CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH DA GAI Ngành Da gai (Echinodermata) là nhóm động vật không có xương sống. Chúng phân bố hầu hết các vùng biển và đại dương với những độ sâu khác nhau. Trên thế giới hiện này, ngành da gai có khoảng 7000 loài còn sống và khoảng 13000 hóa thạch của các loài đã tuyệt chủng [6,7].
Là ngành lớn thứ 2 trong các động vật miệng thứ sinh sau nhóm động vật có dây sống. Ngành Da gai được chia thành 5 nhóm: Crinoidea (huệ biển), Ophiuroidea (đuôi rắn), Asteroidea (sao biển), Echinoidea (cầu gai) và Holothuroidea (hải sâm). Trong đó một số loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng như làm thực phẩm và xuất khẩu, hoặc chứa chất hoạt tính sinh học như saponn, prostaglandin (trong Hải sâm, Cầu gai, Sao biển). Giới thiệu về 5 lớp thuộc nghành Da gai ❖ Lớp Sao biển (Asteroidea) Tác giả: Nguyễn Văn Minh Địa điểm thu: Cồn Cỏ.1 Sao biển Linckia laevigata (Linnaeus, 1758) a.
Đặc điểm hình thái Sao biển là loài đông vật không xương sống, thuộc ngành Da gai (Echinodermata), lớp Asteroidea. Là nhóm động vật có cấu tạo điển hình của động vật Da gai. Sao biển hình sao, cơ thể dẹp theo chiều lưng bụng, có đối Luan van 4 xứng tỏa tròn bậc năm, gồm một đĩa trung tâm ở giữa và 5 hay nhiều cánh xếp xung quanh [8]. Phân loại Lớp Sao biển (Asteroidea) được chia thành 7 bộ (order): Brisingida, Forcipulatida, Notomyotida, Paxillosida, Spinulosida, Valvatida và Velatida [9].
Đến nay có khoảng 1.600 loài sao biển phân bố ở tất cả các đại dương trên thế giới [10,11,12]. Ở Việt Nam đã gặp 60 loài sao biển. Sao biển Astropecten velitaris bắt gặp nhiều ở Vịnh Bắc Bộ. Một số loài thường hay bắt gặp là: Luidia prionota, Crospidaster Hesperus, Creaster nodosus, Linckia laucigata và Anthenea pentagonula [8].
Những nơi có nhiều Sao biển phải kể đến là các vùng biển Australia, Đông Thái Bình Dương và Bắc Mỹ. Đặc biệt, vùng biển nhiệt đới Ấn Độ Dương − Thái Bình Dương là nơi tập trung đại đa số các loài sao biển. Phân bố Sao biển phân bố chủ yếu ngoài môi trường biển, một số loài phân bố ở vùng nước lợ [7, 13, 14]. ❖ Lớp Huệ biển (Crinoidea) Tác giả: Messing, Charles Nguồn: http://www.php?album=693&pic=147895 Hình 1.
Huệ biển Trichimetraophiata (A. Clark, 1911) Luan van 5 a. Đặc điểm Cơ thể huệ biển sống bám có 3 phần: cuống, đế và cánh. Cuống có nhiều đốt khớp với nhau nhờ cơ nên uốn được.
Ở gốc cuống có rễ bám vào giá thể. Phần đài hình đĩa, ở giữa đáy là tấm lưng giữa, từ đó xuất phát các cánh. Hình thái và số lượng của cành cong, gai cánh và đặc điểm của các tấm xương được dùng trong phân loại học huệ biển [8]. Phân loại Huệ biển là nhóm động vật Da gai cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay, có khoảng 5000 loài hóa thạch với hơn 540 loài đã biết.
Phân lớn huệ biển sống bám với cuống dài, một số ít sống tự do [15]. Ở Việt Nam đã biết khoảng 60 loài, một số loài thường hay bắt gặp là: Comatula pectimata, Comanthus parvicirra và Zygometra commata [8]. Phân bố Phần lớn huệ biển có cuống sống ở biển sâu, còn huệ biển không có cuống sống ở biển nông, đáy cứng và có nhiều đá nhỏ, một số ít sống ở đáy cát hay cát bùn [8]. ❖ Lớp Cầu gai (Echinoidea) Tác giả: Nguyễn Văn Minh Địa điểm thu: Cồn Cỏ.
