ĐẶT VẤN ĐỀ Bạch cầu cấp (acute leukemia) là loại ung thƣ phổ biến nhất ở trẻ em, chiếm 25-35% tổng số ung thƣ nhi. Bạch cầu cấp dòng tủy (acute myeloid leukemia – AML) và Bạch cầu cấp dòng lympho (acute lymphoblastic leukemia – ALL) là hai phân nhóm chính, trong đó ALL chiếm khoảng 76%. AML, phân nhóm lớn thứ hai trong ung thƣ máu trẻ em, chiếm 15-20% nhƣng chịu trách nhiệm cho 30% tử vong liên quan đến leukemia trẻ em [40]. Bạch cầu cấp tiền tủy bào (acute promyelocytic leukemia – APL) là một dƣới nhóm của AML, tƣơng ứng với M3 theo phân loại cũ FAB và ngày nay nhờ hiểu biết bản chất đột biến bên dƣới, WHO đã xếp loại APL thuộc AML có bất thƣờng di truyền tái diễn: APL với PML-RAR.
Bệnh đặc trƣng bởi sự tích lũy các tế bào bạch cầu hạt chƣa trƣởng thành (promyelocyte) trong tủy xƣơng. Từ lúc bệnh bắt đầu đƣợc khám phá năm 1957 bởi các bác sĩ Pháp và Thụy Điển, APL đã nổi tiếng với tên gọi là ―bệnh chết tối cấp‖ (hyperacute fatal illness) khi thời gian sống trung bình chỉ dƣới một tuần do biến chứng xuất huyết và tắc mạch [40]. Với việc khám phá ra bất thƣờng di truyền trong APL kinh điển là chuyển vị giữa nhiễm sắc thể (NST) số 15 và 17 (t(15;17)(q22;q21)), hệ quả đƣa đến hình thành protein tổ hợp bất thƣờng PML/RAR , một loại thụ thể của retinoid acid nhƣng đáp ứng kém với liều sinh lý thông thƣờng, dẫn tới ngƣng biệt hóa, tăng sinh tế bào và đề kháng với chết tế bào theo chƣơng trình. Sự ngƣng biệt hóa tế bào ở giai đoạn promyelocyte làm tế bào tích lũy dày đặc các hạt nội bào, tế bào này chứa nhiều thành phần có khả năng tƣơng tác với nhiều hệ thống nội mô; trong số đó, hệ thống đông máu bị tác động rõ rệt, gây nên lâm sàng kinh điển của APL là rối loạn đông máu nổi bật, cũng là nguyên nhân tử vong số một ở bệnh lý này [4], [8], [49].
Bằng những hiểu biết về sinh lý bệnh đó, All-Trans Retinoic Acid (ATRA) ra đời đã làm thay đổi ngoạn mục kết quả điều trị của APL – từ thể bệnh đƣợc xem là xấu nhất trong AML trở thành nhóm bệnh có thể chữa khỏi, với tỷ lệ sống còn 10. Kể từ đó, các phác đồ chứa ATRA trở thành xƣơng sống trong điều trị bệnh lý này [62]. Ở trẻ em, APL là thể bệnh hiếm gặp với nhiều đặc điểm riêng biệt. Các nghiên cứu đã cho thấy APL ở trẻ em có sự biến động rõ rệt giữa các chủng tộc: APL chiếm tỷ lệ 5-10% AML trẻ em tại Mỹ, trong khi đó ở các quốc gia Địa Trung Hải gồm Ý, Tây Ban Nha, tỷ lệ này là 31,2%, tại Nam và Trung Mỹ dao động từ 23-59% [76].
Về lâm sàng và sinh học, APL trẻ em cũng mang những đặc điểm có tiên lƣợng xấu hơn nhƣ số lƣợng bạch cầu cao lúc chẩn đoán, biến thể vi hạt của tế bào promyelocyte trên hình thái và ƣu thế kiểu điểm gãy bcr2, bcr3 của PML [47]. Bên cạnh đó, việc điều trị APL trẻ em cũng dựa trên phác đồ của ngƣời lớn, dù đã có nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ tử vong sớm cao hơn cũng nhƣ hậu quả độc tính do tích luỹ thuốc tác động mạnh lên bệnh nhi về sau [82]. Cho đến nay, tại Việt Nam chƣa có nghiên cứu nào về bệnh lý APL trẻ em đầy đủ và có hệ thống. Chính vì vậy, câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là ―Đặc điểm lâm sàng, sinh học, phân nhóm nguy cơ và kết quả điều trị APL trên trẻ em ở Việt Nam nhƣ thế nào?‖.
