triển mạnh và một hoặc hai hàng nhị bắt thụ, noãn sảo gồm 1 múi, có vòi noãn ở mỗi túi.5 Đặc điểm trái Trái nhãn có đường kính từ 1,5 — 3,0 cm, nặng từ 11 — 22 g, vỏ trái nhãn mỏng nhưng cứng, có màu sắc biến động từ vàng đến vàng nâu đậm. Thịt trái có màu trắng trong. Hạt trái tròn, màu xám (Trần Thế Tuc, 1999).6 Giá trị dinh dưỡng Trái nhãn có giá trị dinh dưỡng cao, trong cơm nhãn, hàm lượng đường tổng số chiếm từ 12,38% — 22,55%, trong đó đường khử 3,85% - 10,16%, acid 0,09% — 0,10%, vitamin C 0,04 — 0,16 g/100 g thịt trái. Ngoài ra, trái nhãn còn chứa 0,20 g/100 g vitamin K và các chất khoáng khác như Ca và Fe.
Cơm nhãn có thé ăn tươi hay đóng hộp, cơm nhãn sấy khô làm long nhãn là thuốc bổ điều trị bệnh suy nhược thần kinh, trí nhớ kém, mắt ngủ hay hoảng hốt. Bông nhãn còn là nguồn cung cấp mật có chất lượng tốt cho ong (Trần Thế Tục, 1999).2 Yêu cầu về điều kiện sinh thái 1.1 Nhiệt độ Nhãn là cây trồng được cả ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiệt độ tối hảo cho ra hoa và trái phát triển là 20 — 25°C. Vào thời kỳ ra hoa nhiệt độ 15 — 22°C là tốt, 5 trên 40°C trái sẽ bị hai và bị rụng.
Tuy theo giống mà nhiệt độ tới hạn thay đổi từ 7 — 12°C.2 Anh sang Cây nhãn can nhiều ánh sáng, thoáng. Trong quá trình sinh trưởng và phat trién, cây nhãn thích hợp với ánh sáng tán xạ hơn ánh sáng trực xạ. Ánh sáng chiếu được vào bên trong tán giúp cây phát triển và thường sai trái, ánh sáng còn giúp đậu trái, vỏ bóng va vi ngọt, ngon.3 Lượng mưa Cây nhãn cần lượng mưa thích hợp hang năm khoảng 1300 — 1600 mm. Lúc cây ra hoa gặp thời tiết nắng ấm, tạnh ráo có lợi cho việc thụ phấn, đậu trái tốt và năng suất sẽ cao.4 Nước Cây nhãn là cây ưa âm nhưng không chịu úng và rất đễ nhạy cảm với việc ngập nước kéo dài.
Ngược lại, nếu gặp khô hạn trong thời gian đài sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm, ra hoa và đậu trái khó khăn.5 Đất đai Các loại đất cát pha thịt, đất đỏ, đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho việc trồng nhãn hơn trên các loại đất khác. Cây nhãn sinh trưởng tốt trong điều kiện đất thoát nước, tơi xốp, pH đất khoảng 5,5 — 6,5 (Trần Thế Tục, 1999).3 Sơ lược về giống nhãn Edor Nhãn Edor hay còn gọi Ido hay Edaw là giống nhãn trồng ở miền Bắc Thái nên cần nhiệt độ lạnh dé cảm ứng ra hoa. Ở Thái Lan, giống nhãn này được trồng nhiều nhất do giống có khả năng kháng bệnh, cho năng suất và thu nhập ổn định và là giống nhãn xuất khâu chủ lực. Cây có năng suất cao và 6n định.
Trái to nhưng hột khá lớn, thịt khá ráo. Giống nhãn cho trái sớm, hoa ra vào tháng 12 cho trái vào cuối tháng 6 đầu thang 7 nên dé xuất khẩu. Nhãn Edor được du nhập vào Việt Nam từ cuối thập niên 90 thé kỷ 20, được trồng tập trung chủ yếu ở miền Nam. Nhãn Edor có thời gian thu hoạch khoảng 119 và 126 6 ngày sau khi đậu trái sẽ có chất lượng cao khi thu hoạch (mùi thơm đặc trưng, mau vỏ thay đổi từ vàng nâu sáng sang vàng nâu và trái không nhô cao phần thịt ở hai bên cuống).
Thu trái quá sớm hoặc quá trễ so với các độ chín ở trên làm cho trái có chất lượng kém và thối hỏng nhanh (Nguyễn Thanh Tùng, 2020). Nhãn Edor có vỏ mỏng nên khi bị nam bệnh xâm nhiễm trước thu hoạch thì dé dang gây thối hong va gây tôn thất lớn cho trái sau thu hoạch. Cần quản lý kiểm soát nắm bệnh tấn công và tăng khả năng đề kháng cho trái (tăng hàm lượng canxi cải thiện cấu trúc vỏ, các thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả và an toàn trong kiểm soát nam bệnh). Ngoài ra có thé cải thiện màu sắc cho trái (vỏ quả vàng sáng) ở thời điểm trước thu hoạch và quản lý chăm sóc (tỉa cành tạo tán, phân bón dinh dưỡng.) cho cây phát triển với trái có đường kính trên 25 mm đáp ứng tiêu chuẩn thu mua xuất khẩu trên thị trường.
