Khảo sát thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại khoa hồi sức tích cực Bệnh viện E

Khảo sát thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện E, cung cấp thông tin và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH

1.1. Định nghĩa

1.2. Cơ chế bệnh sinh và diễn tiến tự nhiên

1.3. Dịch tễ học

1.4. Yếu tố nguy cơ

1.5. Tổng quan về thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân hồi sức tích cực

1.6. Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân hồi sức tích cực

1.7. Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân nội khoa

1.8. Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân ngoại khoa

1.9. Tổng quan các nghiên cứu về thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

1.9.1. Trên thế giới

1.9.2. Tại Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu

2.3. Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4. Các biến số nghiên cứu

2.5. Các quy ước trong nghiên cứu

2.6. Xử lý số liệu

3. KHẢO SÁT CÁC ĐẶC ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN NGUY CƠ THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH VÀ NGUY CƠ CHẢY MÁU CỦA BỆNH NHÂN KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN E

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.2. Đặc điểm nguy cơ TTHKTM

3.3. Đặc điểm nguy cơ chảy máu

3.4. Đặc điểm chống chỉ định dùng thuốc chống đông

3.5. Đặc điểm nhu cầu dự phòng TTHKTM

4. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG DỰ PHÒNG THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH CỦA BỆNH NHÂN KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN E

4.1. Đặc điểm dự phòng phù hợp và không phù hợp

4.2. Thực trạng dự phòng TTHKTM bằng thuốc chống đông

4.3. Khảo sát các đặc điểm liên quan đến nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và nguy cơ chảy máu của bệnh nhân khoa Hồi sức tích cực bệnh viện E

4.4. Tỷ lệ bệnh nhân được dự phòng phù hợp và không phù hợp

4.5. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) là một bệnh lý nghiêm trọng, bao gồm hai biểu hiện chính là huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) và thuyên tắc phổi (TTP). Cơ chế bệnh sinh của TTHKTM liên quan đến ba yếu tố chính trong tam giác Virchow: ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu và tổn thương thành mạch. Tỷ lệ mắc TTHKTM ở bệnh nhân hồi sức tích cực (HSTC) có thể dao động từ 20% đến 80%, tùy thuộc vào phương pháp dự phòng và loại xét nghiệm sàng lọc. Việc chẩn đoán TTHKTM trong khoa HSTC thường gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng, dẫn đến việc nhiều trường hợp không được phát hiện kịp thời. Do đó, việc dự phòng TTHKTM là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ biến chứng và tử vong cho bệnh nhân.

1.1. Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc TTHKTM ở châu Âu dao động từ 0,75 đến 2,69 trên 1000 người. Tại Việt Nam, tỷ lệ này cũng không thấp, với 22% bệnh nhân nội khoa nằm viện có TTHKTM không triệu chứng. Các yếu tố nguy cơ của TTHKTM bao gồm tuổi cao, bất động, phẫu thuật, và các bệnh lý như ung thư, bệnh viêm ruột. Đặc biệt, bệnh nhân HSTC có thêm các yếu tố nguy cơ như nhiễm trùng, sử dụng thuốc vận mạch, và thở máy. Những yếu tố này làm tăng khả năng hình thành huyết khối, từ đó dẫn đến nguy cơ cao hơn về TTHKTM.

II. Thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Dự phòng TTHKTM tại khoa HSTC hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Mặc dù có nhiều khuyến cáo từ các hiệp hội y tế, tỷ lệ bệnh nhân được dự phòng phù hợp vẫn còn thấp. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bệnh nhân không được áp dụng các biện pháp dự phòng như sử dụng thuốc chống đông hoặc bơm hơi áp lực ngắt quãng (IPC). Việc thiếu sót trong dự phòng không chỉ làm tăng nguy cơ TTHKTM mà còn dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện thực trạng này.

2.1. Phân tích thực trạng dự phòng

Phân tích thực trạng cho thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân được dự phòng TTHKTM tại khoa HSTC còn thấp, với nhiều trường hợp không được áp dụng biện pháp dự phòng phù hợp. Các nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 95% bệnh nhân không được chẩn đoán kịp thời, dẫn đến việc điều trị gặp khó khăn. Việc áp dụng các biện pháp dự phòng như thuốc chống đông và IPC cần được tăng cường để giảm thiểu nguy cơ TTHKTM. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bác sĩ và nhân viên y tế để đảm bảo rằng mọi bệnh nhân đều được đánh giá và điều trị dự phòng một cách đầy đủ.

