Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quần đảo Trường Sa là một trong hai quần đảo san hô lớn của Việt Nam nằm ở phía Nam Biển Đông, án ngữ tuyến đường hàng hải quốc tế huyết mạch và sở hữu nguồn lợi thủy hải sản phong phú nhờ sự giao thoa giữa hai dòng hải lưu nóng - lạnh. Hệ sinh thái rạn san hô dày trên 20 m tại đây đóng vai trò là nơi cư trú, sinh sản và bãi kiếm ăn của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế và sinh thái cao, trong đó có cá Mú rạn Cephalopholis urodeta (Forster, 1801). Loài cá này là động vật ăn thịt bậc cao trong chuỗi thức ăn rạn san hô, tiêu thụ cá nhỏ, giáp xác và động vật chân đầu. Đồng thời, đây cũng là đối tượng thủy sản thương phẩm giá trị, nguồn thực phẩm cao cấp và được khai thác làm cá cảnh.

Tuy nhiên, áp lực khai thác thủy hải sản tự nhiên quá mức cùng các tác động tiêu cực từ suy thoái môi trường sống và khai thác san hô trái phép tại khu vực Trường Sa đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quần thể cá Mú rạn. Đặc tính sinh học chuyển đổi giới tính (cá nhỏ thường là cá cái, khi đạt kích thước lớn chuyển thành cá đực) khiến các cá thể đực có kích thước lớn bị đánh bắt nhiều hơn, trực tiếp làm suy giảm đa dạng di truyền tự nhiên của quần thể và gây khó khăn cho việc quản lý nguồn lợi cũng như chọn lọc con giống nhân tạo. Mặc dù vậy, các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm di truyền phân tử của loài C. urodeta tại vùng biển đảo xa bờ của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Việc khảo sát cấu trúc di truyền của loài cá này không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bền vững mà còn phục vụ việc quy hoạch tài nguyên biển và khẳng định chủ quyền quốc gia.

Từ bối cảnh thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Sinh học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đề tài nhằm xác lập dữ liệu di truyền cho loài cá này.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá sự đa dạng di truyền cá Mú rạn (Cephalopholis urodeta) dựa trên các vùng gene ti thể Cytochrome c oxidase subunit I (COI) tách chiết từ các mẫu mô cơ thu thập tại vùng biển thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nội dung):

  • Nội dung 1: Tách chiết DNA tổng số từ các mẫu cơ cá Mú rạn được thu thập tại khu vực khảo sát.
  • Nội dung 2: Khuếch đại vùng trình tự gene COI trên DNA ti thể của các mẫu khảo sát bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR).
  • Nội dung 3: Giải trình tự đoạn DNA mục tiêu bằng phương pháp Sanger.
  • Nội dung 4: Đánh giá sự đa dạng di truyền của cá Mú rạn dựa trên các biến dị trình tự gene COI ti thể đã phân tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vùng gene ti thể COI tách chiết từ mẫu mô cơ cá Mú rạn Cephalopholis urodeta (Forster, 1801).
  • Phạm vi không gian: 24 mẫu cơ cá Mú rạn thu thập tại đảo Song Tử Tây thuộc vùng biển Quần đảo Trường Sa, Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2023 đến tháng 04/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Loài cá Mú rạn có vị trí phân loại học thuộc ngành Chordata, phân ngành Vertebrata, lớp Actinopterygii, bộ Perciformes, họ Serranidae, giống Cephalopholis (Bloch & Schneider, 1801) và loài Cephalopholis urodeta (Forster, 1801). Loài này có chiều dài tối đa ghi nhận khoảng 28 cm, thân dẹp bên màu nâu đỏ, đầu có nhiều chấm đỏ cam nằm sát nhau, vây đuôi có hai dải màu trắng xiên hội tụ về phía cuối vây. Về mặt sinh thái, cá thích hợp với nhiệt độ 25–32°C (giới hạn 20–35°C), hàm lượng oxy hòa tan (DO) từ 4–8 mgO₂/L, độ mặn 20–30‰ (giới hạn chịu đựng 14–40‰) và độ pH từ 7,5–8,5.

