Chương 1. Tổng quan tư liệu - Chương 2. Đặc trưng di tích và di vật - Chương 3. Di tích Đông Lâm trong thời đại Kim khí ở Bắc Giang Ngoài nội dung chính nêu trên, trong luận văn còn có 3 phần phụ lục (Phụ lục I gồm 13 bảng thống kê; Phụ lục II là 15 bản dập hoa văn gốm; Phụ lục III gồm 60 bản vẽ minh họa; Phụ lục IV gồm 77 bản ảnh) và danh mục 48 tài liệu tham khảo.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía tây, tây bắc liền kề Thái Nguyên, phía nam, đông nam là tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh.
Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.822,5km2 và dân số 1.563,9 nghìn người (năm 2005), đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15 về dân số trong 64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Bắc Giang vốn là một phần của vùng đất xứ Kinh Bắc, nằm ở phía bắc kinh thành Thăng Long trong lịch sử. Trải qua năm tháng đổi thay qua các triều đại, vùng đất này có nhiều tên gọi khác nhau. Thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Bắc Giang thuộc bộ Vũ Ninh.
Thời Lý - Trần có tên gọi là lộ Bắc Giang. Sang thời Lê đổi thành phủ Bắc Hà, đến thời Nguyễn là Phủ Thiên Phúc, sau là Đa Phúc. Tỉnh Bắc Giang được thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 1895. Năm 1962, Bắc Giang sát nhập với tỉnh Bắc Ninh để trở thành tỉnh Hà Bắc.
Năm 1997 trước nhu cầu phát triển, tỉnh Hà Bắc lại tách ra thành 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh như ngày nay. Lãnh thổ Bắc Giang trải từ tây sang đông, dài nhất là 120km, tính từ điểm cực đông - xã An Lạc, huyện Sơn Động đến điểm cực tây - xã Đại Thành, huyện Hiệp Hòa; từ bắc xuống nam, nơi hẹp nhất dài 20km, tính từ xã Bảo Sơn xuống xã Huyền Sơn huyện Lục Nam; nơi rộng nhất là 48km, tính từ xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn đến xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Về cơ bản, địa giới tỉnh Bắc Giang được phân định với các tỉnh khác bởi các giới hạn tự nhiên, thường là những ngọn núi, dòng sông. Phía bắc tỉnh có dãy núi Bảo Đài ngăn cách các huyện Hữu Lũng, Chi Lăng của Lạng Sơn với các huyện Lục Nam, Lục Ngạn của Bắc Giang; phía đông bắc thuộc các huyện Lục Ngạn và Sơn Động giáp với các huyện Lộc Bình và Đình Lập của Lạng Sơn; phía nam có núi Huyền Đinh - Yên Tử ngăn cách các huyện Lục Nam, Sơn Động của Bắc Giang với các huyện Chí Linh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com củaHải Dương, huyện Đông Triều, huyện Hoành Bồ và thị xã Uông Bí của tỉnh Quảng Ninh.
Cũng ở phía nam, đoạn cuối sông Thương và đoạn đầu sông Thái Bình nối tiếp nhau làm giới hạn giữa huyện Yên Dũng của Bắc Giang với huyện Quế Võ của Bắc Ninh và huyện Chí Linh của Hải Dương. Ở mặt tây và tây bắc, một phần quan trọng của dòng sông Cầu làm giới hạn giữa các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng của Bắc Giang với các huyện Phổ Yên của Thái Nguyên, huyện Sóc Sơn của Hà Nội và các huyện Yên Phong, thành phố Bắc Ninh, huyện Quế Võ của tỉnh Bắc Ninh [11,tr. Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang [https://bandohanhchinh.com] Như vậy, Bắc Giang nằm hoàn toàn trong khu vực nội địa, gần giữa trung tâm vùng Đông Bắc của miền Bắc Việt Nam. Mặc dù không có bờ biển, nhưng khoảng cách từ lãnh thổ của tỉnh ra biển cũng không quá xa, cụ thể, phía đông nam từ giới hạn của Bắc Giang đến vịnh biển Hạ Long, nếu tính theo đường chim bay, có nơi chưa tới 30km.
