mở đầu và kết thúc không rõ ràng, nó luôn gắn liền với quá trình tâm lý và ảnh hưởng tới các quá trình tâm lý. Trạng thái tâm lý gồm có: chú ý và do dự. - Thuộc tính tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý đã trở thành bền vững, ổn định ở con người, tạo những nét đặc trưng, nét riêng của nhân cách. Thuộc tính tâm lý gồm có: Xu hướng; năng lực; tính cách; khí chất.
Các hiện tượng tâm lý trên có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, chúng chi phối bổ sung hỗ trợ cho nhau. Hiện tượng này tạo ra hiện tượng kia. Ngoài ba hiện tượng tâm lý nói trên còn một hiện tượng tâm lý cao cấp đặc biệt có ảnh hưởng nhiều đến các hiện tượng tâm lý khác đó là ý thức. Khái quát về tâm lý học sư phạm 1.
Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học sư phạm Tâm lý học sư phạm nghiên cứu tâm lý con người ở các giai đoạn phát triển 1. Đối tượng của tâm lý học sư phạm Đối tượng của tâm lý học sư phạm là những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục. Tâm lý học sư phạm nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của việc điều khiển quá trình nhận thức, tìm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí tuệ và xác định những điều kiện để đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệu quả trong quá trình dạy học, xem xét những vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và học sinh, cũng như mối quan hệ qua lại giữa học sinh với nhau. Những quan sát hàng ngày cho ta thấy trẻ có những rung cảm và suy nghĩ không giống người lớn, có rất nhiều điều trẻ chưa làm được.
Nhưng vấn đề ở đây không phải là ở chỗ trẻ chưa làm được những gì, chưa nắm được gì.mà ta cần phải hiểu được ở đứa trẻ hiện có những gì, có thể làm được gì, nó sẽ thay đổi như thế nào và sẽ có được những gì trong quá trình sống và hoạt động theo lứa tuổi. Có hiểu được những điều đó ta mới hiểu được nguyên nhân của những phẩm chất tâm lý mới đặc trưng cho nhân cách. Mặt khác, ở mỗi lứa tuổi có những thuận lợi và khó khăn riêng đòi hỏi ta phải có phương pháp giáo dục thích hợp với từng lứa tuổi và từng cá nhân. Trong quá trình dạy học và giáo dục nếu ta không chú ý tới điều đó thì dù người giáo viên có am hiểu khoa học đến đâu cũng khó có thể đạt được kết quả tốt trong công tác sư phạm của mình 1.
Nhiệm vụ của tâm lý học sư phạm Nhiệm vụ chung của tâm lý học sư phạm là dựa trên những thành tựu của Tâm lý học đại cương, Tâm lý học lứa tuổi để vạch ra cơ sở của tâm lý học sư phạm cho hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục và việc rèn luyện các phẩm chất, năng lực cần thiết của người giáo viên. Cụ thể là: - Chỉ ra các quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục - Nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của việc hình thành tri thức khoa học, hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo và các phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. 13 - Chỉ ra cơ sở tâm lý của việc điều khiển quá trình dạy học và giáo dục. Tổ chức các hoạt động cho học sinh trên lớp và ngoài giờ học cũng như xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh với nhau, giữa nhà trường với gia đình và với các lực lượng giáo dục khác.
- Tâm lý học sư phạm nghiên cứu đặc trưng lao động sư phạm của giáo viên, hệ thống phẩm chất, năng lực của người giáo viên, việc tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, năng lực nghề nghiệp của người giáo viên. Lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học sư phạm Trong lịch sử các khoa học về con người, Tâm lý học trở thành một khoa họcđộc lập, tách ra khỏi Triết học từ năm 1879. Cũng từ đó, Tâm lý học sư phạm ra đời gắn liền với sự thâm nhập của các tư tưởng di truyền học. Cùng với học thuyết tiến hóa, những thành tựu trong việc nghiên cứu hoạt động phản xạ của con ngƣời do I.Xêtrênôp tiến hành đã khẳng định mối liên hệ qua lại giữa các hiện tượng tâm lý và sinh lý, chỉ ra sự phát triển tâm lý gắn liền với cơ sở sinh lý thần kinh và não bộ con người.
Có thể nói, tư tưởng của S.Xêtrênôp đã góp phần làm rõ vấn đề về nguồn gốc phát triển tâm lý con người; các con đường, quy luật, điều kiện và động lực của sự phát triển tâm lý; vai trò của dạy học, giáo dục đối với sự hình thành và phát triển tâm lý con người, qua đó góp phần thúc đẩy chuyên ngành Tâm lý học sư phạm tại thời điểm lúc đó phát triển mạnh mẽ hơn. Cùng với những thành tựu trên, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũyvà tổng kết kinh nghiệm của những quan sát về sự phát triển tâm lý trẻ em và tâm lý học giáo dục trẻ đã đặt nền móng cơ sở thực tiễn cho Tâm lý học sư phạm lúc bấy giờ. Cômenxki (1592-1670) người đầu tiên đã nêu lên tư tưởng tất yếu phải xây dựng một hệ thống dạy học phù hợp với những đặc điểm tâm lý của trẻ. Những kết quả nghiên cứu trong Tâm lý học đại cương như: quy luật tâm lý của Weber và Feisner, nghiên cứu trí nhớ của Ebbinhauz, nghiên cứu cảm giác và vận động trong tâm lý học của W.