III. Đề xuất giải pháp cải thiện dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Để cải thiện tình hình dự phòng TTHKTM tại khoa HSTC, cần thiết phải xây dựng các hướng dẫn cụ thể và đào tạo nhân viên y tế về tầm quan trọng của việc dự phòng. Việc áp dụng các công nghệ mới trong chẩn đoán và điều trị cũng cần được xem xét. Hơn nữa, cần có các chương trình giám sát và đánh giá hiệu quả của các biện pháp dự phòng đã được thực hiện. Sự tham gia của bệnh nhân trong việc nhận thức về nguy cơ và biện pháp dự phòng cũng là một yếu tố quan trọng.

3.1. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Các biện pháp can thiệp cần được thực hiện bao gồm việc tăng cường sử dụng thuốc chống đông, áp dụng IPC, và tổ chức các buổi đào tạo cho nhân viên y tế về cách nhận diện và quản lý nguy cơ TTHKTM. Cần có sự phối hợp giữa các khoa phòng trong bệnh viện để đảm bảo rằng mọi bệnh nhân đều được theo dõi và điều trị dự phòng một cách đồng bộ. Việc xây dựng một hệ thống thông tin để theo dõi tình trạng dự phòng của bệnh nhân cũng là một giải pháp hữu hiệu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) là bệnh lý gồm hai biểu hiện là huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) và thuyên tắc phổi (TTP) [77]. Tỷ lệ mắc TTHKTM trung bình hàng năm ở châu Âu nằm trong khoảng từ 104 đến 183 trên 100. Ở châu Á, trước đây TTHKTM được cho là hiếm gặp, nhưng một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ mắc ở châu Á ngày càng tăng lên và có thể so sánh với các nước phương Tây [28,44,46]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu INCIMEDI, tỷ lệ TTHKTM không triệu chứng ở bệnh nhân nội khoa nằm viện là 22% [7].

Trong số bệnh nhân mắc TTHKTM, TTP xảy ra ở 1/3 số trường hợp và là nguyên nhân chính gây tử vong [40]. Tỷ lệ tử vong do TTP thậm chí cao hơn tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim vì nhồi máu cơ tim dễ phát hiện để điều trị hơn [33]. Bệnh nhân điều trị tại khoa hồi sức tích cực (HSTC) có nhiều yếu tố nguy cơ đối với TTHKTM. Tỷ lệ mắc được báo cáo khá cao dao động từ 20 - 80% tùy thuộc vào dân số nghiên cứu, phương pháp dự phòng và loại xét nghiệm sàng lọc được sử dụng [53].

Tuy nhiên chẩn đoán TTHKTM ở khoa HSTC rất khó khăn do triệu chứng bị nhiễu bởi các lí do khác nhau như thở máy, an thần, hôn mê,…, có tới 95% các trường hợp HKTMS ở khoa HSTC không biểu hiện triệu chứng lâm sàng [26]. Do việc chẩn đoán thường dễ bị bỏ sót và việc điều trị TTHKTM cũng khó khăn, kéo dài và có nguy cơ gặp biến chứng nên dự phòng TTHKTM tại khoa HSTC là một chiến lược hiệu quả và an toàn. Hiện nay, dựa trên dữ liệu về hiệu quả và an toàn từ các thử nghiệm lâm sàng, nhiều hiệp hội chuyên ngành trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra khuyến cáo dự phòng TTHKTM [8,30,34,38,54]. Tuy nhiên, trên thực tế, một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy tỷ lệ dự phòng không phù hợp trên bệnh nhân nội trú nói chung và bệnh nhân HSTC nói riêng [24,56,63].

Tại Việt Nam, dữ liệu về thực trạng dự phòng TTHKTM ở bệnh nhân HSTC còn rất hạn chế. Những kết quả trên cho thấy việc dự phòng TTHKTM đầy đủ, phù hợp để đảm bảo tính án toàn, chi phí điều trị cho bệnh nhân đang là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng và cần có những đánh giá cụ thể hơn trên đối tượng bệnh nhân HSTC tại Việt Nam. Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa với nhiều khoa phòng và tiếp nhận nhiều đối tượng bệnh nhân khác nhau. Bởi vậy, để bước đầu có góc nhìn hệ thống về thực trạng dự phòng TTHKTM, phát hiện các khoảng trống trong thực hành lâm sàng, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý và xây dựng hướng dẫn dự phòng phù 1 Luan van hợp tại bệnh viện trong tương lai, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện E” với các mục tiêu sau: Mục tiêu 1: Khảo sát các đặc điểm liên quan đến nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và nguy cơ chảy máu của bệnh nhân khoa Hồi sức tích cực bệnh viện E.

Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch của bệnh nhân khoa Hồi sức tích cực bệnh viện E. 2 Luan van CHƢƠNG 1. Tổng quan về thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch 1. Định nghĩa Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) là bệnh lý bao gồm hai biểu hiện là huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) và thuyên tắc phổi (TTP) [77].

