Tổng quan nghiên cứu

Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên phạm vi toàn cầu, chiếm tới 16% tổng số ca tử vong theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trong đó, hội chứng vành cấp là một biến cố y khoa cấp cứu đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh với tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao. Hơn 90% các trường hợp hội chứng vành cấp khởi phát do tình trạng mất ổn định và nứt vỡ của mảng xơ vữa động mạch. Bản chất của xơ vữa động mạch là một bệnh lý viêm tiến triển mang tính hệ thống, ảnh hưởng lan tỏa lên nhiều giường mạch máu trong cơ thể, từ động mạch vành, động mạch não cho đến hệ mạch máu ngoại biên. Do đó, bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp thường có nguy cơ đồng mắc rất cao với bệnh động mạch ngoại biên, trong đó bệnh động mạch chi dưới là dạng tổn thương phổ biến nhất với tần suất ghi nhận từ 13% đến 16% ở người có bệnh mạch vành.

Mặc dù có mối liên hệ mật thiết, hơn 50% bệnh nhân mắc bệnh động mạch chi dưới lại diễn tiến âm thầm không có triệu chứng đau cách hồi điển hình, dẫn đến việc chẩn đoán thường xuyên bị bỏ sót trong thực hành lâm sàng. Luận văn của bác sĩ Trần Thanh Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Châu Ngọc Hoa được thực hiện tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định trong giai đoạn từ tháng 09/2020 đến tháng 05/2021. Đề tài tập trung vào mục tiêu xác định tỷ lệ, đặc điểm của bệnh động mạch chi dưới thông qua chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI), đồng thời phân tích mối tương quan giữa chỉ số ABI với các thể lâm sàng của hội chứng vành cấp và mức độ tổn thương giải phẫu hệ mạch vành được định lượng theo thang điểm Gensini. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân tầng nguy cơ tim mạch, giúp giảm thiểu biến cố tim mạch chính (MACE) và định hướng chiến lược can thiệp tái tưới máu tối ưu cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng sinh lý bệnh học xơ vữa động mạch hiện đại kết hợp với các tiêu chuẩn chẩn đoán tim mạch quốc tế. Thuyết tổn thương nội mạc và viêm mạch mạn tính giải thích rằng sự tích tụ của lipoprotein tỷ trọng thấp biến đổi (mLDL) dưới lớp nội mạc kích hoạt quá trình chiêu mộ bạch cầu đơn nhân, hình thành tế bào bọt và giải phóng hàng loạt cytokine tiền viêm như Interleukin-6, Yếu tố hoại tử u alpha (TNF-α) cùng protein phản ứng C (CRP). Khi các mảng xơ vữa giàu lipid bị nứt vỡ, quá trình kết tập tiểu cầu và bẫy sợi huyết được khởi động tức thì, gây ra hơn 75% các biến cố huyết khối cấp tính làm tắc nghẽn dòng máu nuôi dưỡng cơ tim.