Bên cạnh đó cường độ hô hấp của nhãn Edor tương đối cao (68,80 — 69,80 mg CO,/ kg/ h ở 5 ngày bảo quản 20°C) và tốc độ thối hỏng rất nhanh sau 2 — 3 ngày bảo quản nhiệt độ phòng (Nguyễn Thanh Tùng, 2020). Qua những đặc tính trên cho thấy nhãn Edor là trái rất dé hư hỏng sau thu hoạch. Do đó việc quản lý chất lượng nhãn Edor sau thu hoạch cần kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất trước thu hoạch, giai đoạn thu hoạch, xử lý bảo quản sau thu hoạch và tiêu thụ.4 Tổng quan về bệnh thối trái trên cây nhãn 1.1 Triệu chứng bệnh Bệnh thối trái nhãn được thu nhận bằng cách quan sát màu sắc của trái nhãn. Trái nhãn bị bệnh thối trái thì ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu hoại tử trên vỏ trái, to nhanh thành từng mảng không đều, lớp vỏ bị nhiễm bệnh trở nên nâu và phát triển thành mau nâu sam và den.
Tùy từng tác nhân mà trái bệnh ở giai đoạn nặng sẽ rơi xuống đất hoặc thối đen khô van còn trên cành. Các tốn thương trên bề mặt và thành trong của vỏ trái cuối cùng chuyền sang mau nâu sam đến hóa den, trong khi lớp thịt mờ bên dưới các vùng bị ảnh hưởng xẹp xuống và chuyển sang màu vàng nâu. Trong điều kiện âm ướt, các khu vực bị ảnh hưởng thường được bao phủ bởi các sợi nâm màu trăng.2 Tác nhan Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tác nhân gây thối trái trên nhãn tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thế giới đã có những báo cáo về các tác nhân gây thối trái trên nhãn bao gồm các tác nhân: Alternaria, Aspergillus, Curvularia, Fusarium, Gloeosporium, Lasiodiplodia, Nigrospora, Paecilomyces, Pestalotiopsis, Phomopsis (Tongdee va ctv, 1994).
Lasiodiplodia và Pestalotiopsis là những loại nam nội sinh phô biến được tìm thay trên vỏ trái, gây ra các triệu chứng nghiêm trọng nhất như trái cây bị bệnh thối rita nhanh chóng (Suwanakood, 2005). cùng với Pestalotiopsis sp. và Lasiodiplodia theobromae được xác định là gây thối trái trên nhãn Edor tại Thái Lan (Porntip Thavong và ctv, 2011). 1 Các triệu chứng va dấu hiệu của Pestalotiopsis sp.
trên trái nhãn. Chủ thích: B: Quả thé mọc trên vỏ trái nhãn, C: Quả và thịt trái nhãn bị thối, D: Bào tử nấm Pestalotiopsis sp.3 Phương thức lay lan Bệnh gây hại nặng trên các vườn trồng quá dày, rậm rạp và phát triển mạnh trong mùa mưa nhất là những ngày mưa dầm, âm độ cao, sương mù nhiều, thiếu nắng. Bệnh lây lan rất nhanh từ trái này sang trái kia bằng bào tử nhờ gió, côn trùng mang đi, có thê tồn tại trong đất và có thể lây lan qua hệ thống tưới tiêu nước, kiến và con người hoạt động, dé tan công khi trái đang có vết thương (Anamika Sharma & Rangaswamy Muniappan, 2021).5 Sơ lược về nam Pestalotiopsis sp.1 Vị tri phan loại Pestalotiopsis sp. thuộc giới nam (Fungi), ngành nam túi (Ascomycota), bộ Xylarisles, họ Amphisphaeriaceae, chi Pestalotiopsis (Sajeewa và ctv, 2011) 1.2 Dac diém hinh thai Theo Guba (1961), Wei va Xu (2004) mô tả bao tử (bao tử vô tính) thường có dạng hình thoi, thắng hoặc hoi cong, và có 3 — 4 nhánh.
Các tế bào trung vị có sac tô (đồng nhất hoặc nhiều màu). Phần phụ trên đỉnh hầu hết là dạng sợi, có núm hoặc không, một đến nhiều (thường là 2 — 3), phân nhánh hoặc không phân nhánh. Phần phụ cơ bản của Pestalotiopsis sp. được phát sinh từ một tế bào cơ bản.
Tản nâm trên PDA sau 7 ngày ở 28°C, có rìa thùy, sợi nâm mọc xêp chông nhau như cánh hoa, màu mật ong từ trăng đên nhạt, với các sợi nâm dày đặc trên bê mặt với các lông mao màu trăng, có các quả thé nam liti đên tôi đa 1,5 mm (Sajeewa va ctv, 2011). có 4 vách ngăn hoi that lại chỗ vách ngăn, bào tử vô tinh thường có dang hình thoi, thăng hoặc hoi cong. Bào tử có kích thước trung bình từ 22 — 30 um x 5 — 9 pm.