Chương 1 : Nhật Bản -thời kỳ phục hồi kinh tế sau chiến tranh (1945 -1951). - Chương 2 : Sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản giai đoạn : 1952-1973 - Chương 3 : Nguyên nhân tăng trưởng cao của kinh tế Nhật Bản, giai đoạn : 1952 -1973. - Kết luận - Tài liệu tham khảo OBIOD : G8. Frink Ciến Chuậm Trang 9 Xháa Lagn FA ⁄)(giiệp SOTH : Biti Thi Thu (Šưướng CHUONG 1 NHẬT BẢN - THỜI KỲ PHUC HOI KINH TẾ SAU CHIẾN TRANH (194§ - 1951).
Năm 1951 với việc kí Hiệp ước Hoà bình San Francisco thời kỳ chiếm đóng của quân Đồng minh ở Nhật đã chấm dứt. Kể từ đây cho đến đầu những năm 70, kinh tế Nhật Bản đã không ngừng phát triển và đạt những bước tiến “thần kỳ” nhất, đưa Nhật Bản đứng vào hàng ngũ những siêu cường kinh tế của thế giới. Thành công của Nhật trong giai đoạn này không chỉ là kết quả của những chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, của những nhà quan lý năng động, dám nghĩ đám làm, của một tập thể nhân dân hết lòng vì công việc mà còn là kết quả của quá trình tích luỹ lâu dài từ trước đó. Sự hiểu biết nhất định về đất nuớc và con người Nhật Bản cùng với thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1945 — 1951) sẽ cho ta cái nhìn toàn diện và sâu sắc về sự phát triển của kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn: 1952 — 1973.
Sơ lược về đất nước và con người Nhật Ban. Nhật Bản mà người Nhật vẫn thường gọi là Nihon hay Nippon (tức "xứ sở của mặt trời”, “đất nước mặt trời mọc”) là một dãy quần đảo hình cánh cung hẹp chạy dài từ Bac xuống Nam doc theo bờ biển phía Đông của lục địa Châu Á. Nhật Bản có bốn đảo chính theo thứ tự từ trên xuống là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu với gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ khác. Tổng diện tích nước Nhật là 377.815 km’, lớn hơn diện tích của Việt Nam (329.465 km”) chừng 15%, hay bằng khoảng 1/27 diện tích Trung Quốc hoặc 1/25 diện tích Hoa Kỳ.
So với diện tích thế giới nó chỉ chiếm khoảng 0,3%. Dân số của Nhật theo thống kê năm 1996 là 125,9 triệu dân, gấp gần hai lần dân số Việt Nam và các nước lớn như Anh, Pháp. chiếm khoảng 3% dân số toàn thế giới và được xếp thứ sáu sau các nước : Trung OBWD : G8. Frink Ciến Thugn Trang 10 Khda Lugn Fé ⁄À(ghiệp SOUTH : “Đài Thi Thu Setong Quốc, An Độ.
Mỹ, Indonexia và Brazin. Với số dân đông đúc như vậy mật độ dân số ở Nhật đã lên tới 331 người / 1 kmỶ (1996), gấp 10 lần mức trung bình thế giới. Khoảng một nửa dân số Nhật Bản sống tập trung ở ba thành phố lớn là Tôkyô, Ôsaka, Nagoya và các thành phố lân cận. Trong đó Tôkyô,thủ đô của nước Nhật đã chiếm tới 1/4 dân số và là thành phố đông dân nhất trên thế giới.
Đặc điểm về đất đai và dân số đã tác động lớn đến Nhật Bản theo nhiều cách khác nhau. Do diện tích đất trồng bị hạn hẹp tức tỉ lệ lao động - đất đai cao đã buộc người dân Nhật ngay từ thời tiền sử đã phải dốc công sức vào việc cải tạo đất đai. Nhờ đó tính cẩn cù của người dan Nhật ngày càng được hình thành và củng cố. Mặt khác, đất chật nên sự tiếp xúc giữa người với người càng thường xuyên hơn, khiến cho việc phát triển một mạng lưới giao lưu có hiệu quả, góp phần vào việc thống nhất ý kiến của nhân dân cũng như vào việc phổ biến công nghệ nhanh chóng trong nông nghiệp, đồng thời tạo cho Nhật Bản một lợi thế lớn trong việc hoàn thành "các dự án quốc gia” [50,7-8] Vẻ căn bản, khí hậu của Nhật Bản mang tinh chất khí hậu đại dương.
