CHƯƠNG I: TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1 Thân thế Nghiêm Tòng Giản tự là Trọng Kha, hiệu là Thiệu Phong. Không rõ năm sinh năm mất. Tác giả là một người con của dòng họ Nghiêm phủ Gia Hưng, Chiết Giang Trung Quốc. Họ Nghiêm là một dòng họ đặc thù của phía nam Trung Quốc.
Theo gia phả họ Nghiêm, dòng họ này có hai chi, phân tách ra hai vùng khác nhau của Trung Quốc. Một chi họ sinh sống tại vùng Chiết Giang, mà tác giả thuộc chi họ này. Dòng họ Nghiêm tuy không nổi tiếng ở Trung Quốc nhưng cũng sản sinh ra rất nhiều những con người kiệt xuất. Trong đó phải kể tới Nghiêm Tử Lăng, thư pháp gia Nghiêm Diễn Lượng,… Theo sắp xếp của gia phả dòng họ này, tác giả Nghiêm Tòng Giản được xếp thứ 41 trong số các nhân vật ưu tú của dòng họ.
Tuy nhiên hiện nay ngay cả trong gia phả còn lại của họ Nghiêm cũng không thấy ghi chép gì về năm sinh năm mất của tác giả. Ông được vinh dự lưu danh trong gia phả cùng với tác phẩm chính của mình là cuốn Thù vực chu tư lục. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, Nghiêm Tòng Giản sau khi đỗ tiến sĩ và nhận chức làm quan cũng mang tinh thần vì nước thương dân. Mặc dù đóng góp của tác giả trong quãng thời gian nhiệm chức cũng không có mấy nổi bật, nhưng không thể phủ nhận hoàn toàn những công sức và cố gắng của tác giả với dân tộc.
Bản thân tác giả cũng tự nói về chí khí, mong muốn cống hiến của mình như sau: Trần Thị Ngọc Thủy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thù vực chu tư lục – khảo cứu và giới thiệu Phù nam tử thủy sinh, huyền tang cô bồng thỉ dĩ xạ tứ phương, chí hữu sự dã. Man di nhung địch, bất xuất phục tái, thục phi tứ phương chi cức, nhi vi nam tử sở hữu sự giả hồ! Khi mới sinh được con trai, treo cành dâu mà bắn mũi tên ra bốn phía, ấy là tỏ việc có chí khí vậy. Man di nhung địch, không ra mà gánh vác, ai chẳng mệt mỏi vì chuyện bốn phương, mà làm nam tử nên có việc đó vậy! 1.2 Sự nghiệp Nghiêm Tòng Giản đỗ tiến sĩ năm Gia Tĩnh thứ 38 (1559), ban đầu được giao chức hành nhân, sau chuyển làm Cấp sự trung Hình khoa, Công khoa. Năm Long Khánh thứ 1 (1567), bị hãm hại mà đày đi làm huyện thừa Vụ Nguyên, sau đổi sang làm Đồng tri Dương Châu, cuối cùng bị cách chức mà về quê.
Mặc dù được giữ chức hành nhân, nhưng quãng đời làm quan của mình, Nghiêm Tòng Giản chưa từng được cử đi sứ lần nào. Vì thế nếu nói rằng để có kinh nghiệm tai nghe mắt thấy về từng địa phương, khu vực mà ghi chép là không có. Nhưng trong thời gian nhiệm chức của mình, tác giả được tiếp xúc với rất nhiều thông tin của các sứ giả khác. Đồng thời, việc ghi chép lại các thông tin này cũng giúp ích rất nhiều cho tác giả trong việc biên soạn nên cuốn sách Thù vực chu tư lục.
Các tác phẩm chính có: Thù vực chu tư lục, An Nam lai uy tập lược, Thi giáo, Sứ chức văn hiến thông biên. Hầu hết các tác phẩm của ông đều được sáng tác trong thời gian giữ chức hành nhân.1 Hoàn cảnh lịch sử Nhà Minh là triều đình cai trị Trung Quốc từ năm 1368 đến năm 1644. Đây là triều đại độc lập cuối cùng ở Trung Quốc do tộc Hán lãnh đạo, sau khi giành lại độc lập từ nhà Nguyên của người Mông Cổ và trước khi rơi vào tay nhà Thanh của người Mãn Trần Thị Ngọc Thủy 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thù vực chu tư lục – khảo cứu và giới thiệu Châu. Nhà Minh thường được xem là đỉnh cao của nền văn minh Trung Hoa với những thành tựu về văn hóa, kinh tế ngoại giao,… Triều đại nhà Minh – Trung Quốc vốn có mối quan hệ rất mật thiết với các nước lân cận và các vùng hải ngoại quanh đó.