Trong đó, HKTMS là tình trạng hình thành huyết khối (cục máu đông) bên trong lòng tĩnh mạch sâu, TTP xảy ra khi huyết khối thoát ra khỏi cục máu đông trong tĩnh mạch và đi qua tim đến động mạch phổi [71]. Cơ chế bệnh sinh và diễn tiến tự nhiên Cơ chế hình thành huyết khối tĩnh mạch là do sự phối hợp của 3 yếu tố (gọi là tam giác Virchow) là ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông và tổn thương thành mạch [9]. Trong đó, đóng vai trò chính là 2 yếu tố ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông [7]. HKTMS gồm HKTMS chi dưới và HKTMS chi trên.

HKTMS chi dưới thường phổ biến hơn gấp 10 lần so với HKTMS chi trên [77]. HKTMS chi dưới có thể ở đoạn xa (tĩnh mạch vùng bắp chân), hay ở đoạn gần (tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch vùng đùi - chậu). Huyết khối tĩnh mạch sâu thường khởi đầu ở bắp chân. Sau khi hình thành ở bắp chân, 50% huyết khối tự tiêu trong vòng 72 giờ và khoảng 1/6 lan đến các tĩnh mạch vùng đùi - chậu.

Huyết khối từ tĩnh mạch chi dưới có thể di chuyển về tim, lên động mạch phổi gây tắc mạch phổi cấp. Huyết khối tĩnh mạch vùng đùi - chậu thường gây triệu chứng hơn và có nguy cơ gây thuyên tắc động mạch phổi cao hơn so với huyết khối vùng bắp chân. Có 50% khả năng bệnh nhân bị HKTMS đoạn gần có triệu chứng không được điều trị phát triển thành TTP trong vòng 3 tháng [40]. Dịch tễ học Các nghiên cứu từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc và Nam Mỹ Latinh báo cáo tỷ lệ mắc TTHKTM hàng năm dao động từ 0,75 đến 2,69 trên 1000 người [58].

TTHKTM sau phẫu thuật là một biến chứng phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân ngoại khoa. Trong số hơn 7 triệu bệnh nhân được xuất viện từ 944 bệnh viện ở Hoa Kỳ, TTHKTM sau phẫu thuật là nguyên nhân phổ biến thứ hai dẫn đến thời gian nằm viện kéo dài và là nguyên nhân phổ biến thứ ba gây tử vong và chi phí vượt mức [67]. Một nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ 3 Luan van đã báo cáo HKTMS xảy ra ở 1,3% và TTP xảy ra ở 0,4% trường hợp nhập viện [62]. Theo một nghiên cứu ở 6 nước châu Âu, hàng năm có khoảng 465.715 trường hợp bị HKTMS, trong đó có 295.982 (63,55%) trường hợp TTP và 370.

Nghiên cứu tại châu Á cho thấy tỷ lệ HKTMS tại châu lục này ngày càng gia tăng. Năm 2002, một nghiên cứu ở Singapore cho thấy tỷ lệ HKTMS là 15,8 trên 100.000 trường hợp nhập viện, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 2,8 và 7,9 trên 100.000 trường hợp vào năm 1990 và 1992 [44]. Nghiên cứu SMART trên bệnh nhân ngoại khoa tại 11 quốc gia châu Á báo cáo tỷ lệ TTHKTM có triệu chứng, HKTMS và TTP lần lượt là 1,0%, 0,9% và 0,2% [46]. Tại khoa HSTC, tỷ lệ mắc TTHKTM dao động từ 5,4 - 31% tuỳ theo từng nhóm bệnh và các phương pháp chẩn đoán được sử dụng.1 tổng quan một số nghiên cứu về tỷ lệ HKTMS ở bệnh nhân HSTC khi không được dự phòng [52].

Tỷ lệ HKTMS ở bệnh nhân HSTC không đƣợc dự phòng Tỷ lệ Phƣơng pháp chẩn Số bệnh Tác giả Đối tƣợng HKTMS đoán nhân (%) Moser và cộng Quét fibrinogen gắn I HSTC hô hấp 23 13 sự (1981) trong 3 - 6 ngày Cade (1982) Quét fibrinogen gắn I HSTC chung 59 29 trong 4 - 10 ngày Kapoor và Siêu âm Doppler cộng sự (1999) HSTC nội khoa mạch có nén lúc vào 390 31 và 3 ngày 1 lần Fraisse và COPD nặng, thở Siêu âm Doppler cộng sự (2000) máy > 48 giờ mạch có nén hàng 85 28 tuần và chụp mạch TTP được chẩn đoán về mặt lâm sàng ở 0,4 - 2,3% bệnh nhân HSTC nội khoa, tỷ lệ này là 3,2% ở bệnh nhân HSTC sau chấn thương [52]. Trong một nghiên cứu trên 176 bệnh nhân thở máy cần chụp CT lồng ngực, TTP được chẩn đoán ở 18,7% bệnh nhân và không có triệu chứng trên lâm sàng ở 60,0% bệnh nhân trong số này. 4 Luan van Sau khi siêu âm Doppler mạch có nén, phát hiện HKTMS kết hợp TTP ở 33,0% bệnh nhân [51]. Tại Việt Nam, dữ liệu về tỷ lệ TTHKTM ở bệnh nhân HSTC còn khá hạn chế.