Hệ gene ti thể (mtDNA) ở sinh vật nhân thực là các phân tử DNA vòng kép, kích thước dưới 20 kbp, mã hóa 37 gene (2 rRNA, 13 gene mã hóa protein và 22 tRNA cùng vùng kiểm soát D-loop). Đoạn gene mã hóa Cytochrome c oxidase subunit I (COI) trên mtDNA có tốc độ đột biến thích hợp và tính bảo tồn nội loài tương đối cao, được quốc tế ứng dụng rộng rãi làm chỉ thị phân tử chuẩn (mã vạch DNA) để định danh loài, phân tích phát sinh chủng loại và đánh giá đa dạng di truyền quần thể động vật thủy sản.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu áp dụng quy trình sinh học phân tử chuẩn hóa qua các bước thực nghiệm liên hoàn:

  1. Định danh hình thái: Sử dụng khóa phân loại hình thái sinh vật biển chuyên dụng theo Heemstra & Randall (1993) và Gerald Allen et al. (2003) để đối chiếu cấu trúc thân, mảng vảy, vây lưng (11 gai cứng, 14–18 tia mềm) và vây hậu môn (3 gai cứng, 7–9 tia mềm).
  2. Tách chiết DNA tổng số: Thực hiện trên mẫu mô cơ cá bằng bộ kít thương mại TopPURE® GENOMIC DNA EXTRACTION. Quy trình gồm các bước: ly giải tế bào và màng nhân bằng chất tẩy SDS kết hợp proteinase K, cô lập DNA bằng hỗn hợp dung môi, tủa nucleic acid trong cồn và hòa tan thu nhận DNA tinh sạch trong dung dịch TE ở -20°C.
  3. Kiểm tra chất lượng DNA: Đo nồng độ và độ tinh sạch qua quang phổ hấp thụ tia cực tím (tỷ số quang phổ OD A₂₆₀/A₂₈₀ đạt chuẩn trong khoảng 1,7–2,0) và điện di kiểm tra trên gel agarose.
  4. Khuếch đại PCR vùng gene COI: Phản ứng PCR thực hiện trên máy Major Cycler với cặp mồi chuyên biệt theo Ward et al. (2005):
    • Mồi xuôi: FishF1 (5'-TCAACCAACCACAAAGACATTGGCAC-3') và FishF2 (5'-TCGACTAATCATAAAGATATCGGCAC-3').
    • Mồi ngược: FishR1 (5'-TAGACTTCTGGGTGGCCAAAGAATCA-3') và FishR2 (5'-ACTTCAGGGTGACCGAAGAATCAGAA-3').
    • Hỗn hợp phản ứng 25 µL sử dụng kít MyTaq™ Mix (Meridian/Bioline) chứa enzyme HS Prime Taq DNA Polymerase (2,5 U/µL), 10X Reaction buffer (20 mM MgCl₂) và 10 mM dNTPs hỗn hợp.
    • Chu trình nhiệt PCR: Biến tính ban đầu 95°C trong 5 phút; tiếp nối 40 chu kỳ nhiệt (94°C trong 30 giây, bắt cặp mồi ở 56°C trong 30 giây, kéo dài chuỗi ở 72°C trong 30 giây); kéo dài kết thúc ở 72°C trong 7 phút.
  5. Kiểm tra sản phẩm PCR: Điện di sản phẩm trên gel agarose 2% dưới ánh sáng cực tím UV đối chiếu với thang chuẩn để xác định băng DNA mục tiêu kích thước dự kiến (>600 bp).
  6. Giải trình tự gene và phân tích sinh tin học: Sản phẩm PCR tinh sạch được gửi giải trình tự theo phương pháp phân đoạn kết thúc chuỗi Sanger tự động bằng hệ thống Thermo Fisher tại Công ty TNHH DNA SEQUENCING. Trình tự nucleotide được kiểm tra sắc phổ điện di bằng phần mềm FinchTV 1.4.0, dóng hàng đa chuỗi bằng ClustalX 2.1, và đối chiếu định danh trên cơ sở dữ liệu GenBank thông qua công cụ BLAST Nucleotide của NCBI.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về họ cá Mú (Serranidae) và loài Cephalopholis urodeta. Trong nước, các nghiên cứu từ năm 2015 đến 2023 của Võ Văn Quang và cộng sự đã xác định tính đa dạng thành phần loài cá mú tại vùng biển Khánh Hòa (36 loài thuộc 11 giống), Đà Nẵng - Quảng Nam (30 loài thuộc 6 giống), từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận (38 loài thuộc 7 giống), và toàn vùng biển phía Nam (40 loài). Trần Văn Đạt và cộng sự (2022) ghi nhận 33 loài cá mú và bổ sung các loài mới cho khu hệ biển Việt Nam và Trường Sa.

