Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Câu tiếng Việt 1. Quan niệm về câu Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình vị, từ, cụm từ, thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất.
Tuy nhiên, cho đến nay dù đã có rất nhiều định nghĩa về câu được đưa ra nhưng vẫn chưa có sự thống nhất. Ngay từ thế kỷ III - II TCN, Alêchxandria đã nêu định nghĩa như sau: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”. [dẫn theo 26; tr 8] Đây là khái niệm thể hiện về mặt chức năng và ý nghĩa của câu. Mặt khác, định nghĩa này có tính chất đơn giản, dễ hiểu và khá hoàn chỉnh.
Chính vì điều đó mà cho đến ngày nay định nghĩa này vẫn được sử dụng một cách khá phổ biến. Ở Việt Nam, thời kỳ đầu của ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề về “văn phạm Việt Nam” nói chung và câu nói riêng mới được nghiên cứu ở mức “sơ khai”, phần lớn mô phỏng sách ngữ pháp của tiếng Pháp do đó vấn đề định nghĩa về câu thực sự chưa có gì thay đổi. Tác giả Trần Trọng Kim viết: “Câu lập thành do một mệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề”. [dẫn theo 26; tr 15] Còn Nguyễn Lân thì cho rằng: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý dứt 13 khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật thì gọi là một câu”.
[23; tr 19] Những năm gần đây, khi nghiên cứu về câu các nhà ngữ pháp học Việt Nam đã nhìn nhận với xu hướng mới đó là đồng thời dựa vào cả hai bình diện cấu trúc và ý nghĩa của câu. Tiêu biểu là định nghĩa về câu của Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (2007): “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5; tr 107]. Như vậy, theo quan điểm của Diệp Quang Ban, câu được nhận diện đầy đủ cả về tiêu chí hình thức lẫn nội dung ý nghĩa.
Trong: “Câu chuẩn mực tiếng Việt”, Đái Xuân Ninh (2008) đã đưa ra định nghĩa về câu như sau: “Câu là một cụm từ (có một hay trên một yếu tố) kết hợp chặt chẽ với nhau lập thành một nòng cốt thông báo duy nhất hay nhiều nòng cốt thông báo đẳng lập đã diễn đạt một điều gì mới trong một hoàn cảnh nhất định” [30; tr 120]. Với quan niệm trên, tác giả quan tâm nhiều đến chức năng thông báo của câu. Ngoài ra, tác giả còn chú ý đến hoàn cảnh mà câu xuất hiện. 14 Còn tác giả Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra định nghĩa về câu tương tự nhưng cụ thể hơn: “Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là một ngữ tuyến được hoàn thành về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo quy tắc của một ngôn ngữ nhất định, là phương diện để biểu đạt tư tưởng, thái độ của người nói với hiện thực” [31; tr 27].
Theo Hoàng Trọng Phiến, câu phải đảm bảo cả về mặt ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa. Dấu hiệu để nhận biết câu đó là ngữ điệu khi sử dụng. Và trong “Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ”, tác giả Đỗ Việt Hùng (2011) có nêu: “Câu là đơn vị ngôn ngữ do các từ ngữ kết hợp với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, biểu thị một nội dung tương đối trọn vẹn, có chức năng thực hiện một hành động ngôn ngữ” [19; tr 27]. Từ những định nghĩa trên ta thấy: các nhà ngôn ngữ học đã chú ý đến cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khi nghiên cứu về câu.
Hướng nghiên cứu này đã trở nên phổ biến, chúng ta có thể kể ra đây những quan niệm về câu theo hướng này như: Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá. Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc” [24; tr 107]. Nguyễn Thị Lương trong “câu tiếng Việt” cũng định nghĩa: “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo 15 nên từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực biện một hành động nói” [26; tr 17]. Như vậy, các định nghĩa về câu trên đây đã đáp ứng nhu cầu đầy đủ cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo nên câu.
Các quan niệm, định nghĩa về câu của các tác giả là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu một dạng bất thường của câu xét về mặt ngữ pháp, đó là câu đặc biệt. Đặc điểm của câu Mỗi đơn vị ngôn ngữ đều mang trong mình những đặc điểm riêng, với tư cách là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, câu có những đặc điểm cơ bản sau: 1. Về phương diện hình thức - Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập: Câu là một đơn vị ngôn ngữ không có sẵn. Muốn có được nó người sử dụng phải kết hợp từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn như từ, cụm từ với nhau theo những quy tắc nhất định của ngôn ngữ.
Câu là sản phẩm được tạo ra mỗi khi con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp. Do đó số lượng câu là vô hạn. Cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu bình thường đó là cấu trúc C – V. Ngoài ra câu còn có những cấu trúc đặc biệt, đó là những câu chỉ có một thành phần.