Minh Thái tổ đã từng phái sứ giả đi các nước như Triều Tiên, Lưu Cầu, Nhật Bản, An Nam, Chân Lạp,…Sự khởi đầu quan hệ ngoại giao của nhà Minh được đánh dấu bởi những cuộc chinh phạt khi họ tìm cách củng cố và mở rộng quyền lực. Trong những năm cầm quyền đầu tiên của mình, vị vua đầu tiên của nhà Minh – Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương, đã đưa ra những chỉ dẫn được coi như di huấn cho các thế hệ sau này. Chúng gồm các lời khuyên cho rằng: các nước ở phương bắc là rất nguy hiểm và là một mối đe dọa đối với chính nhà Minh. Còn đối với các nước phương nam, trái lại, Minh Thái tổ cho rằng đây không phải là một mối đe dọa, vì thế cũng không phải là mục tiêu cần tấn công.
Minh Thái tổ trong chính sách ngoại giao của mình với các nước hải ngoại xung quanh cũng đã đưa ra nhiều điểm tiến bộ. Bản thân Minh Thái tổ khi mới lên ngôi, cũng đã ra lời huấn thị cho con cháu đời sau về cách hành xử với các nước này: “四方诸夷皆限山隔海,僻在一隅,得其地不足以供给,得其民不足以使 令。若其不自揣量,来扰我边,则彼为不祥。彼既不为中国患,而我兴兵轻犯, 亦不祥也。吾恐后世子孙倚中国富强,贪一时战功,无故兴兵,杀伤人命,切记 不可。但胡戎与中国边境密迩,累世战争,必选将练兵,时谨备之。今将不征诸 夷国名,开列于后。东北:朝鲜国;正东偏北:日本国;正南偏北:大琉球国, 小琉球国;西南:安南国,真腊国,暹罗国,占城国,苏门答剌国,西洋国、爪 哇国,湓亨国,白花国,三弗齐国,渤泥国。” Tứ phương chư di giai hạn sơn cách hải, tỵ tại nhất ngung, đắc kỳ địa bất túc dĩ cung cấp, đắc kỳ dân bất túc dĩ sử lệnh. Nhược kỳ bất tự suỷ lượng, lai vưu ngã biên, tắc bỉ vi bất tường. Bỉ ký bất vi Trung Quốc hoạn, nhi ngã hưng binh khinh phạm, diệc bất tường dã.
Ngô khủng hậu thế tử tôn ỷ Trung Quốc phú cường, tham nhất thời chiến công, vô cố hưng binh, sát thương nhân mệnh, thiết ký bất khả. Đãn Hồ nhung dữ Trần Thị Ngọc Thủy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thù vực chu tư lục – khảo cứu và giới thiệu Trung Quốc biên cảnh mật nhĩ, luỹ thế chiến tranh, tất tuyển tướng luyện binh, thời cẩn bị chi. Kim tương bất chinh chư di quốc danh, hình liệt vu hậu. Đông bắc: Triều Tiên quốc; chính đông biên bắc: Nhật Bản quốc; chính nam biên bắc: Đại Lưu Cầu quốc, Tiểu Lưu Cầu quốc; tây nam: An Nam quốc, Chân Lạp quốc, Xiêm La quốc, Chiêm Thành quốc, Tô Môn Đáp Lạt quốc, Tây Dương quốc, Trảo Oa quốc, Bàn Hưởng quốc, Bạch Hoa quốc, Tam Phật Tề quốc, Bột Ni quốc.
(Các nước man di tứ phương đều ngăn sông cách núi, dựa vào một góc nhỏ, có được đất ấy cũng chẳng đủ để cung cấp cho ta, có được dân ấy cũng chẳng đủ để cho ta sai khiến. Các nước ấy lại không biết tự lượng sức mình, lại tới nước ta mà dò xét, ấy cũng là một điều không tốt. Nhưng nếu cho rằng đó là mối hoạ của Trung Quốc, mà ta đi dấy binh xâm phạm, thì cũng là một điều chẳng hay. Ta vốn lo con cháu ta sau này ỷ thế Trung Quốc lớn mạnh, tham cái chiến công nhất thời, vô cớ dấy binh, làm sát hại đến sinh mệnh con người, thiết nghĩ là không thể được.