Trên thế giới, các tác giả ứng dụng chỉ thị phân tử microsatellite, SNP và mtDNA để đánh giá cấu trúc quần thể cá mú như Wang et al. (2011), Jackson (2014), Suck et al. (2014), Hassanien & Al-Rashada (2021). Đáng chú ý, Guo et al. (2016) và Liu et al. (2021) đã giải mã hoàn chỉnh bộ gene ti thể của C. urodeta với chiều dài 16.592 bp. Chương 1 cũng trình bày chi tiết về sinh thái học, dinh dưỡng, sinh sản của loài và nguyên lý cấu trúc các chỉ thị phân tử di truyền (SNP, SSR, CAPS, AFLP, COI, Cyt b).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết về các địa điểm bố trí thực nghiệm tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (Khoa Sinh học: PTN Sinh hóa - Vi sinh, PTN Giải phẫu - Sinh lý người và động vật, PTN Sinh học trung tâm) và PTN Sinh học phân tử tại Trường Đại học Sài Gòn. Toàn bộ thông số hóa chất, thiết bị, quy trình tách chiết DNA bằng bộ kít TopPURE®, thông số chu trình nhiệt máy Major Cycler, thành phần hóa chất kít MyTaq™ Mix và các thuật toán dóng hàng chuỗi ClustalX 2.1 được chuẩn hóa để đảm bảo độ lặp lại và tính chính xác cho 24 mẫu cá thu thập tại đảo Song Tử Tây.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm đạt được:

  • Tách chiết DNA tổng số: Cả 24 mẫu mô cơ đều cho dải DNA tổng số rõ nét, không lẫn tạp chất hay bị thoái hóa phân cắt.
  • Khuếch đại PCR: Điện di gel agarose 2% cho thấy sản phẩm PCR vùng gene COI của toàn bộ 24 mẫu xuất hiện đơn băng sáng, đặc hiệu, kích thước trên 600 bp, hoàn toàn không có sản phẩm phụ.
  • Kích thước và độ tương đồng trình tự: Chiều dài đoạn giải mã dao động từ 682 bp đến 701 bp, giá trị trung bình là 684 ± 11 bp. Mẫu ngắn nhất là Fish8 và Fish16 (682 bp), mẫu dài nhất là Fish28 (701 bp). So sánh BLAST trên GenBank cho thấy độ tương đồng di truyền của tất cả 24 mẫu đạt trên 99% so với các trình tự chuẩn của loài C. urodeta.
  • Xử lý đoạn nhiễu và phân tích thành phần nucleotide: Loại bỏ đoạn đầu (vị trí 1–110) và đoạn cuối (vị trí 610–710) bị nhiễu do yếu tố kỹ thuật. Thành phần nucleotide trung bình gồm: Adenine (A) chiếm 24–26%, Thymine (T) chiếm 30–34% (riêng mẫu Fish2 đạt 26,91%), Guanine (G) chiếm 14,77–18,66% (Fish18 thấp nhất với 14,77%), và Cytosine (C) chiếm 26,44–28,93% (Fish6 thấp nhất với 18,04%).
  • Phân tích biến dị nucleotide: Dóng hàng ClustalX phát hiện 13 vị trí biến dị nucleotide do đột biến điểm (11 vị trí đột biến thay thế nucleotide và 2 vị trí đột biến thêm nucleotide).

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả định lượng chi tiết

Nghiên cứu đã xác lập dữ liệu phân tử chuẩn xác cho 24 mẫu cá Mú rạn C. urodeta tại đảo Song Tử Tây, Quần đảo Trường Sa.

Mã mẫu Chiều dài giải trình tự (bp) Tỷ lệ Adenine (%) Tỷ lệ Thymine (%) Tỷ lệ Guanine (%) Tỷ lệ Cytosine (%)
Fish2 683 26,91 26,91 18,04 28,15
Fish3 683 24,13 32,50 18,35 27,84
Fish4 693 25,66 32,50 18,04 28,30
Fish5 686 24,75 33,13 18,66 28,62
Fish6 684 25,48 32,66 18,35 18,04
Fish8 682 24,63 33,28 18,20 28,46
Fish9 683 26,04 25,35 18,20 28,46
Fish11 686 24,63 32,97 18,35 28,62
Fish13 684 24,75 33,13 18,66 28,62
Fish14 684 25,48 32,66 18,35 28,15
Fish15 683 24,63 33,28 18,20 28,46
Fish16 682 26,04 25,35 18,20 28,46
Fish17 684 24,63 32,97 18,35 28,62
Fish18 684 25,24 30,64 14,77 26,44
Fish20 684 24,19 32,50 18,04 28,15
Fish23 692 24,75 33,13 18,66 28,62
Fish24 684 25,48 32,66 18,35 28,15
Fish25 684 24,63 33,28 18,20 28,46
Fish28 701 24,63 32,97 18,35 28,62
Fish30 684 24,21 32,66 17,42 28,30
Fish31 685 24,04 32,66 18,04 28,93
Trung bình 684 ± 11 24,04 – 26,91 25,35 – 33,28 14,77 – 18,66 18,04 – 28,93