Với câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi có các mục tiêu nhƣ sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, sinh học và phân nhóm nguy cơ của bệnh nhân trong nghiên cứu. Đánh giá đáp ứng điều trị sau từng giai đoạn, xác định tỷ lệ sống không bệnh (DFS) và sống toàn bộ (OS). Xác định tỷ lệ các biến chứng thƣờng gặp trong quá trình điều trị, tỷ lệ tái phát, tử vong và nguyên nhân tử vong.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH BẠCH CẦU CẤP TIỀN TỦY BÀO 1.1 Lịch sử và lâm sàng bạch cầu cấp tiền tuỷ bào Dù chỉ khoảng một vài nghìn ngƣời đƣợc chẩn đoán APL mỗi năm trên toàn thế giới, nhƣng bệnh lý hiếm gặp này lại trở thành hình mẫu trong tất cả lĩnh vực của y học. Từ một ung thƣ máu ác tính nhất với tiên lƣợng xấu nhất, APL đã chuyển mình trong vài thập kỷ qua trở thành bệnh lý ung thƣ có cơ hội chữa khỏi cao nhất. Thành công ngoạn mục này là kết quả của sự tiến bộ đồng thời của các nghiên cứu y sinh và thử nghiệm lâm sàng. Ngày nay, APL là đại diện tiêu biểu cho (1) liệu pháp biệt hoá, (2) điều trị trúng đích phân tử, (3) giá trị của đánh giá tồn lƣu tối thiểu lên kết cục lâm sàng, và (4) nghiên cứu tịnh tiến (translational research) [56].
APL đƣợc nhận diện là một đối tƣợng bệnh học riêng biệt lần đầu tiên vào năm 1957 bởi nhà Huyết học ngƣời Na Uy LK Hillestad. Một mô tả chi tiết hơn trên 20 bệnh nhân với tình trạng tăng sinh promyelocyte, khởi phát tối cấp và các biến chứng xuất huyết trầm trọng bởi J Bernard (Bệnh viện St. Bệnh nhân APL có thể hiện diện với bối cảnh lâm sàng tƣơng tự nhƣ những thể khác của AML, bao gồm mệt mỏi, nhiễm trùng và/hoặc xuất huyết kèm các biến đổi trên công thức máu. Khi triệu chứng tiến triển, tuỷ của bệnh nhân bị tràn ngập các promyelocyte bất thƣờng.
Những tế bào này không chỉ gây nên hiệu ứng chèn ép làm thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, mà bản thân nó có thể thúc đẩy khởi phát một rối loạn đông máu nghiêm trọng liên quan đến cả đông máu nội mạch rải rác (DIC) và tăng tiêu sợi huyết. Bất thƣờng đông máu này có thể gây nên các xuất huyết nặng, bao gồm xuất huyết nội sọ, là đặc điểm lâm sàng nổi bật và cũng là nguyên nhân gây nên tử vong tối cấp trong APL, đƣa nó trở thành một cấp cứu của huyết học, khác biệt rõ với các thể còn lại của AML [67]. 4 Năm 1976, hệ thống phân loại FAB đã nhận diện rõ ràng APL và xếp nhóm M3 với các đặc điểm đặc trƣng. Ít năm sau, biến thể vi hạt (M3v) đƣợc xác định và cập nhật.
Ở cấp độ phân tử, bƣớc ngoặc trong APL đến từ J Rowley của Đại học Chicago. Ông phát hiện chuyển đoạn tƣơng hỗ giữa NST số 15 và 17 t(15;17)(q21;q22) là bệnh sinh của APL. Những nghiên cứu tiếp theo chứng minh rằng, chuyển đoạn t(15;17)(q21;q22) xảy ra ở 95% trƣờng hợp APL và duy nhất trong bệnh lý này, đặt nền tảng cho những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị bạch cầu cấp tiền tuỷ bào.2 Sinh bệnh học phân tử của APL 1.1 Retinoid acid và thụ thể retinoid acid Retinoid acid (RA) là một cơ chất quan trọng trong biệt hoá của nhiều mô, hoạt động bằng cách gắn vào thụ thể retinoid acid (Retinoid acid receptor - RAR). RAR thuộc về siêu họ gia đình thụ thể nhân của hormone steroid/thyroid.