Tuy nhiên phần lớn đất đai nước này lại nằm trong vùng khí hậu ôn hoa, thích hợp cho cây cỏ và đời sống con người. Ở Nhật Bản, rừng núi chiếm 2⁄3 diện tích đất nước, các triển núi thường có độ dốc cao và được bao bọc bởi cây cối um tùm. Các đảo của Nhật Bản là một phần của dãy núi chạy đài từ Đông Nam A tới Alaska. Điều này tạo cho nước Nhật có một bờ biển dài (gần 30.000 km), nhiều đá vôi, nhiều hải cảng nhỏ nhưng tuyệt vời, thuận lợi cho việc giao thông trên biển.
Ở Nhật Bản có hơn 532 ngọn núi cao trên 2000 mét, trong đó cao nhất là ngọn Phú Sỹ (Fuji), tới 3. Với hình nón hùng vĩ và trang trọng, Phú Sỹ là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ văn của người Nhật và cũng là hình ảnh tượng trưng cho cảnh quan thiên nhiên Nhật Bản: đẹp, nhưng đữ dội và khắc nghiệt [50,9]. Trong tổng diện tích Nhật Bản, đất đai trồng trọt chỉ chiếm 15% nhưng nền kinh tế nông nghiệp vẫn có vai trò đặc biệt trong đời sống cư dân, phổ biến nhất vẫn là nghề trồng lúa. Do ở Nhật Bản cơm gạo thường (202/0 : G8.
Trink Ciếm Thugn Il Trang Khéa Lagu “Tất Ughi¢p SOTH : Bai Thi Thu Suong tượng trưng cho nữ tinh, cho lòng mến khách, sự bình an và niềm hy vọng. nên cây lúa được ưu tiên trồng cấy hơn các loại cây lương thực khác. Nước Nhật có rất ít tài nguyên thiên nhiên, ngoài đá vôi và Sunfua, hầu hết các tài nguyên chiến lược cần cho công nghiệp hiện đại và đời sống hằng ngày đều phải nhập từ bên ngoài. Đó là một nhược điểm tự nhiên căn bản không thể khác được của Nhật Bản từ trước tới nay.
Không phải ngẫu nhiên mà ta thấy ở Nhật Bản nhiều vật dụng tư liệu sinh hoạt trong đời sống được làm bằng các vật liệu như gỗ, tre, nứa,. đó còn là những vật liệu phổ biến được dùng trong mỹ nghệ. Ngoài việc khan hiếm nguồn tài nguyên nhiên liệu, Nhật cũng thường xuyên bi đe doa bởi núi lửa, động đất va các thảm hoa thiên nhiên khác,. Chính những điều đó đã góp phần không nhỏ vào việc hun đúc các phẩm chất dan tộc như: lòng đũng cảm, tính kiên cường, ý thức tự chủ và tài khéo léo cũng như khả năng thích nghi trong mọi hoàn cảnh của người Nhật.
Và “chẳng có gì là lạ khi thiên nhiên gợi trong lòng người Nhật cái cảm giác vừa tuyệt vọng vừa tôn sùng” [33,8]. Về mặt văn hoá, Nhật Bản được coi là con đẻ của nén văn minh Trung Hoa. Tuy nhiên do vị trí biệt lập của mình mà văn minh Trung Hoa khi du nhập vào Nhật Bản đã được phát triển theo những khuynh hướng mới mẻ và độc đáo, mang những sắc thái rất riêng của chính din tộc Nhat. Sau Phục Hưng Minh Trị (1868) các yếu tố văn hoá phương Tây cũng nhanh chóng du nhập vào Nhật Bản và mặc dù phát triển rất mạnh mẽ nó cũng không thể nào làm lu mờ các yếu tố văn hoá truyền thống.
