Đặt vấn đề Trong các thời điểm giao mùa hay vào mùa hè thu của miền Bắc và mùa khô ở miền Nam thì bệnh mắt lồi, xuất huyết lại xảy ra phổ biến trên cá rô phi. Được biết tại Việt Nam cá rô phi lại là một trong những loài cá nước ngọt mang lại giá trị kinh tế cao và có nhiều tiềm năng phát triển lớn, do đó, khi bệnh này xuất hiện đã gây thiệt hại lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản vì tỉ lệ chết cao và đặc biệt gây tác động lớn tới kinh tế cho ba con nông dân. Bệnh này được xác định do con vi khuẩn Streptococcus agalactiae là tác nhân chính gây ra. Hiện nay, biện pháp được sử dụng phô biến là dùng thuốc kháng sinh hay hóa chat dé tiêu diệt vi khuân gây bệnh.
Mặc dù vậy, việc sử dụng kháng sinh, hóa chat còn có nhiều van đề bat cập, đặc biệt là hiện tượng khang kháng sinh đang gia tăng mạnh mẽ trên toàn thé giới, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái, 6 nhiễm môi trường, vấn đề tồn lưu kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản cũng được chú trọng rất nhiều. Với phương châm phát triển ngành thủy sản theo hướng an toàn và bền vững, các nhà khoa học đã, đang sử dụng nguồn thảo dược quý giá trong phòng, trị bệnh nhiễm khuẩn. Nguồn nguyên liệu này rất phong phú, đa dạng, nhất là tại Việt Nam — đất nước có điều kiện khí hậu nóng ẩm, thảm thực vật phát triển mạnh mẽ. Trong nguồn dược liệu quý báu đó, từ xa xưa, ở các bài thuốc đông y, trái nhàu được sử dụng như một loại thuốc quý dùng dé chữa các bệnh như tăng huyết áp, táo bón, tiểu đường hay giúp nhuận tràng, tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.
Tuy nhiên, hầu hết các hợp chất có trong trái nhàu có sinh khả dụng thấp vì chúng không phân cực, có vị đắng, mùi khó chịu và thời gian bảo quản ngắn, do đó sử dung chitosan làm vật liệu bao bọc nano để tăng sinh khả dụng các hợp chất hoạt động có trong trái nhàu. Chitosan được đến là sản phẩm của quá trình deacetyl hóa của chitin, được sử dụng nhiều trong quá trình xử lý nước thải hay tạo ra mảng sinh học giúp bảo quản thực phẩm, trong nông nghiệp được sử dung như một chất chính dé kháng sâu bệnh do có tính kháng khuẩn, kháng nắm. Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào kết hợp hai nguồn nguyên liệu này trong van đề phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn, do đó, đề tài “Điều chế hat nano chitosan trái nhàu và xác định khả năng kháng khuẩn của hạt nano chitosan trái nhàu trên vi khuẩn Streptococcus agalactiae” đã được thực hiện, nhằm kết hợp cao trái nhàu và chitosan dé tạo ra các hạt nano, từ đó, xác định và đánh giá khả năng kháng khuẩn của sản phẩm 1 này đối với vi khuân Streptococcus agalactiae, nhờ vậy có thé tìm ra được những hướng đi mới trong việc giải quyết các van dé về bệnh thủy sản. Mục tiêu đề tài Đánh giá khả năng kháng khuẩn của hạt nano chitosan trái nhàu đối với vi khuân Streptococcus agalactiae gây bệnh trên cá rô phi.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát các điều kiện điều chế cao trái nhàu Nội dung 2: Tạo hạt nano chitosan trái nhàu Nội dung 3: Xác định khả năng kháng khuẩn của hỗn hop dung dich nano chitosan trái nhàu CHUONG 2. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tống quan về cây nhàu Tên khoa học: Morinda citrifolia L. Cây nhàu còn có một số tên gọi khác như nhàu núi, nhàu rừng, cây ngao, một số tên nước ngoài như Great morinda, India Mulberry, Nunaakai (India), Wild pine (Barbados), Cheese fruit (Hawaiian), Mengkudu (Malaysia).