Ghi chú: Bảng tổng hợp các mẫu tiêu biểu và thông số trung bình được tác giả ghi nhận.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đã thống kê chi tiết 13 vị trí phát sinh đột biến điểm trên đoạn trình tự dóng hàng chung:

STT Vị trí nucleotide Dạng đột biến Chi tiết biến đổi nucleotide Mẫu cá mang đột biến
1 225 Thêm nucleotide Thêm nucleotide Cytosine (C) Fish23 (các mẫu khác không có)
2 255 Thay thế Guanine (G) $\rightarrow$ Thymine (T) Fish30 (các mẫu khác mang G)
3 256 Thay thế Adenine (A) $\rightarrow$ Thymine (T) Fish30 (các mẫu khác mang A)
4 333 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Cytosine (C) Fish23, Fish31 (các mẫu khác mang T)
5 345 Thay thế Guanine (G) $\rightarrow$ Adenine (A) Fish11, Fish17 (các mẫu khác mang G)
6 363 Thay thế Cytosine (C) $\rightarrow$ Thymine (T) Fish25 (các mẫu khác mang C)
7 366 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Cytosine (C) Fish17 (các mẫu khác mang T)
8 402 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Adenine (A) Fish6, Fish13 (các mẫu khác mang T)
9 432 Thay thế Adenine (A) $\rightarrow$ Guanine (G) Fish14, Fish24 (các mẫu khác mang A)
10 447 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Cytosine (C) Fish30 (các mẫu khác mang T)
11 511 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Cytosine (C) Fish8, Fish29 (các mẫu khác mang T)
12 555 Thay thế Thymine (T) $\rightarrow$ Cytosine (C) Fish25, Fish31 (các mẫu khác mang T)
13 640 Thêm nucleotide Thêm nucleotide Adenine (A) Fish23 (các mẫu khác không có)

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Cần mở rộng nghiên cứu phân tích sâu hơn các chỉ số di truyền quần thể phức tạp (tính đa dạng haplotype, đa dạng nucleotide $\pi$, khoảng cách di truyền giữa các điểm đảo).
  • Bổ sung các phương pháp phân tích di truyền bổ trợ như phân tích đa hình chiều dài đoạn cắt giới hạn (RFLP) hoặc giải trình tự toàn bộ hệ gene ti thể hoàn chỉnh để kiểm chứng độ chính xác ở mức độ tuyệt đối.

