phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Tổng quan về khu vực và tình hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Kết quả đánh giá rủi ro sinh thái đối với rạn san hô khu vực đảo Bạch Long Vỹ.
3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực đảo Bạch Long Vỹ 1. Điều kiện tự nhiên 1. Đặc điểm địa hình đáy biển quanh đảo Bạch Long Vỹ Vùng triều: So với toàn đảo BLV tính từ đường mực nước thấp nhất, diện tích vùng triều xung quanh đảo chiếm tỷ lệ khá lớn, tập trung chủ yếu ở phía Đông Nam – rộng tới 400 m, mũi Đông và sườn Đông Bắc 350 m, Tây Nam 250 m và ở ven bờ Tây Bắc 100 m.
Vùng triều quanh đảo BLV không xuất hiện các dạng địa hình xâm thực hay tích tụ do triều mà chỉ có mặt các dạng địa hình thành tạo chủ yếu do sóng, trong đó thềm mài mòn hiện đại chiếm 70%, còn lại là các dạng địa hình xuất hiện không liên tục như bãi cát, bãi cuội, sỏi, roi cát, đá sót. Từ mực nước trung bình trở xuống, vùng triều có mặt chủ yếu là thềm mài mòn hiện đại, bãi cuối, đá sót và từ mực nước trung bình trở lên còn có thêm bãi cát như ở phần tây nam và mũi phía Tây đảo [2]. Sườn bờ ngầm: Xung quanh đảo BLV đến độ sâu 5-6m, không xuất hiện các bậc thềm ngầm, đáy biển dốc đều. Bề mặt đáy còn bị chia cắt bởi nhiều rãnh ngầm vuông góc với đường bờ.
Ngoài ra bề mặt đáy còn bị gồ ghề bởi các vật liệu thô như cuội, tảng hoặc ít cát sạn hoặc lộ đá gốc. Sinh vật chủ yếu là san hô và thân mềm, cũng đóng vai trò đáng kể trong quá trình làm tròn bề mặt của các dạng địa hình hoặc cung cấp vật liệu thành tạo các dạng địa hình tích tụ [3]. Địa mạo Các dạng địa hình trên đảo BLV thuộc 3 nhóm: nhóm nguồn gốc biển, nhóm nguồn gốc gió và nhóm nguồn gốc bóc mòn - tích tụ [3]. Trong đó nhóm nguồn gốc biển có ;liên quan mật thiết đến sự hình thành và phát triển của HST biển trong vùng đảo, trong đó có HST san hô.
Thuộc nhóm địa hình nguồn gốc biển, có các thành tạo sau đây: - Bãi cát biển: hình thành do sóng biển, có tổng diện tích 7,8 ha, phân bố chủ yếu ở phía bờ Nam, Tây Nam và một số cung lõm của bờ Tây Bắc đảo. Bãi cát rộng 30 - 70m ở bờ nam và 20 - 30m ở bờ Tây Bắc và Tây Nam. Cát bãi gồm chủ yếu cát trung và thô với thành phần vỏ vôi sinh vật chiếm 55,67 - 99,25%, thạch anh 0,05 - 39,10%, sắt laterit 0,02 - 1,74%, mảnh đá 0,50 - 21,85%, khoáng vật nặng <1% [3]. - Thềm mài mòn - tích tụ: đây là phần bãi lộ ra khi triều thấp, rộng khoảng 120 ha, có mặt chủ yếu ở các mũi Đông Bắc, Tây Nam và mũi Đông.
Trên đó có đá tảng kích thước 100 - 1 000 mm, phổ biến trong khoảng 500 - 1 000 mm, cuội cacbonat thường có kích thước 10-50 mm. Phần lớn thềm mài mòn - tích tụ là đá gốc có bề mặt nghiêng 3-8o[3]. - Thềm biển bậc I tích tụ - mài mòn: thềm này có độ cao 1-3m, khá bằng phẳng và viền quanh chân đảo, nhưng chủ yếu ở mũi Đông Nam, Đông Bắc và bờ nam đảo. Trên bề mặt thềm có chỗ tích tụ cát, bột, có chỗ lộ đá gốc.