Cầu gai Diadema setosum (Leske, 1778) Luan van 6 a. Đặc điểm Cầu gai hay còn gọi là nhím biển (hay nhum biển, chôm chôm biển) thuộc lớp cầu gai (Echinoidea) ngành động vật da gai (Echinodermata), có hai phân lớp: cầu gai đều xuất hiện vào kỉ Silua và cầu gai không đều xuất hiện vào kỉ Jura. Cầu gai có khoảng 800 loài hiện sống và 2.500 loài tuyệt chủng [16]. Cầu gai còn được gọi là nhím biển hay cà ghim bởi xung quanh loài này có hàng trăm que nhọn, có đối xứng tỏa tròn.
Nhím biển sống gần các rạn san hô, rạn đá ven biển. Khi nhìn thoáng qua, thì Cầu gai giống như một vật bất động, không có khả năng di chuyển. Dấu hiệu rõ rang nhất để chứng minh chúng thật sự là động vật là ở những cây gai, tua tủa dính vào vỏ bằng các nối kiểu một quả bóng gắn vào một hốc tế bào (ball-and-socket), các gai này có thể chia về mọi phía. Có 2 loại gai là gai thường làm nhiệm vụ vận chuyển và gai kìm là chứ năng tự vệ [17].
Khi chỉ bị chạm nhẹ, Cầu Gai phản ứng bằng cách hướng hết gai về phía chạm. Cầu gai không có mắt, không có chân, không có cơ quan để di chuyển. Cầu gai sống nhiều ở độ sâu khác nhau từ đới gian triều tới biển sâu. Hiện biết khoảng hơn 70 loài thuộc các chi Salmacis; Temnopleurus; Diadema; Clypeaster [16].
Phân loại và phân bố Có mặt ở hầu hết các vùng biển trên thế giới; Sống trong rạn san hô, từ vùng triều đến độ sâu khoảng 70 mét, sống trên thềm biển, đáy đá và vùi trong cát biển. Trong nước: Ở vịnh Bắc Bộ đã bắt gặp khoảng 20 loài, thường gặp Astropyga radiata có thân lớn (khoảng 20 cm) và dẹp; Temnopleurus toreumaticus nhỏ (đường kính 4 – 5cm) sống thành đàn ở vùng đáy bùn cát từ vùng triều đến độ sâu 50m; Laganum decagonale có vỏ mỏng gần trong suốt, con lớn nhất dài khoảng 4,6 cm, rộng 4,4 cm sống phổ biến ở đáy bùn nhuyễn. Lovenia subcarinate hình trứng dài khoảng 6 cm sống ven bờ vùng đáy bùn nhuyễn chỗ nước sâu 10 - 35 cm, tập trung nhiều ở ven bờ và vùng đông bắc vịnh [8]. Ven biển Miền Trung và Quần đảo Hoàng Sa; Ở vùng biển Côn Đảo, phát hiện được 13 loài thuộc 9 họ; Ở Vịnh Nha Trang phát hiện 7 loài; Tại vùng Luan van 7 biển Vịnh Phong Vân – Bến Gỏi, Vịnh Thái Lan, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Thiết, thường xuất hiện nhiều loài có giá trị kinh tế cao.
Trên thế giới: Loài phân bố rộng ở vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, vùng biển Bác Đại Tây Dương từ eo biển Anh Quốc sang New Jersey (Hoa Kỳ). Các loài cầu gai dung làm thực phẩm Vùng biển Địa Trung Hải: Tại Địa Trung Hải, cầu gai ăn được nổi tiếng nhất là Paracentrotus lividus. Loài này được xem là một món ăn ngon đặc biệt, bán tại các nhà hàng ở các thành phố ven biển nơi chúng bị đánh bắt. Chúng có thể đến tận vùng biển phía Nam Ái Nhĩ Lan, đường kính có thể đến 8 cm.
Vỏ ngoài thường được bán để làm quà lưu niệm. Vùng Bắc Đại Tây Dương: Tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương, từ eo biển Anh quốc (English Channel) sang đến New Jersey (Mỹ), loài thường gặp nhất là Strongylocentrus droebachiensis. Tuy nhiên chúng không được nhiều nơi ưa thích. Loài này xuất hiện rất nhiều tại vùng biển Maine (Mỹ).