Phan loai khoa hoc Thuộc bộ Long Dom (Gentianales), họ Cà phé/Thién thao (Rubiaceae), chi Nhau (Morinda), loài Morinda citrifolia L. Đặc điểm thực vật Cây Nhàu là cây gỗ đứng, cao khoảng từ 4 đến 8 m. Phién lá to, hình bầu dục hai đầu thuôn nhọn; đài 15 - 30 em rộng 10 - 15 em. Lá màu xanh bóng đậm ở mặt trên, mặt dưới nhạt hơn.
Gan lá hình lông chim, noi rõ ở mặt dưới, 6 - 7 cặp gân phụ. Lá kèm nằm giữa 2 lá mọc đối, hình xoan, cao | - 1,5 cm, màu xanh nhạt. Cụm hoa là đầu hình tròn hay hơi bầu dục, ở ngoài nách lá. Trục cụm hoa hình tru, màu xanh, nhãn, dai 1 - 2 cm.
Đáy cụm hoa có 3 phiến hẹp, dai 5 - 8 mm. Hoa nở quanh năm, tập trung nhiều nhất từ tháng 11 đến tháng 2. Quả hạch kép do bầu noãn và một phần lá đài của các hoa trên cụm hoa dính nhau tạo thành, cây cho quả từ tháng 3 đến thang 5. Quả non có màu xanh nhạt, dai 5 - 7 cm, rộng 3 - 4 em.
Qua giả màu ngà vàng, nhan bóng, mùi khai, trên qua còn vết tích các đĩa mật. Hạt nhiều, hình bầu dục, một đầu nhọn, màu nâu đen (Đỗ Tấn Lợi, 2004). Phân bố sinh thái Cây nhàu có nguồn gốc từ Nam A, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới An Độ Dương — Thái Bình Dương bao gồm phía đông Polynesia (Marquesas, Hawaii), phía tây Polynesia (Samoa, Tonga, Rothmas va Tuvalu), Melanesia (New Guinea, Fiji) và Micronesia (Pohnpei). Ngoài ra cây nhàu còn tập trung ở An Độ, Indonesia và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, cây nhàu thường phát triển nhiều ở miền Nam và một số tỉnh miền Trung như Quảng Binh, Quảng Trị hay Thừa Thiên — Huế. Cây Nhàu có thé sinh trường ở các kiểu môi trường khác nhau, ở vùng dat cát hay đồng bằng, khe núi, trong các khu rừng âm thấp với cường độ ánh sáng kém, ngoài ra, cây có thể thích ứng với môi trường khô hạn. Thành phần hóa học của trái nhàu Dựa vào các nghiên cứu gần đây, có khoảng 200 hợp chất sinh học được tìm thấy trên các bộ phận khác nhau của cây nhau (Almeida và ctv, 2019). Trong bài nghiên cứu của Võ Thị Mai Hương và Trần Thanh Phong (2013) cho thấy trong quả nhàu chín có chứa tới 5,27 g/100 g đường khử; 0,033 g/100 g protein; 8,750 g/100 g lipid và 19,33% cellulose.
Bên cạnh đó, quả nhàu được xác định có chứa một số hợp chất như Alaninie, Arginine, Aspartic acid, Cysteine, Glutamic acid, Glycine, Histidine, Isoleucine, Leucine, Lysine, Methionine, Phenylalanine, Proline, Serine, Threonine, Tryptophan, Tyrosine, Valine, Alizarin, Lucidin, Morindadiol, Rubiadin, B-Carotene, Scopoletin, Caprylic acid, Rutin, Narcissoside, Quercetin, Aucubin, Asperulosidic acid, Deacetylasperulosidic acid, Americanin A, Calcium, Cobalt, Iron, Phosphor, Magnesium, Molybdenum, Potassium, Selentum, Sodium, Zinc, Methyl-a- Dfructofuranoside, Nonioside A, Nonioside B, Nonioside C, Nonioside D, Nonioside E, Nonioside F, Nonioside G, a-B Glicose, B-sitosterol, Ascorbic acid (C), Biotin (B7), Cobalamin (B12), Folic acid (B9), Niacin (B3), Pyridoxine (B6), Riboflavin (B2), Thiamine (B1), Tocopherol (E), Pantothenic acid (B5) (Almeida va ctv, 2019). Công dung cua trai nhau Các bộ phan của cây nhàu gồm qua, hat, lá hay hoa đều có những giá trị dinh dưỡng và công dụng nhất định, tuy nhiên, trái nhàu vẫn được xem là nơi có chứa các hợp chất hóa học có giá trị nhất. Trái nhàu được coi là một thực phẩm chức năng, một hoạt chat tăng cường cho sức khỏe của con người. Từ xa xưa trái nhàu được sử dụng dé điều trị bệnh khó tiêu, làm nhuận tràng, điều hòa kinh nguyệt hay làm tăng hệ miễn dịch cho cơ thé.