Tác giả Huỳnh Văn Ân và Ngô Văn Thành khảo sát HKTMS trên 54 bệnh nhân nhập viện điều trị tại khoa HSTC vì một bệnh lý nội khoa cấp tính bằng siêu âm Duplex tĩnh mạch hai chi dưới, kết quả có 46,0% bệnh nhân có HKTMS sau 1 tuần nằm viện và thêm 17,0% bệnh nhân còn lại sau tuần thứ 2 [9]. Yếu tố nguy cơ Các yếu tố nguy cơ (YTNC) của TTHKTM liên quan đến ít nhất một trong ba yếu tố thuộc tam giác Virchow (ứ trệ tuần hoàn, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông và tổn thương thành mạch). Nguy cơ tăng lên khi có sự kết hợp giữa các YTNC riêng lẻ [16,81]. - Ứ trệ tuần hoàn: tuổi cao, bất động, đột quỵ, liệt, tổn thương tủy sống, bệnh đa hồng cầu, máu quá đặc (hyperviscosity), đợt cấp COPD, gây mê, béo phì, giãn tĩnh mạch.

- Rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông:  Yếu tố mắc phải: ung thư, mang thai hoặc sau sinh, dùng thuốc (thuốc tránh thai, thuốc thay thế hormone, thuốc điều trị ung thư), bệnh viêm ruột, hội chứng thận hư, hội chứng kháng phospholipid.  Yếu tố bẩm sinh: đột biến yếu tố V Leiden, đột biến gen prothrombin (G20210A); thiếu protein C, protein S, antithrombin. - Tổn thương thành mạch: phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật chỉnh hình, chấn thương, tiền sử TTHKTM. Hậu quả TTHKTM gây gánh nặng về kinh tế đối với bệnh nhân và hệ thống y tế.

Một nghiên cứu tiến hành tại 30 trung tâm trên khắp Hoa Kỳ từ năm 1998 đến năm 2005 ước tính rằng tổng chi phí hàng năm cho TTHKTM dao động từ 7594 đôla đến 16.644 đôla cho mỗi bệnh nhân [61]. Chất lượng cuộc sống cũng bị ảnh hưởng sau khi mắc TTHKTM do có thể dẫn đến các biến chứng: huyết khối lan rộng, tăng áp lực động mạch phổi do thuyên tắc động mạch phổi mạn tính [6,8]. - Huyết khối lan rộng: huyết khối có thể lan từ các tĩnh mạch sâu ở cẳng – đùi, tới tĩnh mạch chậu cùng bên, tĩnh mạch chủ dưới và lan sang bên đối diện [6]. 5 Luan van - Tăng áp lực động mạch phổi do thuyên tắc động mạch phổi mạn tính: là một hội chứng bệnh lý bao gồm các triệu chứng khó thở, mệt, giảm khả năng gắng sức do huyết khối gây tắc nghẽn đoạn gần động mạch phổi và tình trạng tái cấu trúc tuần hoàn phổi phía ngoại vi, gây ra tăng áp lực động mạch phổi và tiến triển tới suy chức năng thất phải [8].

- Hội chứng hậu huyết khối: là những triệu chứng của suy tĩnh mạch mạn tính (đau, phù, loạn dưỡng, loét) xuất hiện thứ phát sau khi bị HKTMS chi dưới [8].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát thực trạng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại khoa hồi sức tích cực Bệnh viện E" của tác giả Kiều Thị Ngọc Anh, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Trung Nghĩa và ThS. Trần Thị Thu Trang, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và các biện pháp dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trong môi trường hồi sức tích cực. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe quan trọng này mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho việc cải thiện quy trình chăm sóc bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, một khía cạnh quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh đó, bài viết Tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2021 cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về quy trình chăm sóc tĩnh mạch, liên quan mật thiết đến thuyên tắc huyết khối. Cuối cùng, bài viết Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp dự phòng trong phẫu thuật, một lĩnh vực có liên quan đến việc quản lý rủi ro trong y tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.