Hội chứng vành cấp được phân loại thành ba thể bệnh chính theo định nghĩa toàn cầu lần thứ 4 của ESC/ACCF/AHA/WHF: Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (STEMI), Nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên (NSTEMI) và Đau thắt ngực không ổn định (UA), dựa trên biến đổi điện tâm đồ 12 chuyển đạo và động học của các chất chỉ điểm sinh học hoại tử cơ tim như Troponin T siêu nhạy (hs-cTnT). Mức độ phức tạp của tổn thương mạch vành được lượng hóa thông qua thang điểm Gensini, một hệ thống tính điểm giải phẫu gán trọng số từ 1 đến 32 điểm tùy theo mức độ hẹp lòng mạch (từ 25% đến tắc hoàn toàn 100%) và nhân với hệ số vị trí mạch máu (thân chung động mạch vành trái có hệ số 5, đoạn gần động mạch liên thất trước có hệ số 2.5). Chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI) được xác định bằng tỷ số giữa huyết áp tâm thu cao nhất ở cổ chân và huyết áp tâm thu cao nhất ở hai cánh tay. Theo khuyến cáo của Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA), giá trị ABI từ 1.00 đến 1.40 là bình thường, từ 0.91 đến 0.99 là ngưỡng giới hạn, và ABI dưới hoặc bằng 0.90 là ngưỡng chẩn đoán xác định bệnh động mạch chi dưới với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu lên đến 90%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang phân tích (cross-sectional analytical study), tiến hành tại Khoa Nội tim mạch và Tim mạch can thiệp thuộc Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng 09/2020 đến tháng 05/2021. Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu được xác định là 89 bệnh nhân dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, sai số biên 8% và tỷ lệ dự đoán ABI bất thường là 18%. Trong quá trình triển khai thực tế, nghiên cứu đã thu thập liên tiếp 102 bệnh nhân hội chứng vành cấp được chỉ định chụp mạch vành qua da nhằm nâng cao độ chuẩn xác cho các phân tích thống kê.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện liên tiếp được áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân từ đủ 18 tuổi trở lên nhập viện vì hội chứng vành cấp và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp không thể đo ABI chính xác (phù chân nặng, tổn thương hoại tử tại vị trí quấn bao đo, đoạn chi dưới), bệnh nhân có tiền sử can thiệp tái thông mạch vành hoặc mạch chi dưới trước đó, và những người có rối loạn huyết động không ổn định. Dữ liệu được thu thập qua bảng kiểm chuẩn hóa gồm tiền sử bệnh, xét nghiệm sinh hóa máu, bilan lipid (Cholesterol toàn phần, Triglyceride, LDL-C, HDL-C, Remnant Cholesterol), điện tâm đồ, siêu âm tim và phim chụp mạch vành cản quang. Quy trình đo ABI được thực hiện lúc bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường tối thiểu 10 phút bằng thiết bị siêu âm Doppler cầm tay chuyên dụng Summit Doppler LifeDop LD300ABI kết hợp đầu dò bút chì tần số 8 MHz. Phân tích thống kê được thực hiện qua các thuật toán so sánh biến số, phân tích tương quan tuyến tính và mô hình hồi quy logistic đa biến nhằm xác định mối liên quan độc lập giữa ABI và mức độ tổn thương mạch vành, loại bỏ triệt để các yếu tố gây nhiễu thường gặp như tuổi cao, bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0.05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 102 bệnh nhân hội chứng vành cấp được chụp mạch vành cho thấy tỷ lệ bệnh động mạch chi dưới được xác định bằng chỉ số ABI dưới hoặc bằng 0.90 chiếm 22.55% (tương ứng 23 bệnh nhân). Tỷ lệ này cao gấp gần 4 lần so với tỷ lệ mắc bệnh động mạch chi dưới ước tính trong quần thể dân số chung ở cùng độ tuổi (khoảng 6%). Đáng chú ý, phần lớn các trường hợp có ABI bất thường đều không ghi nhận triệu chứng đau cách hồi kinh điển trước khi nhập viện.

Về đặc điểm giải phẫu hệ mạch vành, nhóm bệnh nhân có chỉ số ABI bất thường biểu hiện mức độ xơ vữa lan rộng và phức tạp hơn rõ rệt. Điểm Gensini trung bình ở nhóm bệnh nhân có ABI dưới hoặc bằng 0.90 cao vượt trội so với nhóm có ABI bình thường (đạt mức trên 70 điểm so với khoảng 45 điểm, p < 0.01). Tỷ lệ tổn thương nhiều nhánh động mạch vành (2 hoặc 3 nhánh) ở nhóm bệnh nhân có ABI bất thường lên tới 65.2%, cao hơn đáng kể so với mức 31.6% ở nhóm bệnh nhân có chỉ số ABI nằm trong giới hạn bình thường. Hơn nữa, tổn thương thân chung động mạch vành trái (LM) cũng xuất hiện với tỷ lệ 17.4% ở nhóm có ABI giảm, so với chỉ 5.1% ở nhóm đối chứng.

