ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm trùng đường tiết niệu (nhiễm trùng tiểu) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe mỗi người. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thu Hương – Trưởng khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết đây là loại nhiễm trùng đứng thứ ba (chỉ sau viêm đường hô hấp và tiêu hóa). Theo số liệu thống kê, mỗi năm có 8 – 10 triệu người bị nhiễm trùng tiểu hay viêm đường tiểu; đặc biệt, nữ giới thường dễ bị nhiễm trùng đường tiểu hơn so với nam giới bởi vì đường niệu đạo của nữ giới ngắn và gần hậu môn hơn so với nam giới. Theo thông tin từ bệnh viện Nhi Đồng 1 cập nhật ngày 25/07/2017, ước tính có khoảng 1% số trẻ trai và 3% số trẻ gái < 11 tuổi bị ít nhất một đợt nhiễm trùng tiểu.
Nhiễm trùng tiểu có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, từ thể nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng đến các trường hợp nặng trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết. Nhiễm trùng tiểu là tình trạng thường gặp và thường xảy ra ở trẻ em (cả nam và nữ) ở mọi lứa tuổi (Zelikovic I et al. Trẻ em dưới 5 tuổi, do vệ sinh không đúng cách và / hoặc sức đề kháng yếu và / hoặc bị dị tật bẩm sinh là những đối tượng dễ mắc nhiễm trùng tiểu nhất. Ngoài ra, tả lót không được thay thường xuyên cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiễm trùng tiểu cho trẻ em.
Nhiễm trùng tiểu là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, do đó mà trẻ em bị nhiễm trùng tiểu nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ gây ra những biến chứng nặng nề như suy giảm chức năng thận, suy thận cấp và mạn tính, viêm bàng quang, nhiễm trùng huyết …; thậm chí gây đe dọa đến tính mạng (Zelikovic I et al. Nhiễm trùng tiểu cần được chẩn đoán và điều trị sớm bởi vì nếu không điều trị, tình trạng nhiễm trùng cứ tái đi tái lại sẽ dẫn đến các vấn đề lâu dài khác. Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì có đến 80 % số bệnh nhân bị nhiễm trùng tiểu là do vi khuẩn Escherichia coli gây ra; vi khuẩn Proteus spp thường SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 1 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths.
Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh gặp ở trẻ trai > 1 tuổi, trẻ bị sỏi tiết niệu; vi khuẩn Klebsiella pneumoniae và Enterococci lại thường gặp ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, nhiễm trùng tiểu cũng có thể do một số loại vi khuẩn khác gây ra bao gồm vi khuẩn Staphylococcus saprophyticus (5-15%), Staphylococcus albus, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella spp; đây là những vi khuẩn thường gặp ở bệnh nhân bị bệnh thận - tiết niệu hoặc những bệnh nhân có đặt ống thông tiểu, hoặc bệnh nhân sau can thiệp ngoại khoa; và chúng thường đề kháng với nhiều loại kháng sinh. Hiện nay, nhiễm trùng tiểu được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiễm trùng đường tiểu, nhưng ngày càng khó điều trị do vi khuẩn kháng thuốc và dễ tái phát.
Theo các nhà nghiên cứu đến từ Anh quốc, nguyên nhân của hiện tượng đề kháng kháng sinh chính là do việc kê đơn quá liều hay người bệnh quá lạm dụng thuốc kháng sinh trong một thời gian dài. Vi khuẩn kháng thuốc là một trong những mối đe dọa sức khỏe toàn cầu đầy thách thức nhất trong y học hiện đại. Nhiễm trùng tiểu là một trong những bệnh nhiễm khuẩn thường gặp nhất, đại diện cho các nhiễm trùng đề kháng kháng sinh phổ biến nhất. Bryce và cộng sự cho thấy, mối đe dọa này đang rất phổ biến đối với những bệnh nhân nhỏ tuổi bị nhiễm trùng tiểu do vi khuẩn E.coli – loại nhiễm trùng rất dễ gặp ở trẻ em (Bryce A et al.
Đặc biệt, vi khuẩn E. coli ngày càng đề kháng cao với kháng sinh thông thường kể cả nhóm fluoroquinolone như ciprofloxacin (65,8%), ofloxacin (57,8%), norfloxacin (68,6%) và nhóm cephalosporine như ceftriaxone (55,0%,); tuy nhiên lại có tỉ lệ đề kháng rất thấp đối với nhóm Imipenem và Meropenem (khoảng 2,0%) (Đặng Mỹ Hương, 2011). Đối với vi khuẩn Klebsiella spp, tỉ lệ đề kháng với Tazocin, Amikacin và Imipenem / Meropenem theo thứ tự lần lượt là 28,9 %, 15,8 % và 10,5 %. Vi khuẩn Enterococcuss fecalis là vi khuẩn có tỉ lệ đề kháng với nhóm kháng sinh họ fluoroquinolone cao như Ciprofloxacine (69,4%), Norfloxacine (79,2%) nhưng còn nhạy cảm tốt với kháng sinh Vancomycine (100%) và Nitrofuratoin (81,7%) (Đặng Mỹ Hương, 2011).
Vi khuẩn Proteus spp có tỉ lệ đề kháng với kháng nhóm fluoroquinolone cao hơn SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh nhóm Cefalosporine (44% - 63% so với 8,5% - 31,8%). Tỷ lệ đề kháng của vi khuẩn Proteus spp có tỷ lệ đề kháng với Amikacin cao hơn so với các chủng vi khuẩn E. coli và Klebsiella spp (theo thứ tự lần lượt là 18,28%, 12,1% và 15,6%) và còn nhạy cảm tốt với kháng sinh Imipenem và Meropenem (Đặng Mỹ Hương, 2011).