Thềm được thành tạo vào cuối Holocen muộn [3]. - Thềm biển bậc II tích tụ - mài mòn: thềm có độ cao 4-6m, khá bằng phẳng viền quanh chân đảo nhưng hẹp hơn thềm bậc I, rộng nhất ở bờ Đông, Đông Bắc đảo. Trên bề mặt thềm có chỗ tích tụ sỏi, sạn, cát, bột. Thềm được thành tạo vào cuối Holocen giữa [3].
- Thềm biển bậc III tích tụ - mài mòn: thềm có độ cao 10-15m, dạng đồi thấp ở phía đông, đông bắc đảo và dải viền quanh đồi ở phía nam và tây nam đảo. Bề 5 z mặt nghiêng 3-8o, hoặc lượn sóng. Cấu tạo bề mặt là cuội, sỏi, cát, bột, dày 0,5-1m. Thềm được thành tạo vào cuối Plextosen muộn [3].
Thuộc hai nhóm địa hình nguồn gốc gió và bóc mòn – tích tụ, có các dạng phân bố ở phần đảo nổi, gồm: địa hình thổi mòn - tích tụ đụn cát, địa hình thổi mòn - tích tụ trảng cát, địa hình thổi mòn - tích tụ sườn cát, sườn tích tụ deluvi – coluvi, sườn bóc mòn tổng hợp, bề mặt xâm thực - bóc mòn [3]. Địa chất Địa tầng và cấu trúc địa chất - Trầm tích Đệ tam: Đảo BLV cấu tạo từ các đá trầm tích vụn lục nguyên. Việc định tuổi các trầm tích này đã qua nhiều ý kiến khác nhau, từ Paleozoi tới Kainozoi - tuổi Cacbon (Fromaget,1937), Mioxen - Pleistocen sớm (Saurin,1956), Neogen (Dovjikov, 1965), Mioxen - Pleistocen sớm (Phan Huy Quýnh, 1975), Mioxen (Đỗ Bạt và Phan Huy Quýnh, 1977), Mioxen muộn - Plioxen sớm [22], Neogen (Phan Cự Tiến, 1988), Mioxen (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1988), Oligoxen (Phạm Quang Trung và nnk, 1996). - Trầm tích Đệ tứ: Trầm tích Đệ tứ trên đảo BLV có bề dày thường 0,5 - 1,5m, chủ yếu gồm cát nguồn gốc biển.
Trầm tích biển gồm cát, cuội, sỏi, mảnh vụn sinh vật, là sản phẩm quan trọng tạo nên các thềm biển cao 10m, 5m và 2 - 3m, và bãi biển hiện đại. Ngoài ra còn có eluvi (trên đỉnh đồi), deluvi (sườn đồi). Các thành tạo Đệ tam, tuổi Oligoxen và Mioxen - Plioxen gồm các trầm tích lục nguyên phân lớp, xen nhịp cát kết, bột kết và sét kết, nghiêng oằn về phía bắc - tây bắc 300 - 320O và góc dốc 5 - 20O với tổng bề dầy có thể quan sát được (tính cả phần ngầm) tới 265 m. Các đá này gắn kết yếu, dễ bị phong hoá, đặc biệt là phong hoá cơ học, tạo nên vỏ phong hoá có bề dày tới 7 m ở đôi chỗ.
Nằm ở rìa Tây Bắc đới sụt võng Sông Hồng có lịch sử hoạt động từ Oligoxen, bề dày trầm tích Đệ tam khu vực BLV có thể đạt tới 1 000m. Đới sụt võng này. 6 z Trên bình đồ kiến trúc tân kiến tạo, khu vực BLV thuộc đới nâng nghịch đảo nằm giữa đới trung tâm VBB với bề dày trầm tích Kainozoi đạt tới 4 000m và đới Sông Hồng ở tây nam với bề dày trầm tích Kainozoi đạt tới 6000m. Đơn nghiêng BLV là kết quả của vận động nâng nghịch đảo xuyên pha, cả pha sớm (Pliocen) và pha muộn (Pleistocen muộn) trên bình đồ kiến trúc Đông Nam Á.