Còn bọn rợ Nhung ngay sát biên giới Trung Quốc, thấy ta mệt mỏi vì chinh chiến, tất là sẽ tuyển binh luyện tướng, khi ấy thì phải phòng bị cẩn thận. Nay lệnh cho sẽ không đánh phạt các nước man di được liệt kê sau đây. Phía đông bắc: nước Triều Tiên; hướng chính đông biên giới phía bắc: nước Nhật Bản; hướng chính nam biên giới phía bắc: nước Đại Lưu Cầu, nước Tiểu Lưu Cầu; tây nam: An Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Chiêm Thành, Tô Môn Đáp Lạt, Tây Dương, Trảo Oa, Bàn Hưởng, Bạch Hoa, Tam Phật Tề, Bột Ni). Tuy nhiên, các thế hệ của nhà Minh về sau dù tuân theo hay không tuân theo, nhưng vẫn coi các nước phương nam như một mục tiêu xâm lấn và tấn công nhằm mở rộng bờ cõi.
Mang tâm lý muốn mở rộng bờ cõi và phô trương thanh thế như vậy, các thế hệ sau của Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương đã có nhiều chính sách mới trong quan hệ ngoại giao với các nước man di xung quanh. Trung Quốc vốn là một nước lớn trong khu vực châu Á, có ảnh hưởng tới rất nhiều các nước xung quanh, thậm chí sự ảnh hưởng ấy có thời gian còn vượt sang cả các nước Đông Âu. Chính vì vậy, từ rất sớm ý thức thống trị, ảnh hưởng với các nước nhỏ đã ăn sâu vào tư tưởng của các triều đại Trung Quốc. Gần thì phải kể tới các nước Trần Thị Ngọc Thủy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thù vực chu tư lục – khảo cứu và giới thiệu như Nhật Bản, Triều Tiên, An Nam, Chiêm Thành,…; xa thì có các nước như Đại Lưu Cầu, Tiểu Lưu Cầu, Thiên Phương quốc, …Việc giao thông với các nước và khu vực này không chỉ nhờ tới ảnh hưởng từ sức mạnh quân đội, sự phát triển hơn về khoa học kỹ thuật, mà phần lớn, phải nhờ tới sứ thần, hành nhân - những người có vai trò tiên phong trong công tác ngoại giao của một quốc gia.
Song song với nhiệm vụ tới thể hiện thái độ, cũng như ảnh hưởng của mình tới các nước xung quanh, nhiệm vụ của các hành nhân lúc bấy giờ còn thêm cả việc ghi chép các văn hiến, đặc thù địa lý của từng khu vực, lãnh thổ ấy. Hầu hết các tác phẩm viết về các nước, khu vực xung quanh với Trung Quốc thời cổ đều do các hành nhân ghi chép lại trên đường thi hành nhiệm vụ của bản thân. Nghiêm Tòng Giản đỗ tiến sĩ năm Gia Tĩnh thứ 38 (1559), ban đầu cũng được giao chức hành nhân (tức sứ giả) – một chức quan trong Ty Hành nhân chuyên lo về các việc đối ngoại. Trong việc bang giao khi xưa, ngoài những lễ nghi trong quan hệ với các nước láng giềng, thì vai trò của người đi xứ còn ở giải quyết cả những tranh chấp xung đột dân tộc.
Hầu như khi có mâu thuẫn xảy ra, bao giờ người đi sứ cũng đảm nhận vai trò tiên phong trong việc giải quyết. Vì thế những quan lại được cử làm ngoại giao, lập sứ hay đi sứ đều phải là những người tài giỏi. Những người đi sứ ngày xưa đều học thuộc lòng những câu trong sách Luận ngữ: “Sứ ư tứ phương, bất nhục quân mệnh, khả vi sĩ hỹ” (Kẻ sứ thần đi bốn phương, không làm nhục tới quân mệnh, ấy được coi là kẻ sĩ vậy). Như vậy có thể thấy vai trò, nhiệm vụ của chức quan này không hề nhỏ.
Tác giả đã có một thời gian dài làm việc ở Ty hành nhân được lập trong cung đình nhà Minh chuyên theo dõi việc ngoại giao. Ông đã có điều kiện tiếp nhận với nhiều tư liệu có liên quan đến nước ngoài, các khu vực có quan hệ.