Ngoài ra, nước ép trái nhàu còn có khả năng cải thiện giấc ngủ, giảm nhẹ di ứng và bệnh hen suyễn (Westendorf J. Trong một số bài báo khác, trái nhàu còn được nghiên cứu trong các hoạt động kháng khuẩn, kháng viêm, hay hoạt động chống ung thư, chữa lành vết thương (Reem Abou Assi va ctv, 2015). Nước của trái nhàu còn được chứng minh tính kháng khuẩn dựa trên sự phát triển của mười chủng vi khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch (Sina và ctv, 2021). Ngoài ra tinh dầu từ trái nhàu cũng được nhận định là có tiềm năng trong việc kiểm soát sự xâm nhập 4 nam Sclerotium rolfsii lên cây lúa, có khả năng tiêu diệt loại nắm nay ma không gây ra các tác động tiêu cực lên hệ sinh thái môi trường (Osorio và ctv, 2021).
Chitosan và nano chitosan 2. Chitosan Chitosan là một polysaccharide mach thang có nguồn gốc từ quá trình deacetyl hóa của chitin. Chitin được biết tới là thành phần cấu trúc trong vỏ của côn trùng hay động vật giáp xác, đa phan la tôm, cua. Chitosan có cau tao từ D-glucosamine được liên kết với B-(1-4) và N-acetyl-D-Glucosamine.
Phần lớn các polysaccharide thường trung tính hoặc mang điện tích âm trong môi trường axit, do đó chitosan có thể tạo thành các phức hop tĩnh điện có cấu trúc đa lớp với các polyme tổng hợp (Aranaz và ctv, 2021). Cấu trúc hóa học của Chitin va Chitosan. Chitosan được sử dụng rộng rãi cho các ứng dụng sinh học và y sinh nhờ tính chất độc đáo của nó. Chitosan không độc và có khả năng phân hủy sinh học nên không gây ra phản ứng phụ va không gây ảnh hưởng đến môi trường.
Cụ thé, chitosan có thé được sử dụng trong quá trình xử lý nước như thu hồi ion kim loại, hap phụ thuốc nhuộm hoạt tính, làm vật liệu chữa lành vết thương, làm hoạt chất mang thuốc hoặc có tiềm năng trong điều trị béo phì vì có khả năng làm hạn chế hấp thu chất béo. Ngoài ra, chitosan còn có thé làm tăng sắc mau trong vải nhuộm, làm phụ gia thực phẩm, bao quản nguyên liệu duy trì được hương vị và màu sắc tự nhiên. Bên cạnh đó, chitosan cũng được nghiên cứu nhiều trong hoạt động kháng khuẩn, ngay cả ở vi khuẩn gram âm và vi khuẩn gram dương. Điện tích dương của các nhóm amino có thé gây phá vỡ màng tế bảo hoặc thanh tế bào của vi khuẩn, gây cản trở quá trình trao đổi chất dinh dưỡng dẫn đến chết tế bào vi sinh vật va chitosan có thé xuyên qua thành tế bào sau đó tác động đến quá trình tổng hợp DNA/RNA và protein (Yan và ctv, 2021).
Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng chitosan hoạt động như một tác nhân chelate liên kết với nguyên tố kim loại vi lượng gây ra sự sản sinh độc tô và ức chế sự phát triển của vi sinh vật (Divya và ctv, 2017). Nano chitosan Nano chitosan là vật liệu thiên nhiên không gây hại tới môi trường xung quanh, ngoài ra nano chitosan còn có nhiều hoạt tính sinh học có tác dụng kháng nam, kháng khuẩn, chống virus. Nó còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong y học, nano chitosan có khả năng chống ung thư hay làm vật liệu bao gói thuốc vào cơ thé. Hiện tại có năm phương pháp dé chế tao nano chitosan bao gồm phương pháp micelles pha đảo, phương pháp lọc qua rây, phương pháp liên kết chéo trong nhũ tương, phương pháp gel ion, phương pháp kết hợp giọt nhũ tương.