Sự tổn tại song song các yếu tố văn hoá truyền thống và hiện đại cũng là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của Nhật Bản. Lịch sử của Nhật Bản đã trải qua không ít những thăng tram, biến động và ngày càng vươn tới sự phát triển cao nhất. Tuy nhiên, con người Nhật Bản dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ được tính cách đặc trưng của họ, đó là tính ham học hỏi, sự say mê tìm tòi, sáng tạo, nhạy cắm với cái mới, suy nghĩ và làm việc có mục tiêu nhất định, tôn trọng thứ (92/0 : G8. Teink Jilin Thugn Trang 12 %Xkáa Lugn Fét UAghiép SOTH : Bit Thi Thu Seong bậc và địa vi, óc thẩm mf tỉnh tế, tính cộng đồng sâu sắc.
Đó cũng chính là nên ting cơ bản nhất dẫn nước Nhật đi đến thành công. Nhật Bản - thời kỳ phục hồi kinh tế sau chiến tranh (1945 - 1951). Đây là thời kỳ nước Nhật vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Do bại trận, Nhật hầu như trắng tay và bị lực lượng Đồng minh chiếm đóng.
Gạt qua một bên những đau đớn và tủi nhục, nhân dân Nhật Bản đã hợp tác với quân chiếm đóng để khôi phục và kiến thiết lại nền kinh tế — xã hội, bước đầu xây dựng cơ sở cho một nền kinh tế sau chiến tranh.Thực trạng kinh tế — xã hội sau chiến tranh. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) kết thúc, các nước tham chiến dù thấng hay bại đều bị tổn thất nặng nể. Riêng Nhật Bản sự tàn pha in dấu ấn lên tất cả mọi mặt của nền kinh tế - xã hội. Trước hết là sự thiệt hại khủng khiếp về nhân lực, cuộc chiến này đã làm cho 2,53 triệu người chết, bị thương và mất tích, nếu tính cả số người Nhật ở nước ngoài thì phải tới gần 3 triệu người [36,84].
Thiệt hại vật chất cũng vô cùng to lớn. Theo điều tra của Cơ quan Ổn định kinh tế sau chiến tranh của Nhật thi 80% tàu bè, 34% máy móc trong công nghiệp bị phá huỷ, 21% nhà cửa và tài sản riêng của gia đình bị thiệt hại. Tài sản quốc gia bị tổn thất tới 25% so với thời kỳ trước chiến tranh (1934 - 1936). Riêng ở Tôkyô 56% nhà cửa bị đốt cháy.
Trong số 1,38 triệu ngôi nhà trước chiến tranh đến năm 1945 chỉ còn 0,65 triệu. Tổng thiệt hại vật chất lên tới 64,3 tỉ yên, bằng hai lần tổng thu nhập quốc dân nam 1948 — 1949. Như vậy, toàn bộ của cải tích luỹ được trong mười năm (1935 - 1945) đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Sản lượng công nghiệp năm 1946 chưa bằng 1/3 tổng sản lượng năm 1930 và chỉ bằng 1/7 mức sản lượng (092/7) : C18.
Trink Ciến Thugn Trang 13 Khéa Lugnu Fé °(giiệp SOTH : Bai “Thị Thu Seong năm 1941. Sản xuất công nghiệp gần như bi đình trệ sau chiến tranh. (Bảng 1-1) Bảng 1-1: Số của cải quốc gia bị thiệt hại (tỷ yên) Tổng | Giá trị Củacải Tỷ lệ | Của cải i quốc | phan | quốc gia vào không | gia vẫn | ram | nam 1935 bị phá | cònvào | tài | được tính ¡ | lúckết bị || theo giá trị |sản thúc tàn vào cuối chiến | phá | cuộc chiến | tranh tranh - Tổng giá trị tài sản quốc gia 64,3 | 253,1 | 1889 | 25 186.7 - Các toà nhà và các cơ sở kiến | trúc khác.8 Máy móc công nghiệp 80 | 233 | 154 | 34 8,5 - Tàu thuyén 714 | 91 L8 82 3,1 - Các cơ sở và thiết bị cung cấp điện và khí đốt 1,6 14,9 13,3 II 9,0 - Đồ gỗ và dé dùng gia đình 9,6 46,4 36,9 2) 39,3 Các mặt hàng sản xuất 19 33.