Tổng quan nghiên cứu

Phẫu thuật lấy thai hiện là một trong những can thiệp sản khoa phổ biến nhất trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo khuyến cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mổ lấy thai tại các quốc gia đang phát triển chỉ nên duy trì ở mức dưới 20% nhằm bảo đảm an toàn sức khỏe sinh sản. Dẫu vậy, thống kê thực tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tỷ lệ này đã gia tăng nhanh chóng từ 25,2% năm 1997 lên 36,9% năm 2004 và đạt mức 54,4% vào năm 2017. Tương tự, tại Bệnh viện Hùng Vương, tỷ lệ sinh mổ cũng tăng từ 39% lên 42% trong giai đoạn 2010 đến 2015. Sự gia tăng mạnh mẽ của các ca phẫu thuật lấy thai đặt ra thách thức lớn đối với công tác kiểm soát nhiễm khuẩn hậu phẫu, đặc biệt là nhiễm khuẩn vết mổ vốn chiếm từ 5% đến 10% trong tổng số khoảng 2 triệu ca phẫu thuật hàng năm tại nước ta.

Nhiễm khuẩn vết mổ không chỉ kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng chi phí điều trị mà còn tiềm ẩn nguy cơ viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn huyết và đe dọa tính mạng người mẹ. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, đề tài nghiên cứu đã xác định hai mục tiêu trọng tâm: Thứ nhất, mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của sản phụ phẫu thuật lấy thai có sử dụng kháng sinh dự phòng. Thứ hai, đánh giá hiệu quả phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ và nhận diện các yếu tố nguy cơ liên quan. Nghiên cứu được triển khai trên 184 sản phụ tại Trung tâm Sản Phụ khoa thuộc Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, diễn ra liên tục từ ngày 01 tháng 07 năm 2022 đến ngày 31 tháng 12 năm 2022. Kết quả mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi chứng minh việc dùng kháng sinh dự phòng đúng chuẩn giúp khống chế tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ xuống mức tối ưu 1,6%, rút ngắn ngày điều trị hậu phẫu dưới 7 ngày cho 97,3% sản phụ và tiết kiệm đáng kể chi phí dùng thuốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết dược động học và dược lực học của kháng sinh trong phẫu thuật ngoại khoa. Nguyên lý then chốt của kháng sinh dự phòng là thiết lập nồng độ hoạt chất trong mô và huyết thanh vượt qua nồng độ ức chế tối thiểu đối với các vi sinh vật thường trú tại vùng rạch da, duy trì tỷ số ức chế từ 5 đến 10 lần trong suốt thời gian can thiệp. Việc đưa kháng sinh vào cơ thể trước khi rạch da giúp ngăn chặn sự sinh sôi của vi khuẩn vấy nhiễm, giảm tải gánh nặng miễn dịch cho cơ thể mẹ.

Cơ sở phân loại vết mổ áp dụng theo hướng dẫn của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ kết hợp cùng tiêu chuẩn Hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ. Theo hệ thống này, phẫu thuật được chia thành 4 nhóm với nguy cơ nhiễm trùng tăng dần: vết mổ sạch chiếm tỷ lệ nhiễm từ 1% đến 5%, vết mổ sạch - nhiễm từ 5% đến 10%, vết mổ nhiễm từ 10% đến 15%, và vết mổ bẩn vượt quá 25%. Phẫu thuật lấy thai có mở vào buồng tử cung được xếp vào nhóm sạch - nhiễm, là đối tượng ưu tiên tuyệt đối của phác đồ dự phòng.

Nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cốt lõi bao gồm: kháng sinh dự phòng đường tiêm tĩnh mạch, nhiễm khuẩn vết mổ phân theo độ sâu mô mềm, và thang điểm thể trạng bệnh nhân của Hội Gây mê Hoa Kỳ phân từ 1 điểm đến 5 điểm. Thuốc được chọn lựa là Cefoxitin liều 2g thuộc nhóm Cephalosporin thế hệ 2, sở hữu phổ kháng khuẩn hữu hiệu trên trực khuẩn đường ruột Gram âm và các chủng kỵ khí vùng chậu như Bacteroides fragilis.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên nguồn dữ liệu lâm sàng thu thập trực tiếp tại Trung tâm Sản Phụ khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong khung thời gian 6 tháng, từ ngày 01 tháng 07 năm 2022 đến ngày 31 tháng 12 năm 2022.

Cỡ mẫu toàn bộ bao gồm 184 sản phụ được lựa chọn thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích. Tiêu chuẩn chọn mẫu gồm các sản phụ có chỉ định mổ lấy thai thuộc nhóm phẫu thuật sạch hoặc sạch - nhiễm, tình trạng ối còn nguyên hoặc đã vỡ dưới 6 giờ, và tự nguyện ký cam kết đồng thuận tham gia. Tiêu chuẩn loại trừ chặt chẽ những trường hợp có tiền sử dị ứng với nhóm Cephalosporin, đã dùng kháng sinh trong vòng 48 giờ trước mổ, thân nhiệt trước mổ trên 37,5 độ C, mắc các bệnh lý nội khoa nặng mạn tính, hoặc các ca phẫu thuật mất máu trên 1000ml phải chuyển sang kháng sinh điều trị. Toàn bộ sản phụ được tiêm tĩnh mạch 2 lọ Cefoxitin 1g trước khi phẫu thuật viên rạch da từ 3 đến 5 phút.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích số liệu thông qua phần mềm thống kê y học SPSS phiên bản 25 là nhằm đảm bảo tính chuẩn xác khi xử lý các biến số định tính và định lượng trong mẫu 184 ca. Nghiên cứu sử dụng các thuật toán thống kê mô tả tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn, kết hợp kiểm định Chi-square và kiểm định chính xác của Fisher với ngưỡng ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0,05 để phân tích chính xác các mối liên quan giữa biến số lâm sàng với biến cố nhiễm khuẩn có tỷ lệ xuất hiện thấp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phác đồ kháng sinh dự phòng ghi nhận tỷ lệ thành công vượt trội với 98,4% sản phụ hoàn toàn không gặp biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ, tương ứng 181 trên tổng số 184 ca. Toàn bộ nghiên cứu chỉ ghi nhận 3 ca mắc nhiễm khuẩn vết mổ, chiếm tỷ lệ 1,6%. Đáng chú ý, 100% các ca này đều chỉ dừng lại ở mức độ nhiễm khuẩn vết mổ nông tại lớp biểu bì và mô dưới da, hoàn toàn không xuất hiện ca nào bị nhiễm khuẩn vết mổ sâu hoặc nhiễm khuẩn khoang cơ quan như viêm nội mạc tử cung hay viêm phúc mạc tiểu khung.

Thứ hai, độ tuổi sản phụ có mối tương quan mật thiết với nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 28,36 ± 5,0 tuổi, trong đó nhóm dưới hoặc bằng 35 tuổi chiếm đa số với 88,6% (163 sản phụ) và nhóm trên 35 tuổi chiếm 11,4% (21 sản phụ). Phân tích thống kê chỉ ra rằng nhóm sản phụ trên 35 tuổi có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ lên tới 9,5% (2 trên 21 ca), cao gấp gần 16 lần so với nhóm từ 35 tuổi trở xuống vốn chỉ đạt mức 0,6% (1 trên 163 ca). Sự chênh lệch này đạt mức ý nghĩa thống kê rất rõ ràng với giá trị p bằng 0,002.

Thứ ba, tiền sử sản khoa là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hồi phục sau mổ. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở nhóm sản phụ sinh con từ lần 3 trở lên đạt mức 8,0% (2 trên 25 ca), cao hơn hẳn so với nhóm sản phụ sinh con lần 2 với tỷ lệ 0,5% (1 trên 140 ca), trong khi nhóm sản phụ sinh con đầu lòng không ghi nhận bất kỳ ca nhiễm khuẩn nào (0 trên 19 ca). Mối liên hệ giữa số lần sinh đẻ và nguy cơ nhiễm khuẩn có ý nghĩa thống kê với chỉ số p bằng 0,025.

Thứ tư, các chỉ số theo dõi hậu phẫu phản ánh khả năng phục hồi nhanh chóng và an toàn. Tỷ lệ sản phụ không bị sốt sau mổ đạt 98,9% (183 ca), chỉ có 1,1% (2 ca) xuất hiện sốt nhẹ trong khoảng từ 37,5 đến 38,5 độ C vào mốc 48 giờ và 72 giờ sau phẫu thuật. Tình trạng co hồi tử cung tốt chiếm 99,5%, 100% sản phụ có sản dịch bình thường không mùi hôi. Vết mổ khô ráo liền sẹo kỳ đầu đạt 98,4% và có tới 97,3% sản phụ (180 ca) được xuất viện an toàn với tổng thời gian nằm viện dưới 7 ngày.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ nông 1,6% trong nghiên cứu chứng minh hiệu quả lâm sàng vững chắc của việc sử dụng Cefoxitin đơn liều. Khi so sánh với các công bố khoa học trong nước, kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thu và Nguyễn Thị Hương Ly tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn 2018 đến 2020 với tỷ lệ nhiễm khuẩn chung là 1,9%, cũng như nghiên cứu của Trịnh Thanh Nhung tại Bệnh viện Đa khoa khu vực An Giang ghi nhận mức 1,1%. Đồng thời, con số 1,6% thấp hơn đáng kể so với kết quả phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ theo báo cáo của tác giả Lê Thị Thu Hà với tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ lên đến 5%, bao gồm 1,5% nhiễm khuẩn nông, 0,3% nhiễm khuẩn sâu và 3,2% nhiễm khuẩn khoang tử cung.

Trên bình diện quốc tế, tỷ lệ 1,6% tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên tương đương với nghiên cứu quy mô lớn của Rami Sommerstein tại 75 bệnh viện ở Thụy Sĩ trên 55.901 sản phụ (tỷ lệ nhiễm khuẩn nhóm dùng thuốc trước rạch da là 1,6%), đồng thời khả quan hơn rất nhiều so với các báo cáo tại Nigeria năm 2018 (6,7%) hay Kosovo (9,85%).

Nguyên nhân nhóm sản phụ trên 35 tuổi và sinh nhiều lần có nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn được giải thích bởi sự suy giảm vi tuần hoàn tổ chức, khả năng tái tạo mô hạt kém hơn và sự hiện diện của sẹo xơ cũ từ các lần phẫu thuật trước (trong nghiên cứu có 84,2% sản phụ mang sẹo mổ lấy thai cũ). Cả 3 trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ nông đều có chỉ số CRP tăng cao nhưng đáp ứng tuyệt vời sau khi được thay băng, chăm sóc tại chỗ và dùng kháng sinh điều trị, xuất viện khỏe mạnh sau 7 đến 9 ngày. Các thông số so sánh này có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện sự khác biệt tỷ lệ nhiễm khuẩn theo nhóm tuổi và biểu đồ tròn mô tả 97,3% sản phụ hồi phục xuất viện sớm dưới 7 ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và duy trì quy trình tiêm kháng sinh dự phòng tĩnh mạch. Khoa Phụ sản phối hợp cùng Khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cần thực hiện nghiêm ngặt việc tiêm tĩnh mạch Cefoxitin 2g trong khoảng 15 đến 30 phút hoặc tối thiểu 3 đến 5 phút trước khi rạch da. Hướng tới mục tiêu đạt tỷ lệ 100% sản phụ phẫu thuật lấy thai thuộc diện sạch và sạch - nhiễm được áp dụng đúng quy chuẩn, thực hiện giám sát liên tục hàng quý trong suốt giai đoạn 2024 đến 2025.

Thứ hai, thiết lập quy trình phân luồng và chăm sóc tăng cường đối với các nhóm nguy cơ cao. Bác sĩ điều trị và điều dưỡng buồng bệnh hậu phẫu cần sàng lọc chặt chẽ những sản phụ trên 35 tuổi, người có chỉ số BMI trên 25 (vốn chiếm 36,4% mẫu nghiên cứu) và sản phụ sinh đẻ từ lần 3 trở lên. Triển khai kế hoạch theo dõi sát mép vết mổ và đo nhiệt độ 2 lần mỗi ngày nhằm hạ thấp tỷ lệ nhiễm khuẩn ở nhóm nguy cơ cao từ 9,5% xuống dưới 3,0%, bắt đầu thực thi ngay từ quý 1 năm 2024.

Thứ ba, siết chặt kỷ luật vô khuẩn tại buồng phẫu thuật và khu hậu phẫu. Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn bệnh viện cần tăng cường thanh tra định kỳ quy trình rửa tay ngoại khoa, khử khuẩn không khí phòng mổ và ưu tiên sát khuẩn da bằng cồn chlorhexidine trước phẫu thuật. Đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ toàn viện sau sinh mổ dưới mức 1,0%, triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ nhiễm khuẩn sâu và nhiễm khuẩn huyết trong khung thời gian 2024 đến 2026.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác dược lâm sàng và quản lý sử dụng kháng sinh hợp lý. Hội đồng Thuốc và Điều trị cùng Khoa Dược cần ban hành hướng dẫn cập nhật về kháng sinh dự phòng ngoại sản, tổ chức tập huấn nhằm thay đổi thói quen kê đơn kháng sinh điều trị đa liều kéo dài không cần thiết. Đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 40% chi phí tiền thuốc kháng sinh trong mỗi ca sinh mổ và bảo đảm trên 98% sản phụ có thời gian nằm viện sau mổ dưới 5 ngày, triển khai đồng bộ từ tháng 6 năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các Bác sĩ chuyên khoa Phụ sản và Phẫu thuật viên ngoại khoa. Tài liệu cung cấp cơ sở lâm sàng thực chứng giúp bác sĩ tự tin chỉ định kháng sinh dự phòng Cefoxitin đơn liều thay vì lạm dụng kháng sinh điều trị sau mổ. Tình huống ứng dụng thực tế là xây dựng quy trình chỉ định mổ lấy thai chủ động và cấp cứu bảo đảm an toàn, giảm thiểu biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ cho sản phụ.

Nhóm thứ hai là Dược sĩ lâm sàng và các thành viên Hội đồng Thuốc và Điều trị tại các bệnh viện. Nghiên cứu cung cấp số liệu phân tích dược động học, tính khả thi và an toàn của Cefoxitin trên 184 ca thực tế. Dược sĩ có thể sử dụng dữ liệu này để xây dựng danh mục thuốc dự phòng chuẩn, thực hiện đánh giá kinh tế y tế và tối ưu hóa nguồn quỹ bảo hiểm y tế tại đơn vị.

Nhóm thứ ba là Cán bộ Kiểm soát Nhiễm khuẩn cùng Điều dưỡng chăm sóc hậu phẫu. Luận văn cung cấp mô tả chi tiết về diễn biến lâm sàng của 3 ca nhiễm khuẩn nông, tiêu chuẩn nhận diện vết mổ chảy dịch và cách theo dõi sản dịch, co hồi tử cung. Trường hợp sử dụng tiêu biểu là xây dựng bảng kiểm giám sát vô khuẩn buồng mổ và quy trình chăm sóc vết thương ngoại khoa chuẩn hóa.

Nhóm thứ tư là Giảng viên y dược, Học viên Bác sĩ nội trú và Học viên Cao học chuyên ngành Sản Phụ khoa. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về cấu trúc nghiên cứu cắt ngang, quy trình thu thập dữ liệu lâm sàng và phương pháp phân tích thống kê y học. Học viên có thể khai thác để phát triển các đề tài mở rộng trên các phẫu thuật phụ khoa khác như cắt tử cung hay bóc u xơ.

Câu hỏi thường gặp

Kháng sinh dự phòng Cefoxitin có ưu thế gì nổi bật trong phẫu thuật lấy thai?

Cefoxitin thuộc nhóm Cephalosporin thế hệ 2 có phổ kháng khuẩn rộng, bao phủ rất tốt cả vi khuẩn Gram âm đường ruột và vi khuẩn kỵ khí vùng chậu như Bacteroides. Trong nghiên cứu trên 184 sản phụ, việc sử dụng 2g Cefoxitin mang lại tỷ lệ phòng ngừa nhiễm khuẩn thành công lên đến 98,4% mà không ghi nhận bất kỳ tai biến dị ứng nguy hiểm nào.

Thời điểm tiêm kháng sinh dự phòng tốt nhất là khi nào?