Đóng góp khoa học của đề tài

Đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm ban đầu có độ tin cậy cao về trình tự mã vạch gene COI của cá Mú rạn tại đảo Song Tử Tây thuộc Quần đảo Trường Sa. Đây là nguồn dữ liệu tham chiếu quan trọng cho các nghiên cứu di truyền học biển, hỗ trợ giám sát đa dạng sinh học và định hướng khai thác bền vững nguồn lợi cá rạn san hô tại vùng biển đảo Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi thu mẫu: Nghiên cứu mới chỉ thực hiện trên 24 cá thể thu thập tại một điểm duy nhất là đảo Song Tử Tây thuộc Quần đảo Trường Sa, chưa đại diện cho toàn bộ các đảo nổi và bãi rạn ngầm khác trên quần đảo.
  • Phạm vi chỉ thị gene: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích vùng gene COI; vùng gene Cyt b và các chỉ thị nhân khác chưa được khai thác sâu trong đợt công bố kết quả này.
  • Nhiễu kỹ thuật đầu - cuối: Các đoạn đầu (1–110 bp) và đoạn cuối (610–710 bp) của trình tự giải mã bị nhiễu kỹ thuật do mồi và nhiệt độ thiết bị chưa ổn định nên phải cắt bỏ, làm giảm chiều dài đoạn phân tích hữu hiệu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi và số lượng mẫu khảo sát tại nhiều đảo khác thuộc Quần đảo Trường Sa và các vùng biển ven bờ (Hoàng Sa, Cù Lao Chàm, Nha Trang, Ninh Thuận, Côn Đảo, Phú Quốc).
  • Kết hợp giải trình tự vùng gene Cytochrome b, vùng kiểm soát D-loop hoặc toàn bộ hệ gene ti thể kết hợp chỉ thị microsatellite để đánh giá toàn diện cấu trúc di truyền quần thể và dòng gene giữa các khu vực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu chuyên khảo thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Sư phạm Sinh học, Sinh học thực nghiệm, Di truyền học, Hải dương học và Quản lý Nguồn lợi Thủy sản.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  1. Quy trình chi tiết tối ưu hóa phản ứng PCR trên mẫu cơ cá biển bảo quản xa bờ sử dụng kít MyTaq™ Mix và hệ thống mồi FishF1/F2 - FishR1/R2.
  2. Phương pháp kiểm soát chất lượng sắc phổ giải trình tự bằng FinchTV và kỹ thuật xử lý cắt lọc vùng nhiễu để đồng nhất chiều dài trình tự trên ClustalX.
  3. Dữ liệu bảng thống kê 13 vị trí đột biến điểm cụ thể trên gene COI phục vụ việc đối sánh biến dị phân tử cho các nghiên cứu về cá rạn san hô họ Serranidae.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các cặp mồi PCR nào để khuếch đại vùng gene COI của cá Mú rạn?
Nghiên cứu sử dụng các cặp mồi chuyên biệt được đề xuất bởi Ward et al. (2005) gồm: mồi xuôi FishF1 (5'-TCAACCAACCACAAAGACATTGGCAC-3') và FishF2 (5'-TCGACTAATCATAAAGATATCGGCAC-3'); mồi ngược FishR1 (5'-TAGACTTCTGGGTGGCCAAAGAATCA-3') và FishR2 (5'-ACTTCAGGGTGACCGAAGAATCAGAA-3').

2. Kích thước trình tự gene COI thu được của 24 mẫu cá Mú rạn dao động trong khoảng bao nhiêu?
Trình tự gene COI của 24 mẫu cá có kích thước trung bình 684 ± 11 bp; trong đó mẫu Fish8 và Fish16 có kích thước ngắn nhất là 682 bp, và mẫu Fish28 có kích thước dài nhất là 701 bp.

3. Tại sao tác giả phải loại bỏ các đoạn nucleotide ở vị trí 1–110 và 610–710 của trình tự giải mã?
Đoạn đầu (1–110 bp) và đoạn cuối (610–710 bp) chứa các tín hiệu sắc phổ không rõ ràng, biểu hiện nhiều màu chồng chéo trên FinchTV do ảnh hưởng của phân tử mồi dư thừa hoặc nhiệt độ thiết bị giải trình tự chưa ổn định. Việc loại bỏ hai đoạn này giúp giảm thiểu sai số kỹ thuật và đạt được chiều dài dóng hàng chuẩn xác cho tất cả mẫu phân tích.

4. Dạng đột biến điểm nào chiếm ưu thế trên vùng gene COI của các mẫu cá khảo sát?
Đột biến thay thế nucleotide đơn chiếm ưu thế tuyệt đối với 11/13 vị trí biến dị (chẳng hạn G$\rightarrow$T tại vị trí 255, A$\rightarrow$T tại vị trí 256, T$\rightarrow$C tại các vị trí 333, 366, 447, 511, 555, G$\rightarrow$A tại vị trí 345, C$\rightarrow$T tại vị trí 363, T$\rightarrow$A tại vị trí 402, và A$\rightarrow$G tại vị trí 432). Chỉ có 2 vị trí là đột biến thêm nucleotide (thêm C ở vị trí 225 và thêm A ở vị trí 640, đều xảy ra ở mẫu Fish23).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Nguyễn Thanh Thảo đã thực hiện thành công quy trình tách chiết DNA, nhân bản PCR và giải trình tự đoạn gene ti thể COI trên 24 mẫu cá Mú rạn Cephalopholis urodeta thu thập tại đảo Song Tử Tây, Quần đảo Trường Sa. Kết quả kiểm tra đối chiếu GenBank xác nhận độ tương đồng phân tử trên 99%, đồng thời phát hiện 13 vị trí đột biến điểm đặc trưng thể hiện sự đa dạng di truyền trong quần thể khảo sát. Đây là công trình thực nghiệm nghiêm túc, cung cấp cơ sở dữ liệu sinh học phân tử có giá trị thực tiễn cho công tác quản lý, chọn giống và bảo tồn nguồn lợi cá rạn san hô tại vùng biển đảo Việt Nam.