Có 3 biến thể (isoform) RAR, trong đó RAR alpha (RAR ) bộc lộ chủ yếu ở các tế bào hệ tạo máu. RAR là một thành viên của các yếu tố phiên mã (transctiption factor) gắn retinoid acid để điều hoà biểu hiện gen. Nó là một protein 462 amino acid, nằm trên NST 17q21.1, chia nhiều vùng chức năng (domain), bao gồm một domain hoạt hoá phiên mã ở đầu N tận, một domain để gắn với DNA, một domain để dimer hoá và domain để gắn với retinoid.1 PML, RARα và PML-RARα. 5 Trong cơ thể, RAR không đứng một mình, mà nó tạo heterodimer với retinoid X receptor (RXR).
Phức hợp RAR /RXR này sau đó sẽ di chuyển vào nhân, gắn vào những thành tố đặc hiệu (RA responsive elements – RARE) nằm trên vùng khởi động (promotor) của gen đích, từ đó điều hoà hoạt động phiên mã của gen tƣơng ứng. Khi vắng mặt RA, phức hợp RAR /RXR tƣơng tác với yếu tố ức chế nhân (nuclear corepressor, N-CoR), ngăn chặn phiên mã của gen. RA phân cắt N-CoR khỏi phức hợp RAR /RXR, dẫn đến khôi phục phiên mã, làm biệt hoá tiếp tục promyelocyte đến giai đoạn trƣởng thành. Chức năng bình thƣờng của nó không đƣợc hiểu rõ, nhƣng khi quá biểu hiện, PML ức chế sự phát triển của dòng tế bào, có thể thông qua con đƣờng tín hiệu interferon-.
PML bình thƣờng biểu hiện ở tế bào đầu dòng của dòng tuỷ, định vị ở một khoang riêng biệt trong nhân, còn gọi là thể nhân (nuclear body). Những chức năng của PML đã đƣợc ghi nhận (1) định vị những protein gắn với PML trong tình trạng sinh lý; (2) chức năng hoạt hoá/ ức chế cần thiết cho quá trình chết tế bào theo chƣơng trình (apoptosis); (3) đồng hoạt hoá phiên mã với chất ức chế u p53. Trong tế bào APL, sự toàn vẹn của thể nhân (PML) bị gián đoạn, một sản phẩm mới PML/RAR xuất hiện. Tổ hợp gen của t(15;17) - Hai gen tổ hợp mới đƣợc tạo ra do chuyển vị t(15;17): gen PML/RAR nằm trên NST der(15) và gen RAR /PML nằm trên der(17).
Trong khi gen PML/RAR đƣợc tìm thấy hằng định ở tất cả các ca có t(15;17) thì gen RAR /PML chỉ đƣợc tìm thấy trong 80% trƣờng hợp do sự mất der(17) ở một số bệnh nhân. Mặc dù điều này gợi ý rằng protein tổ hợp RAR /PML không cần thiết trong bệnh sinh của APL, một số nghiên cứu đã chỉ ra nó có thể đóng vai trò nhƣ một biến đổi gen thứ hai góp phần tạo nên kiểu hình của bệnh. 6 Kết quả của gen tổ hợp nằm trên der(15): domain gắn DNA và domain dimer hoá của PML tổ hợp với domain gắn DNA và phần đầu tận C của RAR (bao gồm cả vị trí gắn retinoid). Điểm gãy của RAR điển hình xảy ra trong intron 2, trong khi đó điểm gãy của PML rất không đồng nhất, xảy ra trong intron 3, intron 6, hoặc exon 6, tạo nên các dạng (isoform) dài, ngắn và biến đổi.
Ba kiểu điểm gãy này có ảnh hƣởng lên sự khác biệt nhất định trên kiểu hình bệnh.2 PML/RARα và cơ chế tác động [55] Cơ chế hoạt động của PML/RAR - Protein tổ hợp PML/RAR đóng vai trò nhƣ một thụ thể retinoid khiếm khuyết, bị thay đổi trong thuộc tính gắn DNA và điều hoà phiên mã. Cơ chế chính xác biến PML/RAR trở thành một oncoprotein chƣa đƣợc hiểu rõ hoàn toàn. PML/RAR làm giảm độ nhạy với RA trong việc phân cắt N-CoR, điều này đƣa đến ức chế phiên mã kéo dài, gây ngƣng biệt hoá tế bào.