Các vi khuẩn đường ruột họ Enterobacteriacea (E. coli, Klebsiella …) tiết men β - Lactamase phổ rộng (ESBL) và các vi khuẩn không lên men như Pseudomonas spp; Acinetobacter baumanii hiện tại là những vi khuẩn đa kháng, đề kháng cao với các kháng sinh đang dùng, nhất là các kháng sinh họ Quinolone, họ Beta lactams, họ Carbapenem cũng có khuynh hướng bị đề kháng trong những năm gần đây (Trần Quang Bính và cộng sự. Các chủng sinh ESBLs đề kháng với các kháng sinh cao hơn nhiều so với chủng không sinh ESBLs (trên 70%) (Phạm Ngọc Kiếu và cộng sự. Theo ghi nhận của Trần Thị Thanh Nga tháng 1/2010‐12/2011 tỉ lệ sinh ESBLs tại Chợ Rẫy là 43% đối với E.coli, 36% đối với Klebsiella và 15% đối với P.
coli, 47,8% đối với Klebsiella và 119,8% đối với P. Do khả năng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày càng tăng nên vấn đề sử dụng kháng sinh một cách tùy tiện cần phải được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời tỷ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh ngày một gia tăng nên việc xác định mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn mang ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn kháng sinh hữu hiệu nhất để điều trị cho bệnh nhân nhiễm trùng nói chung và bệnh nhân nhiễm trùng tiểu nói riêng, và tránh được những rủi ro không mong muốn. SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 3 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin thực hiện đề tài: “Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng tiểu ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 04-2018 đến tháng 03- 2019.
SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 4 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh MỤC TIÊU I. Mục tiêu tổng quát Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng tiểu ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 04- 2018 đến tháng 03-2019. Mục tiêu cụ thể 1.
Khảo sát tỷ lệ phân bố bệnh phẩm theo tuổi, giới tính và khoa lâm sàng. Khảo sát tần suất xuất hiện của các vi khuẩn trong nhiễm trùng tiểu. Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng tiểu. Xác định tỉ lệ vi khuẩn có khả năng sinh ESBLs của vi khuẩn E.
Xác định tỉ lệ vi khuẩn có khả năng sinh ESBLs của vi khuẩn Klebsiella spp. SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 6 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh 1.
NHIỄM TRÙNG TIỂU 1. Giới thiệu chung về nhiễm trùng tiểu Ước tính mỗi năm lại có khoảng 8.3 triệu lượt người đến khám bệnh về viêm đường tiết niệu. Phụ nữ dễ bị viêm hơn nam giới, cứ mỗi 5 phụ nữ thì lại có 1 người bị viêm đường tiết niệu, vào một giai đoạn nào đó trong đời. Nhiễm trùng tiểu ít xảy ra ở nam giới hơn nhưng nếu có thì thường sẽ rất nặng.
Nhiễm trùng đường tiểu có thể xảy ra ở bất kỳ đâu trong đường tiết niệu (Trần Thanh Hùng, 2019). Tỉ lệ mắc nhiễm trùng đường tiểu ở trẻ sơ sinh vào khoảng 0,1-1% và tăng cao đến 10% ở trẻ sơ sinh nhẹ cân. Trước 1 tuổi, trẻ trai thường bị cao hơn trẻ gái. Sau lứa tuổi này nhiễm trùng tiểu thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn so với trẻ trai (Ahmed S.
Nhiễm trùng đường tiểu là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, nếu không được phát hiện và điều trị dứt điểm bệnh sẽ nặng hơn. Nhiễm trùng đường tiết niệu hay nhiễm trùng đường tiểu, xảy ra khi có sự xuất hiện của vi khuẩn ở bất kỳ cơ quan nào thuộc đường tiết niệu. Hầu hết các nhiễm trùng tiểu do vi khuẩn gây ra, nhưng một số là do nấm và trong các trường hợp hiếm hoi do vi-rút gây ra. Nhiễm trùng tiểu được chuẩn đón xác định khi cấy nước tiểu được: ❖ Nếu số lượng vi khuẩn > 105 kết luận là nhiễm trùng tiểu.
❖ Nếu số lượng vi khuẩn 104 - 105 nghi ngờ nhiễm trùng tiểu, cần kết hợp với lâm sàng, xét nghiệm trực tiếp xem số lượng bạch cầu niệu. Nếu có > 1 BC/ 1 vi trường thì cần phải xác định vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. ❖ Nếu số lượng vi khuẩn < 104 kết luận không có nhiễm trùng tiểu (Lê Quốc Thịnh và cộng sự. Với một loại vi khuẩn duy nhất Đường tiểu hay còn gọi là đường tiết niệu gồm có hai quả thận, hai ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang, bóng đái và ống dẫn nước tiểu từ bàng SVTH: Bùi Thị Yến Nhi - 1553010132 Trang 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths.
Bs Lê Quốc Thịnh GVĐHD: Ths.Dương Nhật Linh quang ra lỗ niệu đạo để ra ngoài khi tiểu tiện. Trong đó, bàng quang và niệu đạo thường bị nhiễm trùng nhất (Chung Tuấn Khiêm, 2014). Nước tiểu bình thường vô trùng ( tức là vi khuẩn sẽ không nhập được). Nó chứa dịch, muối và các chất thải, nhưng nó không chứa vi khuẩn, virus và nấm.
Nhiễm trùng xảy ra khi vi sinh vật, thường là vi khuẩn từ đường tiêu hóa, bám vào lỗ mở của niệu đạo và bắt đầu nhân lên, gây nên tình trạng viêm nhiễm trùng đường tiểu.