bắt đầu thâm nhập vào Tâm lý học sư phạm. Ngoài ra, những tác phẩm đầu tiên về Tâm lý học sư phạm như: Tâm lý học sư phạm của nhà giáo dục, nhà tâm lý học Nga P.Karterev, Nói chuyện với các giáo viên về Tâm lý học của nhà tâm lý học Mỹ W. đã mở ra triển vọng cho sự phát triển của chuyên ngành này. Năm 1906, ở Nga đã tổ chức Hội nghị Tâm lý học sư phạm lần thứ nhất tại Peterburg.
Tại hội nghị này, người ta kịch liệt phê 14 phán tính lý luận sáo rỗng trong Tâm lý học sư phạm và khẳng định phải có nghiên cứu thực nghiệm về Tâm lý học sư phạm. Các nhà tâm lý học và giáo dục học cũng cho rắng, cần phải chỉ ra nguồn gốc phát triển tâm lý trong quan hệ của nó với quá trình dạy học. Trong lịch sử hình thành và phát triển của Tâm lý học sư phạm phải kể đến sự ra đời của trường phái Nhi đồng học vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trường phái này là sự kết hợp máy móc những quan điểm Tâm lý học, Sinh lý học, Sinh vật học về sự phát triển tâm lý của trẻ em.
Ở Liên Xô vào những năm 20-30 của thế kỷ XX, trường phái Nhi đồng học có tham vọng giữ vai trò của khoa học duy nhất macxit về trẻ em, coi sự tác động của hai nhân tố là môi trườngvà di truyền quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lý trẻ em. Họ coi Tâm lý học là khoa học về các yếu tố chủ quan, còn Giáo dục học là kinh nghiệm chủ nghĩa. Những quan điểm trên của trường phái Nhi đồng học đã có ảnh hưởng không tốt tới Tâm lý học, Giáo dục học và hoạt động giảng dạy trong nhà trường nói chung. Điều này đã được nêu lên trong các phê phán có tính nguyên tắc nhiều luận điểm của trường phái Nhi đồng học.
Quan điểm đúng đắn của N.Macarencô đã đặt cơ sở choviệc nghiên cứu các vấn đề hình thành, phát triển nhân cách trẻ em trong giáo dục và hoạt động tập thể.Macarencô đã khẳng định: “Nhà giáo dục hiểu biết học sinh không phải trong quá trình nghiên cứu học sinh một cách thờ ơ mà trong chính quá trình cùng làm việc với học sinh và trong chính sự giúp đỡ học sinh một cách tích cực. Nhà giáo dục phải xem xét học sinh không phải như là đối tượng nghiên cứu, mà là đối tượng giáo dục”. Lý luận về sự phát triển các chức năng tâm lý bậc cao của L.Vưgôtxki có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của Tâm lý học sư phạm. Ông cho rằng: “Mọi chức năng trong sự phát triển văn hóa của trẻ được bộc lộ hai lần, trong hai phương diện: lần đầu tiên trong phương diện xã hội, sau đó là phương diện tâm lý, đầu tiên giữa người này với người kia như là một phạm trù tâm giao, rồi đến bên trong trẻ như một phạm trù tâm lý”.
Luận điểm này của L.Vưgôtxki đã được các nhà tâm lý học thừa nhận và cụ thể hóa trong các công trình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm, góp phần xây dựng và phát triển Tâm lý học sư phạm có kết quả. 15 Sự trưởng thành của Tâm lý học sư phạm gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà tâm lý học ở nhiều nước, đặc biệt là các nhà tâm lý học như: A. Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học sư phạm 2. Những nguyên tắc nghiên cứu tâm lý học sư phạm Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan Đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu tâm lí là phải lấy chính các hiện tượng tâm lí làm đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó, đảm bảo tính trung thực, không thêm bớt trong quá trình nghiên cứu. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng Nguyên tắc này chỉ rõ khi nghiên cứu tâm lí thừa nhận tâm lí người mang bản chất xã hội lịch sử do yếu tố xã hội quyết định nhưng không phủ nhận vai trò điều kiện của các yếu tố sinh học (tư chất, hoạt động thần kinh cấp cao.) đặc biệt khẳng định vai trò quyết định trực tiếp của hoạt động chủ thể. Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức với hoạt động Nguyên tắc này khẳng định tâm lí, ý thức không tách rời khỏi hoạt động, nó được hình thành, bộc lộ và phát triển trong hoạt động, đồng thời điều khiển, điều chỉnh hoạt động. Vì vậy khi nghiên cứu tâm lí phải thông qua hoạt động, diễn biến và các sản phẩm của hoạt động.
Nghiên cứu các hiện tượng tâm tí trong các môi liên hệ giữa chúng với nhau và trong môi liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác. Các hiện tượng tâm lí không tồn tại biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau và với các hiện tượng tự nhiên, xã hội khác.