Phân tích tương quan cho thấy có một mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê rõ rệt giữa chỉ số ABI và thang điểm Gensini (hệ số tương quan dao động từ -0.27 đến -0.46 với p < 0.001). Chỉ số ABI càng giảm sâu thì mức độ hẹp và mức độ lan tỏa của tổn thương mạch vành càng gia tăng. Đồng thời, phân tích hồi quy đa biến khẳng định tuổi cao (trên 65 tuổi) và tiền sử mắc bệnh đái tháo đường týp 2 là hai yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng khả năng xuất hiện chỉ số ABI bất thường với tỷ số chênh OR lần lượt là 2.8 và 3.4 (p < 0.05).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân tán thể hiện mối tương quan nghịch giữa giá trị ABI và điểm Gensini, cùng biểu đồ cột so sánh điểm Gensini trung bình giữa các phân nhóm ABI (nhóm dưới 0.90, nhóm 0.91 đến 0.99 và nhóm 1.00 đến 1.40). Bảng phân tích hồi quy logistic đa biến đã minh họa rõ nét sự đóng góp của các chỉ số sinh hóa như nồng độ Cholesterol tồn dư (Remnant Cholesterol) trên 30 mg/dL vào gánh nặng xơ vữa toàn thân.

Kết quả tỷ lệ 22.55% bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân hội chứng vành cấp trong nghiên cứu này có sự tương đồng chặt chẽ với các công bố quốc tế. Trong nghiên cứu đa trung tâm PAMISCA trên 1.031 bệnh nhân hội chứng vành cấp, tỷ lệ ABI bất thường được ghi nhận là 38.2% và nhóm này có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhánh mạch vành lên đến 45.4% so với 30.3% ở nhóm bình thường. Kết quả này cũng củng cố nghiên cứu của Levent Korkmaz trên 150 bệnh nhân nhồi máu cơ tim không ST chênh lên với tỷ lệ ABI dưới 0.90 là 24% cùng mối tương quan nghịch rõ rệt với điểm SYNTAX (r = -0.46).

Tại Việt Nam, kết quả của luận văn hoàn toàn nhất quán với nghiên cứu của Phạm Ngọc Đan tại Bệnh viện Chợ Rẫy (điểm Gensini ở nhóm ABI bất thường là 49.3 so với 37.0 ở nhóm bình thường, p = 0.03) và nghiên cứu của Lê Thị Lan Hương tại Bệnh viện Tâm Đức với tỷ lệ bệnh động mạch chi dưới ở nhóm hội chứng vành cấp là 18% cùng điểm Gensini ở nhóm mắc bệnh cao vượt trội (86.13 so với 62.12). Cơ chế sinh học lý giải cho hiện tượng này là do sự tổn thương nội mô lan tỏa và tình trạng viêm mạn tính toàn thân. Bệnh nhân có ABI thấp phản ánh gánh nặng vôi hóa thành mạch cao, chức năng giãn mạch qua trung gian dòng chảy bị suy giảm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến tăng hậu tải thất trái và thúc đẩy xơ vữa đa mạch máu tiến triển nhanh hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thiết lập quy trình đo chỉ số ABI thường quy cho tất cả bệnh nhân nhập viện vì hội chứng vành cấp. Khoa Cấp cứu và Khoa Nội tim mạch cần trang bị máy Doppler cầm tay chuyên dụng và tổ chức đào tạo kỹ thuật đo chuẩn cho 100% điều dưỡng và bác sĩ điều trị. Việc tầm soát cần được hoàn tất trong vòng 24 đến 48 giờ đầu sau nhập viện ngay khi bệnh nhân đạt tình trạng huyết động ổn định, với mục tiêu đạt tỷ lệ tầm soát tối thiểu 90% số ca bệnh nhằm phát hiện kịp thời các tổn thương mạch ngoại biên tiềm ẩn.

Tối ưu hóa phác đồ dùng thuốc chống huyết khối kép kéo dài cho nhóm nguy cơ cao. Hội đồng chuyên môn Tim mạch cần đưa tiêu chí ABI dưới hoặc bằng 0.90 vào bảng phân tầng nguy cơ tắc mạch sau hội chứng vành cấp. Đối với các bệnh nhân có ABI bất thường và nguy cơ xuất huyết thấp, bác sĩ điều trị nên xem xét kéo dài liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép (DAPT) trên 12 tháng hoặc kết hợp thuốc chống đông đường uống liều thấp (Rivaroxaban 2.5mg hai lần mỗi ngày kết hợp Aspirin 100mg mỗi ngày) theo khuyến cáo của thử nghiệm COMPASS, nhằm giảm thiểu 25% đến 30% nguy cơ tái phát biến cố tim mạch chính trong 2 năm theo dõi.

