Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Dẫn nhập Như là các khái niệm công cụ cho khảo sát hiện tượng khẩu ngữ trong HRCM của Sơn Nam, chương này xin trình bày một số khái niệm ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học liên quan trực tiếp với đề tài. Đó là các khái niệm ngôn ngữ học về loại hình ngôn ngữ chức năng với tư cách là các hệ thống con trong hệ thống ngôn ngữ một tộc người và các khái niệm sơ giản về cấu trúc nghệ thuật trong một tác phẩm văn học. Chương cũng dành phần còn lại cho giới thiệu về Sơn Nam và tác phẩm HRCM.
Một số khái niệm ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học 1. Ngôn ngữ toàn dân Trong quá trình tộc người, khi hội đủ các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định thi tiếng nói tộc người bước sang giai đoạn phát triển trở thành phương tiện giao tiếp chung cho cả một quốc gia. Đến lượt chúng, những tiếng nói trong các vùng dân cư khác nhau trở thành phương ngữ (tiếng địa phương) của quốc gia. Cái ngôn ngữ bao trùm lên, được dùng như phương tiện giao tiếp chung giữa các địa phương chính là ngôn ngữ toàn dân của một quốc gia.
Mặc dù có những khác biệt nhất định về giọng nói giữa các địa phương, nhưng nòng cốt một ngôn ngữ toàn dân đã được hình thành trên cơ sở vốn từ vựng chung. Đó là những từ ngữ được tất cả thành viên nói năng trong một quốc gia hiểu và sử dụng một cách tự nhiên. Chúng được dùng theo phong cách trung hòa. Đối lập với vốn từ này là các lớp từ được dùng hạn chế như từ địa phương, từ nghề nghiệp, tiếng lóng , thuật ngữ… Vốn từ của ngôn ngữ toàn dân được xây dựng trên lớp từ cơ bản và làm cơ sở thống nhất ngôn ngữ và quốc gia.
Nó cũng chính là nòng cốt của vốn được sử dụng trong ngôn ngữ văn học, khi tiếng nói của một dân tộc dấn thêm một bước nữa trong tiến trình phát triển của mình để thành một ngôn ngữ thống nhất và được chuẩn hóa. Tiếng địa phương Đối lập với ngôn ngữ toàn dân là tiếng địa phương, thứ tiếng nói được dùng hạn chế trong một vùng nhất định. Những khác biệt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp trong so sánh giữa các vùng miền cho phép tách chia các tiếng địa phương trong cùng một ngôn ngữ. Sự khác biệt về ngữ pháp giữa các tiếng địa phương thường ít được bộc lộ hoặc nếu có cũng không gây nên những ấn tượng quá đặc biệt đối với người tiếp nhận.
Ấn tượng nổi bật là nằm ở các khác biệt về ngữ âm và từ vựng. Giọng nói cùng những biểu hiện âm thanh khác lạ là đặc điểm dễ nhận ra nhất khi giao tiếp với người ở địa phương khác. Đó chính là các biểu hiện về mặt ngữ âm của một tiếng địa phương. Những đặc điểm ngữ âm khác biệt này là biểu hiện bề mặt, còn các đặc điểm âm vị chung cho tất cả các tiếng địa phương của cùng một ngôn ngữ thì được định vị ở cấu trúc sâu, ở tầng nền cấu trúc một ngôn ngữ.
Chính mối quan hệ này giữa hai tầng cấu trúc đã cho phép những người nói các tiếng địa phương khác nhau vẫn hiểu nhau được. Ở cấp độ từ vựng học, ngoài phần chung vốn từ trong ngôn ngữ toàn dân, mỗi tiếng địa phương đều có những từ ngữ đặc trưng riêng của mình. Đó là những thông tin quan trọng về địa lí, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và nhất là về phong tục và tập quán của một địa phương. Theo Dẫn luận ngôn ngữ học, "Từ địa phương là những từ ngữ dùng hạn chế ở một hoặc vài địa phương.
Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học. Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diển tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật” [20; 14]. Còn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ thì đưa ra một định nghĩa ngắn nhưng tổng quát hơn:“Từ địa phương không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng đất nhất định. Chúng mang sắc thái địa phương.
Người của địa phương này không hiểu từ của địa phương khác”. 9 Về nguyên tắc, nói chung, ở những phong cách viết như hành chính công vụ, chính luận báo chí hoặc khoa học kĩ thuật thì không thể sử dụng vốn từ địa phương được. Tuy nhiên, trong sáng tác văn chương, đôi khi vốn từ địa phương lại có tác dụng quan trọng. Nhờ vốn từ địa phương được sử dụng một cách có chọn lọc, nhà văn có thể mô tả và bộc lộ cụ thể và sinh động hệ thống các tính cách nhân vật và những môi trường sống khác nhau của họ.
Theo bản chất tín hiệu của từ ngữ, người ta phân vốn từ địa phương thành hai loại: từ địa phương ngữ âm và từ địa phương từ vựng. Nếu khác biệt giữa từ địa phương và từ toàn dân chỉ dừng trên bề mặt thì đó là các từ địa phương ngữ âm. Ví dụ thiệt, lịnh, đờn, thiếm… trong tiếng Nam Bộ tương đương với các từ toàn dân như thật, lệnh, đàn, thím …Những tương đương này là có quy luật. Còn khi các từ địa phương không tìm thấy những từ tương ứng về mặt ngữ âm trong tiếng toàn dân thì đó chính là các từ đặc hữu của địa phương đó.