Do đó, Bắc Giang cũng chịu ảnh hưởng khí hậu của biển về nhiều mặt. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về địa chất, địa hình, địa mạo Bắc Giang là vùng đất có cấu trúc tạo địa chất ít phức tạp và tương đối thuần nhất. Đất đá trên mặt được tạo thành trong các thời gian địa chất tương đối trẻ. Trên mặt cắt địa chất kéo dài từ khu vực hồ Cấm Sơn về qua Sơn Động, từ độ sâu 1km trở lên phân bố chủ yếu là các đất đá trầm tích như sét kết, bột kết, cát kết, cuội sạn kết….
được lắng đọng từ khoảng 200 triệu năm trở lại đây. Các đất đá cổ hơn phân bố ở các độ sâu lớn và lộ ra ở vùng rìa phía bắc của tỉnh như huyện Yên Thế và phía nam, phần giáp với Quảng Ninh. Các đất đá trẻ nhất được hình thành trong kỷ Đệ Tứ, từ khoảng trên một triệu năm trở lại đây và phân bố dọc các sông suối. Địa chất của lãnh thổ Bắc Giang ít bị xáo trộn và có chế độ hoạt động tương đối ổn định.
Phần trên vỏ trái đất ở các khu vực Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam cấu tạo từ các lớp đá trầm tích, nằm nghiêng thoải. Số lượng các đứt gãy đi qua địa phận của tỉnh không nhiều. Có đứt gãy chạy qua gần thành phố Bắc Giang về phía Quảng Ninh có tầm hoạt động rộng, hiện đang hoạt động và khả năng phát sinh động đất [11, tr. Vùng đồng bằng và các thềm cao dọc sông, cấu tạo từ các loại đất bồi tích lâu đời là nơi thuận tiện cho việc định cư và chủ động trong canh tác sản xuất.
Bắc Giang ít phức tạp như các tỉnh khác ở vùng Đông Bắc. Nơi đây được chia thành 4 tiểu vùng: - Khu vực miền núi xâm thực, được nâng lên mạnh thuộc lưu vực sông Lục Nam. Đây là khu vực núi cao hiểm trở của tỉnh Bắc Giang. Người ta có thể quan sát thấy các dãy núi như Bảo Đài - Cấm Sơn và Huyền Đinh - Yên Tử chính là đường ranh giới giữa Bắc Giang với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương.
Trên núi Huyền Đinh - Yên Tử thuộc đất Sơn Động - Lục Nam có đỉnh Yên Tử cao 1. Trên núi Bảo Đài - Cấm Sơn có đỉnh Ba Vũi ở Lục Ngạn cao 975m. Trong khu vực miền núi này, các nhà khảo cổ hầu như chưa tìm thấy các di tích khảo 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cổ tiền - sơ sử nào. Trong khi đó, các tỉnh liền kề như Lạng Sơn và Hải Dương đều đã tìm thấy các di cốt người hoá thạch và công cụ thời tiền sử trong các hang động đá vôi.
- Khu vực miền đồi trung du được nâng lên yếu, có địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây. Đây là miền trung du được cấu tạo bằng trầm tích đá gốc. Các ngọn đồi ở đây thường có đỉnh cao 30 - 50m. Trong phạm vi tỉnh Bắc Giang, giữa các khu vực này với miền núi là đường dọc theo chân núi Huyền Đinh lên Biển Động, men theo chân núi Bảo Đài lên Bến Lường ở bắc thị trấn Kép.
