ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng sinh là những chất được chiết xuất từ các vi sinh vật, nấm, được tổng hợp hay bán tổng hợp, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn. Tác nhân điều trị đặc hiệu nào đều có nguy cơ bị đề kháng kể từ lần đầu chúng được ứng dụng. Điều này đúng với các tác nhân trong điều trị nhiễm vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng và virus mà cụ thể hơn là các kháng sinh (Davies J& Davies D.
Theo báo cáo của Diễn dàn kinh tế thế giới về các rủi ro toàn cầu, đề kháng kháng sinh là một trong những mối nguy hại lớn đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người.000 người chết mỗi năm do nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc.000 người nhiễm vi khuẩn đa kháng kháng sinh và đó là nguyên nhân gây tử vong 23.000 trường hợp hằng năm (Blair J. Vi khuẩn Staphylococcus aureus là vi khuẩn hình cầu, Gram dương, đường kính 0,5-1,5 µm, tế bào xếp thành hình chùm nho, không di động. Thành tế bào kháng với lysozyme và nhạy với lysotaphin. Staphylococcus aureus là những vi khuẩn hiếu khí hay kị khí tùy nghi, có enzyme Catalase phân giải oxy già giải phóng oxy và nước (Nguyễn Đỗ Phúc, 2013).
Staphylococcus aureus đã đề kháng gần như tất cả các kháng sinh trong thử nghiệm với mức độ kháng khá cao. Tỉ lệ MRSA chiếm 49,7% trong tổng số 293 chủng Staphylococcus aureus thực hiện tính nhạy cảm kháng sinh với tỉ lệ kháng và đa kháng sinh đều cao hơn so với các chủng MSSA (Phan Nữ Đài Trang, 2016). Trong tổng số 293 chủng Staphylococcus aureus được thực hiện kháng sinh đồ có 145/293 chủng Staphylococcus aureus kháng Methicillin (Methicillin resistant S. aureus, MRSA) chiếm 49,7 % và 147/293 chủng S.
aureus nhạy cảm với Methicillin (Methicillin susceptible Staphylococcus aureus, MSSA) chiếm 50,5 %. 1 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Lê Thị Trúc Linh Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO khu vực cho thấy: hầu như tất cả các khu vực đều xảy ra kháng cao với Methicillin trong điều trị Staphylococcus aureus (MRSA) ; Trong đó, Đông Nam Á hơn 25% , Đông Địa Trung Hải hơn 50%, Châu Âu 60%, Châu Phi 80%, Tây Thái Bình Dương 80%, Châu Mỹ 90%. Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập từ bệnh phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cho thấy tỷ lệ đề kháng với kháng sinh Penicillin, Ciprofloxacin, Amoxicillin và Gentamycin theo thứ tự lần lượt là 94,1% ; 52,9%, 52,0% và 12,5% (Nguyễn Thị Kê và cs, 2006). Vi khuẩn Staphylococcus aureus thường gây nhiễm khuẩn thông thường như mụn trứng cá, mụn nhọt, mụn bọc, viêm lỗ tai và xoang mũi, viêm màng não, viêm màng trong tim và nhiễm khuẩn đường tiểu ; đặc biệt vi khuẩn này là một trong những căn nguyên hàng đầu gây nhiễm trùng cộng đồng và nhiễm trùng bệnh viện.
Vi khuẩn Staphylococcus aureus có nhiều yếu tố độc lực, mức độ kháng sinh cao và mang nhiều gen kháng nhiều loại kháng sinh khác nhau nên việc điều trị nhiễm trùng gặp nhiều khó khăn. Các phòng xét nghiệm có thể phân lập được vi khuẩn Staphylococcus aureus từ mọi bệnh phẩm lâm sàng. Việc xuất hiện nhiều các chủng kháng Methicillin (Methicillin resistant S. aureus hay MRSA) làm cho nhiễm trùng do vi khuẩn Staphylococcus aureus thường diễn biến nặng và phức tạp.
Kháng sinh Methicillin được xem là kháng sinh hàng đầu để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn Staphylococcus aureus. Tuy nhiên, vi khuẩn Staphylococcus aureus kháng Methicillin đã được báo cáo vào những năm 1960 và tình trạng đề kháng này ngày càng nghiêm trọng. Ở Việt Nam, tuy có nhiều nghiên cứu tỷ lệ MRSA đa đề kháng kháng sinh nhưng diễn biến của nhiễm trùng do vi khuẩn Staphylococcus aureus thay đổi theo thời gian, theo từng bệnh viện khác nhau. Do đó, việc xác định sự phân bố Staphylococcus aureus ở các loại bệnh phẩm, ở các phòng và mức độ nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn này theo thời gian là hết sức cần thiết để xây dựng được phác đồ điều trị theo kinh nghiệm cho các bác sĩ lâm sàng nhằm nâng 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Lê Thị Trúc Linh cao tính hiệu quả và an toàn điều trị, đồng thời làm giảm áp lực của việc chọn lọc đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.
Chính vì những lí do trên, việc thực hiện đề tài “Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 04/2018 đến tháng 03/2019” là cần thiết để giúp xây dựng, điều chỉnh và cập nhật phác đồ điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Staphylococcus aureus gây ra tại bệnh viện. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập được tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 04/2018 đến tháng 03/2019. Mục tiêu cụ thể + Khảo sát tỷ lệ phân bố vi khuẩn Staphylococcus aureus theo tuổi, giới tính của bệnh nhân. + Khảo sát tỷ lệ phân bố vi khuẩn Staphylococcus aureus theo bệnh phẩm.