Chúng là các từ địa phương từ vựng như: bần, măng cụt, len trâu, càm ràm, mẻ ung, nhậu, lé đé… Trong các trích dẫn sau: - “Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu cho họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Mà mày ngăn cản. Bây giờ tới nước này rồi…”[HRCM. - “Mày ăn trộm búa nữa hả? Ráng mà đỡ.
-“Ghiền rồi hả mậy?”[HRCM. Những từ địa phương Nam Bộ được in đậm. Trong số này, biểu, nè, ghiền, mậy là những từ địa phương ngữ âm; còn miệt, ráng là từ địa phương từ vựng. Trong thực tế, từ địa phương ngữ âm luôn chiếm tỉ lệ áp đảo, còn từ từ vựng thì thường có số lượng ít hơn rất nhiều.
Những từ địa phương từ vựng cung cấp nhiều thông tin về một vùng đất. Đó là các từ chỉ những sản vật đặc hữu, lối tư duy và tính cách riêng của một vùng dân cư do điều kiện xã hội- kinh tế trong tiến trình lịch sử cụ thể đưa lại. Ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ văn chương 10 Khi một nhà nước đã hình thành thì do áp lực hệ thống chữ viết mà các thổ ngữ, phương ngữ dần quy tụ thống nhất vào ngôn ngữ toàn dân.
Ngôn ngữ này, đến lượt nó, do những đòi hỏi ngày càng gay gắt của kinh tế - xã hội tất yếu bị chuẩn mực hóa. Đấy là một quá trình diễn ra lâu dài ở cả bình diện cấu trúc lẫn bình diện chức năng. Về cấu trúc đó là sự thống nhất giữa các thành viên trong cộng đồng nói năng về hình thức âm thanh của từ, về hệ thống từ vựng và về hệ thống từ pháp và cú pháp. Còn về chức năng đó là xuất hiện những quy định bắt buộc sử dụng ngôn ngữ đã chuẩn hóa cho từng khu vực giao tiếp nhất định.
Những khu vực giao tiếp quen thuộc trước đây bằng ngôn ngữ viết sẽ được ngôn ngữ chuẩn hóa tiếp quản và mở rộng ra tiếp theo yêu cầu của xã hội hiện đại. Theo Trường phái ngôn ngữ học chức năng Praha, ngôn ngữ đã trải qua quá trình chuẩn hóa như vậy được gọi là ngôn ngữ văn hóa. Thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ ngôn ngữ văn học ở nước ta quen dùng. "Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mẫu mực đã được chuẩn hóa, phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, phát triển tâm lí, trí tuệ và toàn bộ hoạt động tinh thần của con người, còn gọi là ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ tiêu chuẩn”[35,127].
Tuy nhiên, thuật ngữ ngôn ngữ văn học, mặt khác, lại trùng với khái niệm "ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học". Để tránh nhầm lẫn, ở đây chung ta tạm gọi đó là ngôn ngữ văn chương. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học, như màu sắc đối với hội họa, âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc. Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng.
Ngôn ngữ của tác phẩm văn học chính là ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ toàn dân đã được nâng đến trình độ nghệ thuật. Trong văn chương, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là những tấm gương sáng về mặt hiểu biết về 11 ngôn ngữ của nhân dân. Bằng ngôn ngữ, nhà văn cụ thể hóa, vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách nhân vật và cốt truyện.Gorki “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự việc, hiện tượng của cuộc sống là chất liệu văn học.” Ngôn ngữ hiện thực trong đời sống có những điểm khác biệt quan trọng với ngôn ngữ văn chương.
Gorki, ngôn ngữ bình dân là tiếng nói “nguyên liệu”, còn ngôn ngữ văn chương là thứ tiếng nói đã được nhào luyện tinh xảo. Mỗi tác phẩm văn chương đều lấy thực tế làm khuôn mẫu để phản ánh. Đó là những cảnh huống con người thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau, nhiều mục đích và phương thức sống khác nhau tồn tại thực trong một xã hội. Để phản ánh được thực tế đa dạng và muôn màu này ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải là phương tiện đa giọng điệu.
Trong một phương thức phản ánh đặc thù, ngôn ngữ văn chương là kết quả của môt quá trình lao động và học tập không mệt mỏi của nhà văn. Nó vừa là kết tinh của truyền thống sử dung ngôn từ của cả dân tộc lại vừa là kết quả sáng tạo của cá nhân của nhà văn. Khác với ngôn ngữ trong đời sống thực và cả những dạng ngôn ngữ chức năng khác nhau được dùng trong các phong cách viết, ngôn ngữ văn chương có những đặc trưng riêng sau đây: 1. Biểu cảm Ngôn ngữ trong các môi trường như luật pháp, nhà nước hay trong ngành nghề, trong khoa học luôn phải khách quan, không phụ thuộc vào tình cảm thái độ của người dùng.
Đó là thứ ngôn ngữ của công việc, của các thuật ngữ vừa trừu tượng, khái quát vừa trung tính về phong cách.