Con đường phân ranh giới với khu vực phía nam chính là từ Cẩm Lý huyện Lục Nam đến Lạng Giang, sang Nhã Nam rồi đến đường phân giới với tỉnh Thái Nguyên. Trong miền trung du của Bắc Giang, đáng chú ý là vùng đồi hai huyện Sơn Động và Lục Ngạn. Hai huyện này nằm ở trung tâm của vùng trũng An Châu, một vùng được các nhà địa chất xếp vào hệ tầng "Hố trũng Thái Bình Dương" [11,tr. Vùng trũng An Châu hình thành và phát triển từ kỷ Triat đến Creta, có trầm tích dày 5 - 8m, có nguồn gốc lục địa phun trào với thành hệ màu đỏ hoặc chứa than.
Thực chất, vùng trũng An Châu là một lòng máng sụt sâu, hai cánh không cân xứng và hơi chúc nghiêng về phía bắc. Hiện nay, đi trên đất hai huyện Sơn Động và Lục Ngạn, người ta vẫn còn gặp các vết tích thành tạo tuổi Jura, kiểu lòng máng uốn cong từ Đại Từ (Thái Nguyên) qua Lục Ngạn, Sơn Động (Bắc Giang) và lên phía bắc. Trong khu vực này còn gặp một số hố trũng kiểu chậu, nằm ở phía nam Sơn Động với tích tụ cuội sỏi kết, cát kết hỗn hợp, dày tời 700m, cấu tạo xiên chéo có nguồn gốc lục địa. Đây là vùng đồi và núi thấp, bị xâm thực mạnh, đồi có dạng hình mâm xôi, nằm kề nhau bởi các thung lũng hẹp.
- Khu vực thềm phù sa cổ bị chia cắt yếu. Địa hình chủ yếu là các đồi dốc thoai thoải lượn sóng, có độ cao dưới 30m, trên nền phù sa của sông Cầu, sông Thương. Địa hình này biểu thị rất rõ ở các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên và thành phố Bắc Giang. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khu vực thềm mài mòn có bị chia cắt yếu có núi sót.
Địa hình chủ yếu là các đồi núi thấp, khá bằng phẳng, có những núi sót như núi Neo ở Yên Dũng (cao 260m), núi Dĩnh Sơn ở Việt Yên. Về khí hậu Do nằm ở vùng đệm giữa miền núi Đông Bắc với châu thổ sông Hồng, nên khí hậu Bắc Giang có tính đa dạng của chế độ hoàn lưu gió mùa nhiệt đới. Mùa đông ở đây ít mưa, sương muối xuất hiện trên nhiều vùng đồi núi. Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.
Lượng mưa phân bố không đều do ảnh hưởng của địa hình. Các nhà khí tượng cho biết, mưa giảm dần từ phía Quảng Ninh về các huyện Lục Ngạn, Sơn Động và từ phía Hải Dương về huyện Yên Dũng. Lượng mưa trung bình cả năm là 1. Vùng núi bị chi phối bởi vĩ độ cao và vị thế bức bình phong, nên ít mưa hơn và khô hanh hơn.
Bắc Giang không quá xa biển nên gió biển có nhiều hơi nước theo thung lũng sông Thương đưa ngược lên phía bắc, đem theo gió lạnh, nên mùa đông vùng này đến sớm hơn. Do điều kiện thời tiết thịnh hành là lạnh và khô, nên thường xuất hiện sương muối. Bên cạnh đó, lượng mưa ở đây ít, nhất là vùng thung lũng khuất nên thường xuất hiện khô hạn hơn các vùng khác. Đi trên 4 vùng miền của Bắc Giang người ta có cảm tưởng sẽ lạnh dần, nhất là từ trung du lên miền núi.
Mùa nóng thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9; nhiệt độ trung bình 27 - 280C. Mùa lạnh từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình 16 - 170C. Sự biến động về giờ nắng trong năm cũng không nhiều, từ 1. Vùng trung du Bắc Giang khí hậu lạnh vừa và ẩm thuận lợi cho cây cối và động vật ăn cỏ phát triển [19,tr.
Về thuỷ văn Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Đây là 3 con sông chính nằm trong hệ thống sông Thái Bình.