Ưu tiên lựa chọn đường tiếp cận can thiệp mạch vành qua động mạch quay. Các bác sĩ tim mạch can thiệp nên ưu tiên sử dụng đường vào từ động mạch quay thay vì động mạch đùi ở những bệnh nhân có chỉ số ABI dưới 0.90. Giải pháp này giúp giảm thiểu 50% nguy cơ biến chứng chảy máu lớn tại vị trí chọc mạch và ngăn ngừa biến cố thuyên tắc mạch chi dưới do mảng xơ vữa bị bong tróc trong quá trình thao tác ống thông.

Thực hiện siêu âm khảo sát và bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn trước phẫu thuật bắc cầu chủ – vành (CABG). Khi bệnh nhân có chỉ định mổ bắc cầu mạch vành kèm theo ABI bất thường, phẫu thuật viên lồng ngực cần chủ động tầm soát chất lượng hệ mạch chi dưới bằng siêu âm Doppler trước mổ. Cần tránh việc bộc lộ và lấy tĩnh mạch hiển lớn một cách tùy tiện để hạn chế biến chứng loét thiếu máu cục bộ không lành ở cẳng chân và bảo tồn nguồn mạch ghép tự thân cho các can thiệp tái thông chi dưới trong tương lai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Can thiệp tim mạch: Luận văn cung cấp bằng chứng lâm sàng trực tiếp giúp các bác sĩ tim mạch đánh giá toàn diện gánh nặng xơ vữa động mạch, từ đó cá thể hóa chiến lược can thiệp tái tưới máu (chọn lựa giữa can thiệp qua da PCI và mổ bắc cầu CABG) và thiết lập phác đồ chống huyết khối chính xác cho từng ca bệnh.

Học viên Sau đại học, Bác sĩ Nội trú và Nghiên cứu sinh Y khoa: Tài liệu là tài nguyên tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, từ cách tính cỡ mẫu, quy trình thu thập dữ liệu bằng công cụ Doppler chuẩn hóa đến kỹ năng xử lý các mô hình thống kê y học đa biến phức tạp trong tim mạch học.

Bác sĩ Nội khoa tổng quát và Lão khoa: Hướng dẫn chi tiết cách ứng dụng chỉ số ABI như một công cụ tầm soát ban đầu tại các cơ sở y tế ban đầu, giúp phát hiện sớm bệnh động mạch ngoại biên ở những bệnh nhân lớn tuổi mắc bệnh đái tháo đường hoặc tăng huyết áp mạn tính.

Các nhà quản lý bệnh viện và điều dưỡng trưởng chuyên khoa tim mạch: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn và danh mục trang thiết bị thiết yếu (máy đo ABI cầm tay 8 MHz), phục vụ công tác cải tiến chất lượng chăm sóc và chuẩn hóa quy trình phân tầng nguy cơ nội viện.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số ABI là gì và tại sao bệnh nhân hội chứng vành cấp không có triệu chứng ở chân vẫn cần được đo chỉ số này? Chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI) là tỷ số giữa huyết áp tâm thu đo tại cổ chân và cánh tay. Bệnh nhân hội chứng vành cấp cần được đo ABI vì xơ vữa là bệnh lý toàn thân. Có tới hơn 50% bệnh nhân hẹp mạch chi dưới không có triệu chứng đau cách hồi nhưng việc suy giảm ABI cảnh báo tình trạng xơ vữa mạch vành nặng và nguy cơ biến cố tim mạch cao hơn gấp nhiều lần.

Ngưỡng giá trị ABI nào được dùng để chẩn đoán xác định bệnh động mạch chi dưới? Theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), giá trị ABI dưới hoặc bằng 0.90 là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định bệnh động mạch chi dưới với độ nhạy và độ đặc hiệu đạt khoảng 90%. Giá trị từ 0.91 đến 0.99 thuộc vùng giới hạn cần theo dõi thêm, từ 1.00 đến 1.40 là bình thường, và trên 1.40 cảnh báo tình trạng động mạch bị vôi hóa cứng không thể đè xẹp.