- Câu có ngữ điệu kết thúc: Là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp nên câu luôn luôn có một ngữ điệu nhất định. Ngữ điệu là những đặc điểm của giọng nói như lên cao hay xuống thấp, nhanh 16 hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng,… Ngữ điệu giúp cho người nghe có thể phân biệt được đó là loại câu gì (tường thuật, hỏi, nghi vấn hay cảm thán), thậm chí có thể cảm nhận được tâm trạng của người nói. Ngữ điệu bình thường câu tường thuật. - Nó đã đến? Ngữ điệu lên cao câu hỏi.
- Nó đã đến! Ngữ điệu đi xuống câu cảm thán Trong tiếng Việt, người nói thường sử dụng các tiểu từ tình thái cuối câu như: à, ư, nhỉ, nhé, hả, a, với, chứ,… Khi viết, câu được nhận diện nhờ vào hình thức: chữ cái đầu của âm tiết đầu câu được viết hoa, cuối câu sử dụng các dấu tương ứng như dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!). Ví dụ: Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười… Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi Chạy đâu! Thôi hết, chết rồi! Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành. Về phương diện nghĩa Câu được tách ra làm hai thành tố nghĩa cơ bản là: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Nghĩa miêu tả “là thành tố nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói đến trong câu.
Sự phản ánh này không phải theo kiểu hình chiếu qua gương soi mà phản ánh qua nhận thức của con người”. [3; tr 180] Nghĩa tình thái “là thành tố chỉ ý định, thái độ, tình cảm của người nói đối với điều được nói ra ”. [3; tr 181] Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái là các phần nghĩa được biểu hiện qua câu chữ - nó thuộc phần nghĩa tường minh của câu. Về phương diện sử dụng Được coi là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ biểu thị một ý trọn vẹn nên câu không chỉ mang chức năng thông báo mà còn được dùng để hỏi, chào, yêu cầu, khuyên nhủ,… Hay nói cách khác, câu được dùng để thực hiện hành động nói.
Bất kì một câu - phát ngôn nào cũng biểu thị ít nhất một hành vi ngôn ngữ. Ví dụ: - Ngày mai, các em được nghỉ học. Hành vi thông báo. - Trời sáng rồi, tắt điện đi.
Hành vi nhận xét / yêu cầu. - Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe, anh đừng hút nữa. Hành vi đánh giá/ khuyên nhủ. 18 Qua các ví dụ trên ta thấy: thực hiện hành động nói là chức năng cơ bản của câu.
Chức năng này không có được ở các đơn vị bậc dưới như hình vị, từ, cụm từ. Song, muốn xác định đúng hành động nói của câu cần đặt câu vào trong ngữ cảnh nhất định. Như vậy, để nhận biết câu trong một bài viết, chúng ta sẽ thấy là nó bắt đầu bằng một chữ cái viết hoa, và kết thúc bằng một dấu chấm câu, có thể là chấm, là chấm hỏi, chấm than v.v… Về mặt âm thanh, câu nằm giữa hai khoảng im lặng tương đối dài. Về mặt nghĩa, câu bao giờ cũng diễn đạt một ý trọn vẹn.
Phân loại câu Câu là đơn vị có nhiều mặt nên việc phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện nay khá phức tạp, dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau. Đi theo hướng nghiên cứu ngữ pháp của câu, các nhà ngữ pháp học thường phân loại câu dựa trên hai phương diện sau: - Phân loại câu dựa vào cấu tạo ngữ pháp. - Phân loại câu dựa vào mục đích sử dụng. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ bàn đến việc phân loại câu về mặt cấu tạo ngữ pháp.
Nghĩa là sự phân loại dựa vào cấu trúc ngữ pháp, các mô hình để làm tiền đề cho việc nghiên cứu các kiểu câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Tuy nhiên, cách phân loại câu dựa vào cấu trúc ngữ pháp cũng chưa có sự thống nhất. Đái Xuân Ninh (2008) chia câu ra làm hai loại: Câu bình thường và câu đặc biệt. Theo ông, câu bình thường là câu “ngoài mọi hoàn 19 cảnh”, còn câu đặc biệt là câu: “chỉ có nòng cốt thông báo gắn liền với một hoàn cảnh phát ngôn nhất định”.
[30; tr 120] Diệp Quang Ban cho rằng : “Cấu tạo ngữ pháp của câu được xem xét trên cơ sở câu đơn hai thành phần. Trên cơ sở đó, câu được phân loại thành câu đơn, câu ghép và câu phức”. Tiếp đó, tác giả phân loại bước thứ hai chia câu đơn thành câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt.