Chương 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NAM BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ Lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ Công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ là một quá trình dài, diễn ra xuyên suốt từ thời nhà Nguyễn đến thời thực dân Pháp, với nhiều con đường khác nhau, có khi dùng nhân lực để khai hoang, khi sử dụng con đường hôn nhân để liên kết hay những biện pháp ngoại giao khôn khéo. Cho dù con đường nào đi chăng nữa, tiến trình “Nam tiến” đã thể hiện tiến trình mở mang bờ cõi tất yếu của ông cha ta, làm biến đổi bộ mặt Nam Bộ, vốn là mảnh đất hoang sơ, “dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um” trở thành khu vực kinh tế phát triển đứng nhất nhì trên cả nước. Khi tìm hiểu về lịch sử hình thành vùng đất này, tôi đã lựa chọn ba giai đoạn như sau: 1.
Giai đoạn vương quốc Phù Nam Khu vực đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long trước đây là mảnh đất hoang sơ, vắng vẻ. Khoảng 4000 - 5000 năm trước, nơi đây đã có dấu vết con người đến Nam Bộ và xây dựng vùng kinh tế - dân cư. Từ thế kỉ I đến thế kỉ VIII, những người này cùng nhiều lớp cư dân ngoại nhập khác đã tạo nên nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Cam-pu-chia, dựng nên đất nước Phù Nam hùng mạnh. Sách cổ Trung Hoa như Tấn thư, Nam Tề thư, Lương thư ghi chép lại thời bấy giờ có một quý tộc tên là Hỗn Điền ở Ấn Độ được thần báo mộng, nhặt được cây cung ở dưới gốc cây và chỉ hướng đi thuyền lớn ra biển.
Ông nghe theo đem 1000 quân lên thuyền đến vùng biển Óc Eo – vốn là những thành ấp tự trị cùng chung một nền văn hoá và tôn giáo, trong đó thành ấp lớn mạnh nhất là Koh Thlok, do nữ hoàng Liễu Diệp dẫn dắt. Hỗn Điền đến nơi đây tiến hành đánh chiếm các thành ấp, Liễu Diệp chống trả vì gặp bất lợi nên đầu hàng. Sau đó, hai người nên duyên vợ chồng. Thời gian sau, Hỗn Điền chinh phục các ấp còn lại, thống nhất Óc Eo, thành lập nhà nước mới, lấy tên là Phù Nam, rồi lên ngôi vua, lập ra triều đại Kaudinya, đặt tên kinh đô là Đặc Mục (Vyadrapura).
Không chỉ có vị trí thuận lời, Phù Nam còn có con kênh dài 90 km kéo đến Angkor Borei (một huyện thuộc tỉnh Takéo phía nam Cam-pu-chia), cho nên nơi đây trở thành trung tâm thương mại đường thuỷ ven bờ, điểm trung chuyển thuận lợi cho 11 việc giao thương giữa các vùng. Vùng đất cũng từ đó mà ngày càng giàu mạnh, văn minh Phù Nam cũng càng phát triển. Các vua Phù Nam chú trọng việc bang giao với các nước lân cận như Ấn Độ, nhà Tấn của Trung Hoa cho nên văn hoá cũng có sự ảnh hưởng và giao thoa. Chữ viết của người dân lúc bấy giờ là kiểu chữ của người Ấn Độ.
Sau 100 năm, triều đại Kaudinya chấm dứt khi vua Hỗn Bàn Bàn mất, người dân tôn Phạm Sư Mạn - một vị tướng dưới trướng nhà vua lên kế vị mở ra một triều đại mới. Khi lên ngôi, Phạm Sư Mạn cho đóng những chiến thuyền lớn đưa quân chinh phạt các nước lân bang, thu phục và sát nhập thêm 10 nước. Phù Nam trở thành đế quốc hùng mạnh nhất Đông Nam Bộ. Đến thế kỉ IV, Phù Nam được cai trị bởi vương triều Thiên Trúc Chiên Đàn (Chandan), tuy không được thịnh vượng như hai thời đại vương triều trước nhưng Phù Nam vẫn phát triển ổn định.
Vương quốc Phù Nam lúc này đã có được diện tích khá rộng lớn, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp hạ lưu sông Mê Nam và một phần phía bắc bán đảo Mã Lai, phía nam giáp vịnh Thái Lan, phía bắc giới hạn bởi sông Mun (chảy qua vùng U- đong, Thái Lan). Có thể thấy, lãnh thổ nước này gồm cả vùng đất Trung và Nam Lào, một phần Mã Lai, một phần Miến Điện, vùng đất Nam Bộ và một phần Trung Bộ của nước ta ngày nay. Đến thế kỉ VI, do sự giao tranh của các lực lượng trong nội bộ, vương quốc Phù Nam không duy trì được tính thống nhất chặt chẽ, dẫn đến bị chia cắt. Từ những cuộc chiến tranh nội bộ kéo dài, nhiều vùng tự ý ly khai và thành lập các tiểu quốc độc lập trên lãnh thổ Phù Nam, trong đó Chân Lạp là một tiểu quốc phát triển nhất.
Năm 550, Trì Đà Tư Na (Citrasena), vua Chân Lạp lúc bấy giờ dẫn quân bất ngờ tấn công kinh thành Đặc Mục của Phù Nam. Vua Phù Nam là Lưu Đà Bạt Ma (Rudravarman) không chống đỡ được, chạy xuống thành Na Phất Na (Navanagara). Khi chiếm được kinh thành, binh lính Chân Lạp đốt phá tan hoang. Đến năm 580, sau khoảng thời gian suy yếu, Phù Nam bị Chân Lạp chiếm dần.
Cư dân Phù Nam vẫn cố bám trụ một số nơi ở đồng bằng Nam Bộ, duy trì văn hoá Óc Eo nhưng đến năm 640 bị xâm chiếm hoàn toàn. Giai đoạn vương quốc Chân Lạp Vị vua đầu tiên của Chân Lạp là Bhavavarman, trị vì vào thế kỉ VI, ông đã chấm dứt sự phụ thuộc vào nước Phù Nam. Từ một tiểu quốc phụ thuộc, vương quốc Chân Lạp phát triển mạnh mẽ, xâm chiếm và kế thừa được cương vực của Phù Nam. Chủ nhân của Chân Lạp là người Khơ-me, nói ngữ hệ Nam Đảo.
Tuy có sức mạnh về quân sự nhưng người Chân Lạp không giỏi trị thuỷ, không có tập quán canh tác ở những vùng đồng bằng phù sa ven biển, vì thế khả năng khai thác về kinh tế không bằng chủ nhân trước đây của mảnh đất này. Thế kỉ VII, sau khi chiếm toàn bộ lãnh thổ của vương quốc Phù Nam, người Khơ-me gặp nhiều khó khăn trong việc cai quản và khai thác nơi đây. Từ năm 681 - 713, nội bộ Chân Lạp xảy ra sự mâu thuẫn, bất bình trong giới quý tộc và quan lại. Do biến cố này đến đầu thế kỉ VIII, Chân Lạp tách ra làm hai, Lục Chân Lạp (có ghi chép là Thổ Chân Lạp) và Thuỷ Chân Lạp.
Lục Chân Lạp nằm ở phía trên một vùng đất gồm núi non, thung lũng thuộc vùng đất Lào và Bắc Cam- pu-chia ngày nay; kinh đô của Lục Chân Lạp đóng ở Thà Khẹt (Lào). Còn Thuỷ Chân Lạp nằm ở phía nam, vùng Biển Hồ và hạ lưu sông Mê Kông, thủ đô ở Ăng-co. Khi vua Indravaman I (877 – 889) lên ngôi, ông thống nhất Lục Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp, xây dựng nhiều thành phố lớn, khuyến khích phát triển nông nghiệp và thương mại. Người Chân Lạp xây dựng và củng cố vương quốc mình phát triển huy hoàng qua các giai đoạn: Giai đoạn tiền Ăng-co (580 -802), giai đoạn Ăng-co (802 – 1434), giai đoạn hậu Ăng-co (1434 – 1863).
Tuy được thống nhất, người Khơ-me lúc này vẫn tập trung phát triển vùng trung tâm truyền thống của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông và hướng nỗ lực bành trướng sang phía tây vùng lưu vực sông Chao Phaya. Vùng Thuỷ Chân Lạp trở thành vùng đất hoang sơ, gần như vô chủ, nhiều động vật hoang dã sinh sống. Trong cuốn “Chân Lạp phong thổ ký”, Châu Đạt Quan, một sứ thần nhà Nguyên, khi có dịp đi qua nơi này khoảng năm 1296 – 1297 có ghi chép lại như sau: Hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp… Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi… Những cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy, hàng trăm 13 hàng ngàn con trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm….
(Châu Đạt Quan, 1973, tr. Trong khoảng thế kỉ IX đến cuối thế kỉ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia thịnh vượng với nền văn minh Ăng-co rực rỡ. Tuy nhiên, các dấu tích của văn hoá Khơ-me và văn minh Ăng-co lúc đó ở vùng Đồng Nai – Gia Định khá mờ nhạt, không có dấu hiệu chứng tỏ khu vực này đã là một đơn vị hành chính, hoặc thôn, ấp, làng, bản của Chân Lạp. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục, thậm chí đến thế kỉ XVII, vùng đất Nam Bộ vẫn còn hoang vu: “Từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở lên, hoàn toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm.” (Lê Quý Đôn, 1977, tr.
Từ thế kỉ XVI, do sự cam thiệp của nước Xiêm, Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và bước vào thời kì suy vong. Vốn đã không có sự quan tâm đến khu vực ngập nước ở phía đông, nay trong tình hình đất nước suy yếu, Chân Lạp dường như không đủ sức quản lý vùng đất này. Để từ đó bằng nhiều con đường khác nhau, các lớp cư dân người Việt tìm đến khai phá, lập làng sinh sống và xác lập chủ quyền của mình. Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến nay Từ lâu chúa Nguyễn đã biết đến vùng đất ở Đồng Nai và Cửu Long nhưng vẫn chưa có cơ hội thuận lợi cho việc phát triển, mở mang lãnh thổ về phía Nam.
Đại Việt sau giai đoạn thịnh vượng khi bước sang thế kỉ XVI lại rơi vào các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến Lê - Mạc và Trịnh – Nguyễn. Trong đó, cuộc chiến tranh kéo dài của họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong đã vơ vét đến cùng kiệt sức người, sức của trong dân chúng, gây nên cảnh đói khổ, lầm than khắp nơi. Nông dân rơi vào cảnh mất ruộng, tô thuế nặng nề, từ đó buộc họ phải rời bỏ làng mạc, quê hương tìm vùng đất mới để định cư, làm ăn, sinh sống. Từ một vùng đất hoang sơ, Đồng Nai – Gia Định trở thành nơi thu hút những người lưu dân Việt tìm đến sinh sống.
Ngoài tầng lớp nông dân đói khổ còn có những người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, lính đào ngũ, tù nhân bị lưu đày, thầy lang và có cả những người giàu muốn mở rộng công việc tìm đến vùng đất mới. 14 Vì di chuyển bằng đường bộ lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm nên họ chọn thuyền buôn hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển, lưu thông trên đường biển, ca dao Nam Bộ đã ghi lại hình ảnh này.