Thời điểm lý tưởng nhất được khuyến cáo là từ 15 đến 30 phút hoặc tối thiểu 3 đến 5 phút trước khi phẫu thuật viên rạch da. Thực nghiệm trên 184 ca cho thấy việc đưa thuốc trước rạch da giúp hoạt chất đạt nồng độ đỉnh trong mô ngay thời điểm tiếp xúc với vi khuẩn, hạn chế tỷ lệ nhiễm khuẩn chỉ còn 1,6%, hiệu quả vượt trội so với tiêm sau kẹp rốn.

Những yếu tố nào làm gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ sau sinh mổ?

Nghiên cứu khẳng định độ tuổi trên 35 tuổi và số lần sinh con từ lần 3 trở lên là hai yếu tố nguy cơ hàng đầu với chỉ số p đều nhỏ hơn 0,05. Cụ thể, sản phụ trên 35 tuổi có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ đạt 9,5%, cao hơn gấp gần 16 lần so với nhóm sản phụ trẻ từ 35 tuổi trở xuống chỉ có tỷ lệ 0,6%.

Tại sao vẫn có 1,6% sản phụ bị nhiễm khuẩn vết mổ nông dù đã tiêm dự phòng?

Kháng sinh dự phòng giúp giảm thiểu tối đa tải lượng vi khuẩn nhưng không thể triệt tiêu hoàn toàn mọi nguy cơ. Cả 3 trường hợp bị nhiễm khuẩn nông đều rơi vào nhóm có sẹo mổ đẻ cũ, mô xơ dính và tuổi thai lớn. Tuy nhiên, mức độ nhiễm trùng rất nhẹ, chỉ cần chăm sóc tại chỗ và can thiệp kịp thời là khỏi hoàn toàn.

Việc dùng kháng sinh trước rạch da có gây ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ sơ sinh không?

Các bằng chứng lâm sàng hiện đại cùng tổng quan hệ thống từ Cochrane trên hơn 5.000 phụ nữ khẳng định dùng kháng sinh trước rạch da an toàn cho trẻ. Lượng thuốc qua nhau thai trong thời gian ngắn không làm gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh hay gây ức chế hệ vi sinh vật đường ruột của trẻ sau khi chào đời.

Kết luận

  • Hiệu quả phòng ngừa vượt trội: Phác đồ tiêm tĩnh mạch Cefoxitin 2g đạt tỷ lệ bảo vệ vết mổ thành công 98,4% trên tổng số 184 sản phụ phẫu thuật lấy thai.
  • Kiểm soát tối đa mức độ biến chứng: Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung được khống chế ở mức rất thấp 1,6%, 100% là nhiễm khuẩn nông và hoàn toàn không ghi nhận ca nhiễm khuẩn sâu hay viêm nội mạc tử cung (0%).
  • Xác định rõ các nhóm nguy cơ cao: Sản phụ trên 35 tuổi (tỷ lệ nhiễm 9,5%) và sản phụ sinh con từ lần 3 trở lên (tỷ lệ nhiễm 8,0%) là những đối tượng cần được theo dõi tăng cường với ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0,05.
  • Tối ưu hóa thời gian nằm viện: Có tới 97,3% sản phụ xuất viện an toàn trong thời gian dưới 7 ngày, tỷ lệ co hồi tử cung tốt đạt 99,5% và sản dịch 100% bình thường.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc: Nghiên cứu khẳng định giá trị thay thế triệt để thói quen dùng kháng sinh điều trị sau mổ bằng kháng sinh dự phòng đơn liều, giảm tải chi phí và chống kháng thuốc.

Luận văn của Bác sĩ nội trú Vũ Văn Hiệp là một công trình nghiên cứu công phu, cung cấp giải pháp can thiệp ngoại sản chuẩn mực cho các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương. Trong giai đoạn 2024 đến 2026, các cơ sở y tế cần khẩn trương đưa quy trình này vào danh mục kỹ thuật thường quy. Độc giả, các bác sĩ và nhà nghiên cứu quan tâm hãy liên hệ Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên để tham khảo toàn văn luận văn và cập nhật các phác đồ điều trị tiên tiến nhất ngay hôm nay.