Thang điểm Gensini có mối liên hệ như thế nào với chỉ số ABI ở bệnh nhân hội chứng vành cấp? Nghiên cứu chỉ ra mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa ABI và điểm Gensini (hệ số tương quan r từ -0.27 đến -0.46, p < 0.001). Bệnh nhân có ABI bất thường (dưới hoặc bằng 0.90) có điểm Gensini trung bình cao hơn rõ rệt (trên 70 điểm so với khoảng 45 điểm ở nhóm bình thường), đồng thời tỷ lệ tổn thương nhiều nhánh mạch vành và thân chung động mạch vành trái cao hơn gấp 2 lần.

Việc phát hiện chỉ số ABI thấp có ảnh hưởng đến việc lựa chọn thuốc điều trị sau xuất viện không? Có ảnh hưởng rất lớn. Bệnh nhân hội chứng vành cấp có kèm ABI thấp được xếp vào nhóm nguy cơ thuyên tắc huyết khối cao. Sau khi đánh giá nguy cơ xuất huyết, bác sĩ sẽ cân nhắc kéo dài liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép hoặc phối hợp thuốc chống đông liều thấp với Aspirin theo thử nghiệm COMPASS nhằm giảm 25% nguy cơ tử vong và biến cố tim mạch tái phát.

Tại sao nên sử dụng máy Doppler chuyên dụng thay vì ống nghe thông thường để đo chỉ số ABI? Sử dụng đầu dò siêu âm Doppler tần số 8 MHz cho độ nhạy và độ chính xác vượt trội (khoảng 90%). Khi đo bằng ống nghe thông thường, tiếng đập mạch ở vị trí cổ chân chỉ nghe được trong khoảng 40% trường hợp và huyết áp tâm thu đo được có thể chênh lệch tới 15.2 mmHg, dẫn đến sai số lớn và dễ bỏ sót các trường hợp bệnh động mạch chi dưới giai đoạn sớm.

Kết luận

Nghiên cứu đã khảo sát thành công chỉ số mắt cá chân – cánh tay trên 102 bệnh nhân hội chứng vành cấp tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định và rút ra các kết luận cốt lõi sau:

  • Tỷ lệ mắc bệnh động mạch chi dưới (ABI dưới hoặc bằng 0.90) ở bệnh nhân hội chứng vành cấp chiếm 22.55%, cao gấp gần 4 lần so với quần thể dân số chung cùng lứa tuổi.
  • Đa số các trường hợp có ABI bất thường diễn tiến tiềm tàng và không biểu hiện triệu chứng đau cách hồi rõ rệt trên lâm sàng trước khi xảy ra biến cố vành cấp.
  • Chỉ số ABI có mối tương quan nghịch chặt chẽ với thang điểm giải phẫu Gensini; bệnh nhân có ABI giảm biểu hiện gánh nặng xơ vữa nặng nề hơn với tỷ lệ tổn thương đa nhánh mạch vành lên đến 65.2%.
  • Tuổi cao trên 65 và tiền sử đái tháo đường týp 2 là những yếu tố nguy cơ độc lập làm gia tăng tỷ lệ xuất hiện chỉ số ABI bất thường với tỷ số chênh OR từ 2.8 đến 3.4.
  • Phương pháp đo ABI bằng máy Doppler 8 MHz là kỹ thuật thăm dò không xâm lấn, chi phí thấp, độ chính xác cao (độ nhạy và độ đặc hiệu 90%) cần được chuẩn hóa và thực hiện thường quy tại các khoa tim mạch.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy về vai trò của ABI trong việc phân tầng nguy cơ và định hướng can thiệp tim mạch tại Việt Nam. Trong các giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu dọc theo dõi từ 12 đến 24 tháng cần được triển khai để đánh giá sâu hơn về tỷ lệ biến cố tim mạch bất lợi chính (MACE) dài hạn. Các cơ sở y tế hãy tích hợp ngay quy trình đo ABI vào phác đồ tiếp nhận bệnh nhân hội chứng vành cấp để nâng cao chất lượng điều trị và bảo vệ tối đa sức khỏe tim mạch cho người bệnh!