Hệ thống khe nứt hiện đại trên đảo BLV gồm cả khe nứt phong hoá và khe nứt kiến tạo hiện đại, định hướng chủ yếu TB – ĐN [22] Trầm tích hiện đại - Thành phần cơ học: Trầm tích vùng biển quanh đảo chủ yếu là trầm tích di tích bao gồm tảng đá gốc tuổi Đệ tam, cuội và cát lẫn nhiều vỏ của sinh vật hiện đại. Cát lớn, cát trung lẫn vỏ sinh vật biển phân bố xen kẽ đá gốc, tảng, cuội quanh đảo, bề dày tăng theo độ sâu. ở độ sâu tới 10m, bề dày khoảng 5-20 cm, ở độ sâu lớn hơn 10m, bề dầy tăng tới 20-50 cm, có nơi đến 50-100 cm và phủ trên nền đá gốc. Thành phần kích thước hạt cát lớn lẫn vỏ sinh vật trên các bãi biển chủ yếu ở hai cấp hạt 1,0 - 0, 4 mm và 0,4 - 0,2 mm, đường kính trung bình 0,426 - 0,369 mm, độ chọn lọc 1,6 [11].
- Thành phần khoáng vật: biến đổi phức tạp. ở kích thước hạt lớn hơn 1 mm, chủ yếu là mảnh vụn san hô và thân mềm (chiếm 99%), phần còn lại là các mảnh đá, thạch anh, laterit. ở kích thước 1,0-0, 1 mm mảnh vụn vỏ sinh vật chiếm 50- 90%, phần còn lại là thạch anh, mảnh đá và laterit. Các khoáng vật nặng cũng phổ biến như ilmenit, tuamalin dạng mảnh màu đen và ziacon nhưng hàm lượng nhỏ dưới 0,1% trong mẫu ở cấp hạt 0,2 - 0,55 mm [10].
Trầm tích hiện đại sườn bờ ngầm đảo gồm chủ yếu là cát, xen lẫn cuội tảng kích thước lớn phân bố không liên tục, chủ yếu tập trung ở các rãnh xâm thực cổ. Đặc biệt, ở sườn bờ ngầm ít nhất tới độ sâu 10m gặp trầm tích vỏ sinh ở sườn tây bắc (phần bắc) và ở phần nam sườn tây bắc và sườn tây nam. Thành phần trầm tích bở rời thể hiện ưu thế của các mảnh vụn san hô, thân mềm, foraminifera [11]. Đặc trưng động lực bờ Các bãi cát được hình thành nhờ sóng và dòng bồi tích dọc bờ xuất hiện theo mùa và phân bố chủ yếu ở bờ Tây Bắc và Tây Nam.
Về mùa Đông, dòng bồi tích dọc bờ Tây Bắc di chuyển về phía mũi Tây Nam đảo và tham gia tạo bãi, rộng 23m. Về mùa Hè, dòng bồi tích dọc bờ Đông Nam và di chuyển về hướng Đông Bắc, cùng với sóng Đông Nam tham gia tạo bãi. Hiện tượng bồi tụ phân pha tạo bãi chỉ thể hiện ở hai đầu phía tây nam và phía đông bắc của bờ Đông Nam. Tại bờ Nam, kể từ khi có âu tàu vào năm 2000, động lực sóng ít làm biến đổi bãi.
Sóng biển là tác nhân chính gây ra xói lở bờ đảo theo mùa và tạo vách trong quá trình xâm thực, phá huỷ bờ đảo. Vách cát tạo ra do xói lở thềm trẻ nhất cao đến 0,3-0, 5m viền quanh đảo. Ở bờ Tây Bắc, đoạn từ giữa bờ về phía mũi Đông Bắc và bờ Đông Nam, độ cao của vách đạt 0,5-0, 8m và chân vách ứng với mực nước cao nhất; đoạn từ giữa bờ về phía mũi Tây Nam, độ cao vách đạt tới 1,0-1, 2m và chân vách chỉ cao hơn mực nước trung bình 1,0-1, 5m tiếp liền với thềm mài mòn hiện đại. ở phía Bắc -Tây Bắc, Đông -Đông Nam đảo, bờ bị phá huỷ mạnh, nhưng ở chân vách đã xuất hiện các đê cuội và chính nó làm hạn chế quá trình xói lở bờ [3] Căn cứ vào tổng thể các yếu tố tác động ưu thế theo mùa ở từng giai đoạn khác nhau, có thể ghi nhận 3 trạng thái bờ đảo BLV như sau [3] - Bờ xói lở mạnh dài 1 200m tính từ mũi Đông Bắc trên đoạn bờ Tây Bắc về mùa Đông và đoạn dài 2 400m của bờ Đông Nam về mùa Hè.
Tốc độ xói lở trung bình khoảng 5-7 cm/năm.