Thị trường tiêu thụ của loài động vật da gai này tương đối giới hạn chỉ một vài chợ buôn bán hải sản quanh New York như Fulton Fish Market. Việc chuyên chở cũng kiến cho thị trường không phát triển. Xa hơn về phía Nam Đại Tây Dương, có nhiều loài cầu gai nhỏ hơn, ít ăn được trừ loài Cidaris tribuloides trong vùng West Indies. Vùng Á Châu, Đông Nam Á: Tại Đông Nam Á, đa số cầu gai chỉ to bằng cỡ quả táo tây, loài Diadema setosum tuy rất dồi dào nhưng cũng chỉ được tiêu thụ tại một số địa phương (ngay tại Thái Lan loài này chỉ được dân tại đảo Kor Samuy ăn), do ở con vật này nhiều gai dài (có thể đến 20 cm) và nhọn đâm thấu qua da.
Gai rất dễ gãy, mỗi gai được bao bọc bởi những lớp tế bào hạch tiết ra một dịch có chất độc, đây là loài cầu gai đen ở Việt Nam. Vùng ven biển Phan Thiết (Bình Thuận) được xem là xứ của Cầu Gai (Nhum), do đó có một số địa danh liện hệ đến Nhum như sông Nhum, cầu Nhum, bến Nhum … Loài Diadema palmeri (Palmer’s needle-spined urchin), vỏ có đường kính khoảng 10 cm, gai dài đến 13 cm, vỏ màu lam – đen, có khi có đốm trắng trên gai. Tại Việt Nam, Cầu Gai là một ăn thuộc loại ‘đặc sản’ tại các vùng biển Phan Thiết. ❖ Lớp Hải sâm (Holothuroidea) Luan van 8 Tác giả: Nguyễn Văn Minh Địa điểm thu: Cồn Cỏ.
Hải sâm Holothuria (Halodeima) atra (Jaeger, 1833) a. Đặc điểm Hải sâm (Holothuria scabra) là động vật biển không xương sống, có thân dạng ống, dài như quả dưa chột, nên còn được gọi là ‘dưa chuột biển – Sea cucumber’. Thân hải sâm phình ra ở đoạn giữ và thon lại ở hai đầu với gai thịt nhỏ. Hải sâm có hai đầu, phía đầu trước có miệng ở mặt bụng.
Mặt lưng màu xám đậm, hai bên hông màu trắng, mặt bụng trắng, do bụng lõm vào giữa, miệng ở phần bụng, có 20 xúc tu hình tán nhỏ, màu vàng nâu. Hậu môn ở cuối thân, tuyến sinh dục nhỏ. Da hải sâm mềm, dưới da có các phiến xương nằm rải rác trong các lớp mô. Ngoài cùng là lớp canxi cứng màu trắng (chiều dày phụ thuộc vào độ lớn) để bảo vệ cơ thể hải sâm, sau đó là lớp da mềm, kế đến là lớp thịt, trong cùng là nội quan, hệ tiêu hóa.
Hải sâm là loài động vật đáy nằm trong nhóm các loài động vật da gai của biển, chúng sống ở các độ sâu khác nhau của biển, từ ven biển đến độ sâu Luan van 9 8.000 m, thường ở các vùng vịnh và nơi có nhiều đá ngầm. Trên Thế giới, hải sâm phân bố nhiều ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Malaysia và vùng biển Đông Phi. Ở Việt Nam, hải sâm phân bố chủ yếu ở các vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, Kiên Giang … phổ biển là các loài: hải sâm đen Holothuria vagabunda, hải sâm trắng H.Scabra, hải sâm vú Microthele nobilis Selenka, hải sâm mít Actinnopyga echinotes Jaeger, hải sâm hồ phách H. thelennota, hải sâm nâu.
Hiện nay mật độ hải sâm tại một số nơi của vùng biển Việt nam: Khánh hòa (0÷3 con/500 m2), đảo Phú Qúy (0÷2 con/500m2), Quảng trị (0÷9 con/500m2) Hải sâm có thể tồn tại và phát triển ở khoảng nhiệt độ và nồng độ muối khá rộng và ngưỡng oxy không quá cao, khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự tồn tại và phát triển của hải sâm trương đối rộng: từ 10oC – 31oC, vì vậy sự thay đổi nhiệt độ của các tháng trong năm không ảnh hưởng nhiều đến sự sống của chúng. Hải sâm kém thích nghi với nồng độ muối. Nồng độ muối thích hợp là 20%o – 34,5%o. Hải sâm trưởng thành thích nghi với sự thay đổi nông độ muối kém, còn hải sâm non khả năng thích nghi với sự thay đổi nông độ muối tốt hơn.