+ Khảo sát tỷ lệ phân bố vi khuẩn Staphylococcus aureus theo khoa lâm sàng. + Khảo sát tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus. 3 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Lê Thị Trúc Linh PHẦN I.1 Nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ (nhiễm khuẩn ngoại khoa) Nhiễm khuẩn: là tình trạng tác nhân gây bệnh tăng sinh trong cơ thể ký chủ, không bao gồm sự tăng sinh của các vi sinh vật thường trú trong cơ thể tại vị trí thông thường của chúng. Sự tăng sinh của vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể dù không biểu hiện triệu chứng vẫn được coi là nhiễm khuẩn.
Nhiễm khuẩn vết mổ: là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant). Nhiễm khuẩn ngoại khoa (NKNK) là nguyên nhân đứng hàng thứ hai trong các nguyên nhân nhiễm trùng thường gặp nhất ở bệnh nhân hậu phẫu (sau nhiễm trùng tiểu), chiếm 15% trong tổng số ca nhiễm trùng bệnh viện, đại diện cho các bệnh nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất. Nguyên nhân gây nhiễm trùng ngoại khoa: có thể do chủng loại số lượng và độc tính của vi khuẩn; do tụ dịch trong vết mổ; giảm sức đề kháng tại vết mổ. Nhiễm khuẩn mà người bệnh mắc phải trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế được gọi chung là nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV).
Tất cả các bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện đều có nguy cơ mắc NKBV. Đối tượng có nguy cơ NKBV cao là trẻ em, người già, bệnh nhân suy giảm hệ miễn dịch, thời gian nằm điều trị kéo dài, không tuân thủ nguyên tắc vô trùng trong chăm sóc và đều trị, nhất là không tuân thủ rửa tay và sử dụng quá nhiều kháng sinh. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa như sau: “Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không 4 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Lê Thị Trúc Linh nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện”.2 Tình hình gây nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ của vi khuẩn Staphylococus aureus trên Thế giới và ở Việt Nam 1.1 Trên thế giới Nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ là hậu quả không mong muốn thường gặp nhất và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người bệnh được phẫu thuật trên toàn thế giới.
Tại Hoa Kỳ, NKNK đứng hàng thứ 2 sau nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện. Tỷ lệ người bệnh được phẫu thuật mắc nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ thay đổi từ 2% - 15% tùy theo loại phẫu thuật. Hàng năm, số người bệnh mắc nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ ước tính khoảng tầm 2 triệu người. Ước tính trong 27 triệu ca phẫu thuật mỗi năm, SSI chiếm 14-16% của các ca nhiễm trùng bệnh viện.
Nhiễm trùng bệnh viện gây ra bởi Staphylococcus aureus đã tăng lên đều đặn trong những năm gần đây trên thế giới. Các nghiên cứu quy mô vùng, quốc gia và liên quốc gia của các nước và Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận tỷ lệ NKBV từ 3,5% đến 10% người bệnh nhập viện. Vi khuẩn Staphylococcus aureus là một tác nhân gây nhiễm trùng bệnh viện ngày càng nghiêm trọng. Trong một nghiên cứu gần đây từ các bệnh viện thành phố New York, nhiễm trùng bệnh viện do vi khuẩn Staphylococcus aureus chiếm 29%.
Năm 2000, tại Hồng Kông, tỷ lệ tụ cầu vàng gây bệnh chiếm 18%.2 Ở Việt Nam Việt Nam cũng là một trong những nước có tỷ lệ nhiếm tụ cầu vàng cao trong khu vực Châu Á. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Nhâm năm 1998 tại bệnh viện Việt Đức cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ chung là 9,1%. Tại bệnh viện Giao thông vận tải TW, nghiên cứu của Lê Tuyên Hồng Dương (1995) cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ tại khoa Ngoại Bệnh viện <2%. 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Lê Thị Trúc Linh Tình hình nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus tại Việt Nam rất đáng báo động.
Trong bài “Báo cáo hoạt động theo dõi sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp ở Việt Nam 6 tháng đầu năm 2006” của báo Dược lâm sàng Đại học Dược Hà Nội số 10, năm 2006 cho thấy vi khuẩn Staphylococcus aureus là một trong những vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất, vi khuẩn này chiếm 9,8%. Nghiên cứu tại viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 từ các bệnh phẩm cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus chiếm 23,6% và đa số là phân lập được từ các bệnh phẩm mủ (chiếm 36,3%).2 Sơ lược về vi khuẩn Staphylococcus aureus.1 Giới thiệu chung Vi khuẩn Staphylococcus có nguồn gốc từ tiếng Latin, staphylo (chùm nho) và coccus (hạt). Vi khuẩn Staphylococcus aureus do Robert Koch phát hiện sau khi thực hiện phân lập từ mủ ung nhọt vào năm 1978. Năm 1880 Louis Paster cũng đã tiến hành phân lập và nghiên cứu về vi khuẩn Staphylococcus aureus.
Tại hội nghị lần thứ 9 hội phẫu thuật Đức, một Bác sĩ người Scotland Alexander Ogston đã sử dụng tụ cầu khuẩn (Staphylococcus) và trình bày khá đầy đủ về vai trò của vi khuẩn Staphylococcus aureus trong các bệnh lý sinh mủ lâm sàng ngày 09/04/1880.